Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TRONG NƯỚC

III. MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TRONG NƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

19/6/2009, kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khoá XII đã ra Nghị quyết số 32/2009/QH12 điều chỉnh

mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 là “Tập trung cao độ

mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý,

bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mơ; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại, bảo đảm an

sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an tồn xã hội, trong đó,

mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế”.

Gói kích cầu hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ gia đình được thực hiện với nhiều giải

pháp thích ứng như giảm lãi suất cơ bản, hỗ trợ lãi suất vay vốn lưu động 4%/năm, bão

lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giãn thời gian nộp thuế...Nhờ sự lãnh đạo,

chỉ đạo quyết liệt của chính phủ, sự nỗ lực cố gắng của bộ, ngành, địa phương , các cơ sở

sản xuất và doanh nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lí.

Năm 2010, trong bối cảnh kinh tế Châu Âu đang từng bước phục hồi sau những

khủng hoảng về nợ công tại một số quốc gia, việc phục hồi của nền kinh tế Mỹ gặp nhiều

khó khăn...vấn dề này ảnh hưởng đén tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở VN dẫn đến ngân

hàng thương mại chịu ảnh hưởng khơng ít.

Các ngân hàng thương mại ở VN có nguy cơ vỡ nợ dây chuyền do dính vào tín

dụng đen bất động sản và q trình tích tụ đó xuất phát từ khoảng giữa năm 2010

Trong nền kinh tế chuyển đổi, đang phát triển như VN, tổ chức tín dụng vẫn là kênh dẫn

vốn chính cho nền kinh tế, nên diễn biến chỉ số kinh tế vĩ mơ có ảnh hưởng sâu sắc đến

hoạt động kinh doanh ngân hàng và ngược lại.

Xuất phát từ thực tiễn, cuối năm 2010 tình trạng khu vực ngân hàng VN tiềm ẩn

nhiều rủi ro hệ thống, có thể làm nhân tố kích hoạt cho sự đỗ vợ kinh tế; lãi suất cho vay

tăng cao lên đến 20% và kéo dài từ 2009-2011; thanh khoản của hệ thống ngân hàng

thương mại gặp khó khăn,lãi suất cho vay liên ngân hàng lên đến 30%-40%; nợ xấu tăng

nhanh; hiệu quả và lợi nhuận giảm sút.

Chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng Việt Nam năm 2012 bị chi phối bởi

những mục tiêu và sức ép chính trị-xã hội trái ngược nhau. Một mặt phải thắt chặt hơn

chính sách tiền tệ để kéo lạm phát xuống một con số, giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng

nóng; bảo đảm thanh khoản cho cả hệ thống và ngăn chặn đổ vỡ của một số ngân hàng yếu

kém; xử lý nợ xấu cao và ngày một tăng nhanh để tạo điều kiện cơ cấu lại toàn diện hệ

8



thống ngân hàng. Mặt khác phải bơm thêm vốn tín dụng với lãi suất hợp lý, để giảm bớt

tình trạng khó khăn tài chính, đình đốn hoạt động của nhiều doanh nghiệp, bảo đảm tăng

trưởng hợp lý, hạn chế thất nghiệp và khó khăn đời sống của dân cư

Trong thực tế và xét trên nhiều phương diện thì Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng

những giải pháp mà chiều hướng chung là nới lỏng tiền tệ-tín dụng hơn là thắt chặt.

Việc phân bổ hạn mức tín dụng được ấn định, và có sự phân biệt theo 4 nhóm ngân

hàng tùy theo sức khỏe: 17%, 12%; 8% và 0% để tạo mức tăng dư nợ hợp lý (dự kiến

khoảng 15-17 % cả năm), đồng thời không để những ngân hàng quản trị kém, tài chính

khơng lành mạnh vẫn tăng trưởng bất chấp rủi ro và gây tác động xấu đến cả hệ thống.

Song do dòng vốn tín dụng vẫn chảy vào sản xuất kinh doanh chậm hơn nhiều so với

mong muốn, nên Ngân hàng Nhà nước đã tăng thêm hạn mức tín dụng cho những ngân

hàng có nhu cầu; bỏ các hạn chế cho vay đối với một số lĩnh vực được gọi là “phi sản

xuất”; quy định các biện pháp khuyến khích tín dụng ưu tiên cho một số lĩnh vực như

nông nghiệp- nông thôn; xuất khẩu; doanh nghiệp nhỏ và vừa, v.v. Tuy nhiên mức tăng

tổng dự nợ của cả hệ thống năm 2012 chỉ đạt 8,91%, thấp xa so với dự kiến và với mức

trung bình của nhiều năm.

