Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Vốn tự có và các điều kiện nội lực ngân hàng

II. Vốn tự có và các điều kiện nội lực ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



NHÓM CẬN



Đơn



vị



Ngân hàng



Quốc gia



1. Citi Bank



USA



Tỷ USD



2. Bank of Canada



Canada



Triệu USD 435



USA



nghìn USD 232.685.000



3.Bank



of



American



Corporation



tính



Vốn chủ sở hữu

206



4. HSBC



Việt Nam Triệu VND 6.623.643



5. Mizuho



Nhật Bản Triệu JPY



84.905



(Nguồn Báo cáo tài chính các ngân hàng năm 2013)



2.2. Nguồn lực bên trong:

2.2.1. Quy mô và chất lượng tài sản

Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của

NHTM. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài

chính, năng lực quản lý của một NHTM. Đánh giá qui mô, chất lượng tài sản được thể

hiện qua các chỉ tiêu: tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay..

Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam bình quân trong thời kỳ 2009-2013

là 16,7%. Trong đó nhóm NHTM nhà nước có mức tăng trưởng tài sản cao hơn nhóm

NHTM cổ phần. Cụ thể Vietinbank có mức tăng trưởng tài sản cao nhất là 24,4%, tiếp

theo là Techcombank 21.6%. NGân hàng ACB là ngân hàng có mức tăng tài sản bình

qn thấp nhất chiếm 9.7%.

Tỷ lệ cho vay của ngân hàng phản ánh việc sử dụng tài sản để đầu tư cho vay của các

ngân hàng. Thực tế về cơ cấu tài sản, các khoản cho vay chiếm phần nhiều trong tổng tài

sản của ngân hàng. Dựa trên bảng số liệu trên, tỷ lệ cho vay cho vay của các ngân hàng

đều ở mức tăng trưởng nhẹ, tương đối ổn định qua các năm, phản ánh hoạt động kinh

doanh duy trì ở mức ổn định, bất chấp cả khủng hoảng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, qua

số liệu cho thấy dư

7 nợ tín dụng trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

đều vượt khung an toàn Camel đưa ra là <= 60%. Chỉ có Techcombank thuộc nhóm các

NHTMCP có đảm bảo tỷ lệ an toàn.

Bảng 2.2 Tỷ lệ cho vay của các NHTM Việt Nam



8



NHĨM CẬN



Đơn vị tính :%

STT Ngân hàng



2009



2010 2011



2012



2013



1



Agribank



75.70 79.02 77.75% 78.38% 78.06%



2



Vietcombank



54.00 55.70 64.70% 58.19% 59.01%



3



BIDV



77.67 80.23 82.98% 74.62% 72.68%



4



Vietinbank



66.94 64.11 63.81% 72.71% 67.08%



5



ACB



58.71 42.16 36.23% 58.41% 64.55%



(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam thời kỳ 2009-2013)

2.2.2. Khả năng sinh lời:

Khả năng sinh lời là chỉ báo quan trọng về sựu tồn tại và phát triển bền vững của ngân

hàng. Nghiên cứu sử dụng phân tích mơ hình hồi quy nhằm nhận diện các yếu tố bên

trong ảnh hưởng đến ROA và ROE của các ngân hàng thương mại VN giai đoạn 20062015. Kết quả cho thấy, cho vay trên tổng tài sản, dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay,

chi phí trả lãi trên nợ phải trả và thu nhập phi lãi trên tài sản ảnh hưởng cùng chiều với

khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong khi đó, nợ xấu, chi phí hoạt động trên thu nhập và

quy mô hội đồng thành viên có tương quan nghịch với khả năng sinh lời. Nghiên cứu

chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về ảnh hưởng của các biến đại diện cho

quản trị rủi ro thanh khoản, cấu trúc nguồn vốn, kiểm sốt chi phí và quy mơ.

Bảng 2.3 Lợi nhuận sau thuế của các NHTM Việt Nam

Đơn vị tính: triệu đồng

STT



Ngân hàng



2009



1



Agribank



182,968 1,300,237



8



2010



2011



2012



2013



3,633,593



2,565,000



2,303,000



4,217,332



4,427,206



4,371,270



3,944,7

2



Vietcombank



53



4,235,792



9



NHĨM CẬN



2,817,5

3



BIDV



01



3,760,715



3,199,608



3,318,863



4,065,079



3,405,478



6,243,795



6,151,545



5,794,236



2,334,794



3,207,841



784,040



824,458



2,072,755



3,153,766



765,686



659,000



1,284,2

4



Vietinbank



83

2,201,2



5



ACB



04

1,700,1



6



Techcombank



69

12,130,



Cộng



878



17,109,771 23,655,935 18,012,340 18,017,043

(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM VIệt Nam)



Phân tích ROE trung bình của các NHTM Việt Nam có thể thấy: Năm 2009 ROE ở mức

khá cao, khoảng 18,64%; năm 2010 18,04 và năm 2011 tăng vọt 20,32% nhưng sang năm

