Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chính sách tín dụng của Ngân hàng

Chính sách tín dụng của Ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2009-2013 đã giảm đáng kể,đạt cao nhất vào năm

2009. Thị trường đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng thấp nhất kể từ

thập niên 90’. Tăng trưởng tín dụng năm 2012 chỉ đạt 9,14%. Năm 2013, tăng trưởng tín

dụng chỉ đạt 6,87%, thấp hơn nhiêu chỉ tiêu 12% của NHNN đặt ra, và chậm hơn nhiều so

với sự tăng trưởng huy động.

Năm 2009, tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam tăng trưởng nóng, mức tăng trưởng tín

dụng lên tới 38% trong khi con số này năm 2008 chỉ là 25%, dù vậy tăng trưởng tín dụng

năm 2009 vẫn trong xu thế đi lên .Yếu tố chính làm nên tăng trưởng tín dụng năm 2009

chính là chính sách nới lỏng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, cùng lúc đó chính phủ đưa

ra biện pháp kích thích tài khóa khiến nhu cầu đối với các khoản vay tăng cao, tăng trưởng

GDP năm 2009 được hỗ trợ. Phần lớn tiền được cho vay với lãi suất thấp theo chương

trình hỗ trợ lãi suất của chính phủ. Tổng giá trị các khoản vay mới năm 2009 đạt 505

nghìn tỷ đồng tương đương 28 tỷ USD, 89% trong số này là khoản vay được hỗ trợ lãi

suất.

Từ năm 2010-2013 tỷ lệ tăng trưởng tín dụng giảm.nhà nước thắt chặt tỉ lệ tăng trưởng tín

dụng,chính sách tín dụng trong trường hợp cần thắt chặt thì vẫn phải bảo đảm để các DN

chủ đạo trong nền kinh tế nắm giữ đủ lượng tiền mặt để tránh các tác động tiêu cực từ thắt

chặt tín dụng. Đây là một trong quan điểm xuyên suốt của NHNN trong việc điều hành

chính sách tiền tệ. Kiểm chứng lại danh mục tín dụng đối với nền kinh tế và danh mục đầu

tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu DN của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể thấy đây

là điểm nổi bật và đáng mừng nhất là tổng dư nợ cho vay và đầu tư đối với nền kinh tế

ln duy trì được tỷ trọng cho vay kinh tế thực (sản xuất kinh doanh) chiếm trên 92,6%,

đầu tư cho sản phẩm tài chính 7,4%; trong đó dư nợ ngoại tệ giảm 1,56%, rất đúng yêu cầu

chống đơ la hóa trong nền kinh tế.

Như vậy, tín dụng cho nền kinh tế tuy tăng trưởng chậm lại, song là sự điều chỉnh cần

thiết và là đáng mừng trong quá trình diễn ra của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, một

trong ba trụ cột của tái cấu trúc nền kinh tế.



2. Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành

trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an tồn vốn tín dụng.Trong quy trình tín

dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng . Bao gồm 3 giai đoạn: khai thác và tìm kiếm

khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích

thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều

vào chất lượng cơng tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng

ngân hàng thương mại.

Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản

tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần

thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình

thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng,

nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng.

Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng. Sự nhạy bén của

ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng

cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được

những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng.

Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là cơng tác thu thập thơng tin. Thơng tin

tín dụng càng nhanh, càng chính xác và tồn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng

càng tốt.

Tỉ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2009 – 2013 có xu hướng tăng nhanh,Đến cuối năm 2009

tỷ lệ nợ xấu là 2,6% và 2010 khoảng 3% tổng dư nợ tín dụng nên vẫn nằm trong tỷ lệ an

toàn cho phép của NHNN. Năm 2011,nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 3,6 - 3,8%

tổng dư nợ. Con số này tới cuối năm 2012, theo công bố của NHNN là 4,08 %, cho dù

theo các tổ chức đánh giá độc lập thì con số thực tế cao hơn nhiều. Bước sang năm 2013,

tỷ lệ nợ xấu vẫn tiếp tục tăng cao, chạm mức 4,67% vào giữa năm 2013,về cuối năm 2013,

tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là 3,79% - giảm gần 1% so với hồi đầu

năm 2013. Việc tỉ lệ nợ xấu tăng cao trong giai đoạn này do những hạn chế trong công tác

quản trị, thẩm định, giám sát sử dụng vốn vay của ngân hàng. Nhìn chung, nguyên nhân sự

gia tăng tỉ lệ nợ xấu do áp lực cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước từ các ngân hàng



thương mại có vốn nhà nước chi phối cao. Cho đến nay, ngân hàng thương mại vẫn là

người cho vay lớn nhất đối với doanh nghiệp nhà nước vì các lý do khác nhau. Do vậy,

nhiều dự án kém hiệu quả cũng như một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động yếu kém

vẫn được vay vốn. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn khơng được kiểm sốt một cách

chặt chẽ gây lãng phí lớn nguồn vốn vay. Trong bối cảnh chu kỳ kinh tế biến động bất

thường, hậu quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp, dự án khơng đủ khả năng để trả nợ, góp

phần gia tăng nợ xấu trong khu vực này.