Trần lãi suất huy động vẫn được áp đặt, tuy chỉ với các khoản vốn có kỳ hạn dưới

một năm. Huy động và cho vay với kỳ hạn dài hơn được trở lại cơ chế thỏa thuận, mở ra

một lối đi đỡ chật hẹp hơn cho hoạt động ngân hàng. Đồng thời, kể từ giữa tháng 3. Ngân

hàng Nhà nước đã liên tục hạ trần lãi suất huy động và tương ứng là các lãi suất điều hành

(tái cấp vốn, tái chiết khấu, v.v.) với mức độ cao và tốc độ nhanh chưa từng có so với các

ngân hàng trung ương khác. Đến cuối năm 2012, lãi suất huy động đã được điều chỉnh

giảm 6 lần, từ 14% xuống 8%/năm. Mặc dù vậy, vốn huy động cả hệ thống vẫn tăng mạnh,

tăng gần 24% nhưng tăng trưởng dư nợ vẫn thấp và thanh khoản hệ thống tuy được cải

thiện nhưng vẫn chưa vững chắc. Hiện tượng xé rào vượt trần huy động vẫn xảy ra; lãi

suất cho vay vẫn chưa giảm về mức hợp lý nếu so với trần lãi suất huy động và mức lạm

phát thực tế. Thị trường liên ngân hàng bị thu hẹp đáng kể, một phần do có những qui định

mới giới hạn hoạt động; một phần khác là do mất sự tín nhiệm vốn có giữa các ngân hàng.

Đã có một nghịch lý là khơng ít ngân hàng thừa vốn, phải cạnh tranh cho vay khách hàng

tốt với lãi suất rất thấp hoặc/và đầu tư vào trái phiếu chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà

nước, mà vốn vẫn ứ đọng, hạn mức tín dụng khơng sử dụng hết. Ngược lại vẫn còn những

9



ngân hàng khó khăn thanh khoản; phải “xé rào” để huy động vốn lãi suất cao hơn qui định.

Nhiều khách hàng cần vốn không tiếp cận được nguồn tín dụng, hoặc với lãi suất cao hơn,

điều kiện khắt khe hơn.

Nợ xấu lớn, vượt ngưỡng an toàn và tăng nhanh là nguyên nhân chính gây nên

những nghịch lý và khó khăn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. Theo con số chính

thức của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu đã lên đến 8,82% vào cuối 2012; nhưng thiếu một

sự nhìn nhận đúng đắn, đồng thuận xã hội và quyết tâm chính trị đủ mạnh để xử lý kịp

thời và có hiệu quả vấn đề này. Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại đã có

những cố gắng không thể phủ nhận, nhưng chưa thật quyết liệt và chưa nhận được hỗ trợ

cần thiết từ nhiều phía hữu quan. Việc ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày

23/4/2012 về việc phân loại nợ đối với nợ được được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ,

Ngân hàng Nhà nước góp phần giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp trong tiếp cận với

ngân hàng, nhưng không làm giảm nợ xấu thực tế. Việc thành lập công ty mua bán nợ tập

trung vẫn chưa thực hiện và nếu có cũng chỉ hoạt động được vào quý II/2013.



Ngân hàng Nhà nước đã huy động nhiều phương tiện, áp dụng nhiều giải pháp để

buộc các tổ chức tín dụng một mặt phải nỗ lực bơm vốn cho nền kinh tế vớilãi suất ngày

càng thấp hơn; mặt khác phải lành mạnh tài chính, tăng trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ

xấu; giảm lợi nhuận, tiền thưởng và các chi tiêu khác.

Thị trường ngoại tệ và tỷ giá hối đối đã có một năm rất ổn định. Tỷ giá hối đối

chính thức được giữ cố định ở mức 20.823 VND/USD trong suốt 2012. Tỷ giá giao dịch

thực tế cũng như tỷ giá trên thị trường chợ đen đều nằm trong biên độ 1% cho phép; sức

ép giảm giá VND chưa xuất hiện. Ngân hàng Nhà nước đã mua thêm một lượng lớn ngoại

tệ, tăng dự trữ ngoại hối đến mức xấp xỉ 12 tuần nhập khẩu theo chuẩn an toàn tối thiểu.