2012 và 2013 giảm xuống chỉ còn là 10,3 và 8,35. Việc giảm sút này do nhiều nguyên

nhân như hiệu quả hoạt động yếu (dù chênh lệch giữa lãi suất đầu vào đầu ra có xu hướng

giãn ra, có lợi cho các NHTM); tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng tăng đã khiến tỷ lệ trích

lập dự phòng rủi ro của các NHTM thấp so với yêu cầu của NHNN. Bên cạnh đó các

NHTM Việt Nam mở rộng quá mức mạng lưới chi nhánh với hy vọng tốc độ tăng tài sản

sẽ nhanh như những năm trước. Nhưng năm nay do hạn chế tăng trưởng tín dụng và cạnh

tranh huy động vốn gay gắt, đã khiến hoạt động một số chi nhánh ngân hàng khơng có

hiệu quả.



Dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay làm tăng ROA là ngược lại với dự kiến ban đầu.

Tỷ số này phụ thuộc vào việc xét đoán, lựa chọn chính sách kế tốn về lập dự phòng rủi

ro tín dụng trong NHTM.

9



10



NHĨM CẬN



III. Mơi trường kinh tế xã hội trong nước



1.



Mơi trường tự nhiên

Nói chung mơi trường tự nhiên không tác động trực tiếp tới hoạt động tín dụng của



ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mà hoạt động của chúng phụ thuộc nhiều

vào điều kiện tự nhiên như các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nông nghiệp,

ngư nghiệp. Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bất lợi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân

hàng.

2. Môi trường kinh tế



Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng như

doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này. Sự biến động của nền kinh tế

theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng và doanh

nghiệp biến động theo. Đặc biệt, trong điều kiện quốc tế hóa mạnh mẽ như hiện nay, hoạt

động của các ngân hàng và doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh

tế trong nước mà cả môi trường kinh tế quốc tế. Những tác động do mơi trường kinh tế

gây ra có thể là trực tiếp đối với ngân hàng hoặc tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng.

Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008, Việt Nam chìm trong vòng

xốy tăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong

nước giảm. Cả giai đoạn này, tăng GDP luôn thấp hơn 7% và ngày càng đi xuống, đến

năm 2012 chỉ còn 5,03%, chưa bằng hai phần ba so với mức trước khi khủng hoảng.

Chính phủ đã tung ra gói kích cầu một một tỷ USD vào năm 2009 nhưng do những yếu

10 tế chưa thể bứt lên. "Việt Nam chưa thể thoát khỏi khủng hoảng với

kém nội tại, nền kinh



mức tăng trưởng thấp như trên". Năm 2013 là năm của kế hoạch 5 năm (2011 - 2015)



11



NHÓM CẬN



nhưng tăng trưởng GDP có thể chỉ đạt 5,2 - 5,3%, điều này sẽ dồn gánh nặng cho những

năm tới nhằm đạt mục tiêu 7 - 7,5%.

3.



Mơi trường chính trị, xã hội

Sự ổn định của mơi trường chính trị, xã hội là một căn cứ quan trọng để ra quyết



định của các nhà đầu tư. Nếu mơi trường này ổn định thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm thực

hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng trung và dài hạn tăng

lên. Ngược lại nếu mơi trường bất ổn thì họ sẽ tìm cách thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn,

hạn chế rủi ro khi đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng.

4.



Mơi trường pháp lý



Môi trường pháp lý không chặt chẽ nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hội cho các doanh

nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo ngân hàng. Môi trường

pháp lý không chặt chẽ và thiếu sự ổn định cũng khiến các nhà đầu tư trung thực e dè,

không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh do đó hạn chế nhu cầu về vốn

tín dụng ngân hàng.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,

Luật các TCTD và luật sửa đổi cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập cản trở sự phát triển

của hệ thống tổ chức tín dụng cần được sửa đổi. Cụ thể: Theo thời gian cùng với công

cuộc đổi mới, phát triển kinh tế đất nước theo xu hướng “công nghiệp hóa , hiện đại hóa

đất nước”. Cùng với sự phát triển không ngừng về số lượng: các ngân hàng, dịch vụ ngân

hàng, mạng lưới giao dịch, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm không những về số

lượng mà cả chất lượng. Những bất cập trong Luật TCTD 1997 làm cản trở sự phát triển

và hoạt động kinh doanh của cac TCTD, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, thanh tra, giám

sát an toàn của NHNN đối với hệ thống TCTD .Hơn cả trong điều kiện Việt Nam gia

nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)-một môi trường cạnh tranh khốc liệt khi mà

11



“vòng” bảo hộ cho ngân hàng thương mại trong nước khơng còn. Vì vậy, để các hệ thống

ngân hàng thương mại Việt Nam đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong

giai đoạn hội nhập thì cần phải phát triển dịch vụ cả về số lượng lẫn chất lượng Và phát



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Vốn tự có và các điều kiện nội lực ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x