3. Công tác tổ chức ngân hàng

Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hố và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ

sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định.Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ

đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng

với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan liên quan khác. Qua đó sẽ tạo điều

kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín

dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất

lượng tín dụng.

Tính đến cuối năm 2013 tỉ lệ nợ xấu có dấu hiệu giảm dần về mức 3.67% . Nhìn chung

giai đoạn 2009-2013 vẫn giữ ở mức dưới 5%,chất lượng tín dụng được đánh giá là khá tốt

so với chuẩn mực kế toán chung. Nguyên nhân do hoạt động quản trị của các NHTM phát

triển tương xứng với quy mô hoạt động ngày càng mang tính chun nghiệp. Các NHTM

đã xây dựng quy mơ tổ chức chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu năng lực quản trị theo hướng

lành mạnh hóa và kiểm sốt rủi ro.

Tuy nhên, giai đoạn này có sự tiềm tàng vì tỉ lệ rủi ro,với nhiều ngân hàng thương mại,

nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tới 70% - 80% tổng nguồn, thậm chí đối với một số

ngân hàng, tỷ trọng này còn cao hơn, trong khi tỷ trọng cho vay trung hạn và dài hạn

không nhỏ. Với độ vênh lớn về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ, thì vấn đề thiếu thanh

khoản, tiềm ẩn rủi ro thanh toán là lớn. Mặt khác, do áp lực tăng tổng tài sản, nhiều ngân

hàng bằng mọi cách để có vốn, cách mà các ngân hàng thương mại sử dụng chủ yếu là

dùng lãi suất huy động cao, tất yếu lãi suất cho vay cũng rất cao. Lãi suất cho vay càng

cao, thì rủi ro càng cao.



4. Phẩm chất và trình độ cán bộ

Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực được phát triển rất sôi động về cơ cấu, số

lượng, chất lượng do nhu cầu mở rộng nhanh mạng lưới kinh doanh. Sự phát triển quá

nhanh của các tổ chức tín dụng dẫn đến nguồn nhân lực có chất lượng cao, có đạo đức

nghề nghiệp thiếu, khơng đáp ứng được nhu cầu trong khi các công tác tuyển dụng, đào

tạo lại chưa được coi trọng nên rủi ro tác nghiệp và đạo đức gia tăng. Theo nghiên cứu của

Trường ĐH Tài chính- Marketing thực hiện vào tháng 5/2012 cho thấy, có khoảng 70%

nhân viên của ngân hàng đáp ứng được u cầu của cơng việc, 30% còn lại phải tiếp tục

đào tạo. Riêng đối với chi nhánh mới, nhất là ở tỉnh chỉ có 50% nhân viên đáp ứng được

u cầu cơng việc.

Ngồi ra khoảng 20-30% nhân viên tín dụng chưa nắm rõ các quy trình nghiệp vụ, yếu

về kiến thức pháp lý trong hồ sơ tín dụng, phân tích tài chính, quản lý và xử lý nợ; 50-60%

nhân viên yếu kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, bán chéo sản phẩm, tổ chức công việc.

Mặt khác, đa số các quản lý trung và cao cấp tại các ngân hàng thương mại chủ yếu

được đề bạt qua hoạt động chuyên môn, thiếu kiến thức về quản lý, điều hành một chi

nhánh, một ngân hàng hiện đại, nên đôi khi chỉ một sơ suất nhỏ trong hoạt đọng quản lý

cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ngân hàng.

5. Thực trạng hệ thống KSNB của ngân hàng thương mại

 Thực trạng về mơi trường kiểm sốt:

Các yếu tố của mơi trường kiểm sốt có chỉ số trung bình rất thấp cho thấy chất lượng

mơi trường kiểm sốt trong các NHTM hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập:

Hầu hết các NHTM chưa chú trọng đến việc quy định, truyền thơng về tính chính

trực và các giá trị đạo đức;

- Ban Quản trị chưa thực sự quan tâm tới việc duy trì và phát triển KSNB trong ngân

hàng;

- Khơng phải lúc nào Ban Giám đốc cũng thận trọng trong việc xây dựng các ước

tính kế tốn như trong việc phân loại nợ, trích lập dự phòng.

 Thực trạng về quy trình đánh giá rủi ro

-



Mặc dù NHTM đã xây dựng những văn bản trong việc đánh giá rủi ro. Tuy nhiên,

NHTM chưa thực sự chủ động vào việc nhận diện rủi ro, thường tập trung vào việc

phát hiện và giảm thiểu rủi ro.

 Thực trạng về hệ thống thông tin và trao đổi thông tin



Thực trạng về hệ thống thông tin và trao đổi thông tin: Hiện nay trong các NHTM,

với đặc điểm quy mô lớn, cơ cấu tổ chức bao gồm nhiều chi nhánh, phòng giao dịch

thì việc thiết lập các kênh thơng tin hiện nay còn nhiều hạn chế. Trong một NHTM

thì thơng tin chủ yếu diễn ra theo một chiều từ trên xuống dưới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chính sách tín dụng của Ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×