Tuy nhiên cũng cần thấy rằng chênh lệch lớn giữa lãi suất trong nước và lãi suất quốc tế,

giữa lãi suất VND và lãi suất USD đóng vai trò khơng nhỏ trong hiện tượng này và sẽ là

một rủi ro về ngoại hối cần tính đến khi tình hình thay đổi.

Các quy định về chấm dứt huy động và cho vay bằng vàng, quản lý chặt chẽ việc

sản xuất và lưu thơng vàng miếng, và đóng trạng thái vàng (lúc đầu là trước 25/12/2012,

sau đó gia hạn đến 30/6/2013) đem lại một số kết quả tích cực nhất định song đã tạo thêm

nhiều khó khăn cho các tổ chức tín dụng. Triển vọng tới đây sẽ sử dụng nguồn tài sản bằng

10



vàng trong xã hội như thế nào cho hiệu quả vẫn chưa rõ. Việc cấm huy động vàng đối với

tổ chức tín dụng có thể làm giảm bớt một số rủi ro tài chính, nhưng lại làm mất đi một

nguồn vốn lãi suất thấp.

Đến 31/12/2012, tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam tăng 2,54%; vốn tự

có tăng 8,97% (riêng vốn điều lệ tăng 11,24%); lợi nhuận giảm 50%; hệ số ROA là 0,79%,

giảm 0,46% so với 2011; hệ số ROE là 10,34%, giảm hơn 4% so với 2011.

Có thể nhận xét rằng năm 2012 là một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế Việt

Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Vượt qua được sóng gió đó để bước vào

năm 2013, với những kỳ vọng tốt đẹp hơn, sẽ là một thành công.

 Môi trường pháp lý:

Ngay từ cuối năm 2008 và đầu năm 2009, Chính phủ đã có Nghị quyết số

30/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 với nhiệm vụ trọng tâm, cấp bbaschlaf tập trung mọi nỗ

lực để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất

khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.

Trong quý I/2011, NHNN đã điểu chỉnh giảm dự trữ bắt buộc tiền gửi bằng ngoại

tệ, điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các

đơn vị tổ chức tín dụng và nền kinh tế, giữ ổn định mức lãi suất cơ bản, tái cấp vốn, tái

chiết khấu, áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn bằng

VND, điều chỉnh tỷ giá tăng cho phù hợp cung cầu thị trường và điều tiết kinh tế vĩ mô.

Thông tư số 07/2010/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước vào ngày 26/2/2010 và

thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 cho phép các ngân hàng thương mại thực

hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn cũng như ngắn hạn và có

thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần. Sự thơng

thống về lãi suất này đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng cùng vốn cho các doanh nghiệp

với mục đích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.

Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành danh mục vốn pháp

định của các tổ chức tín dụng thì mức vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại

cổ phần vào ngày 31/12/2008 ít nhất phải đạt 1000 tỷ đồng, từ năm 2010 vốn điều lệ tối

thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3000 tỷ đồng để đảm bảo cho các ngân hàng thương

mại có đủ năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới.

11



IV.



XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

Hội nhập kinh tế thế giới là tất yếu khách quan và trở thành xu thế không thể nào



đảo ngược của bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam cũng khơng nằm ngồi xu thế đó, chủ động

tham gia vào q trình tồn cầu hố và hội nhập sẽ giúp Việt Nam vươn lên, theo kịp các

nước trong khu vực và các nước phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và tăng tốc độ

lưu thông các yếu tố sản xuất, bổ sung vốn, kỹ thuật, tận dụng ưu thế của các nước đi sau,

thực hiện phát triển ngành nghề mới, tiến bộ công nghệ, đổi mới quản lý và phát triển toàn

bộ nền kinh tế.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cũng khơng nằm ngồi cuộc. Việc đẩy

mạnh hội nhập quốc tế về ngân hàng thương mại, xây dựng vững mạnh hệ thống ngân

hàng thương mại (NHTM) trở thành kênh dẫn nhập vốn cho nền kinh tế một cách tốt nhất.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, các NHTM không chỉ là nơi chuyển tải thông tin kinh tế

mà còn thực hiện vai trò quan trọng phân phối lại vốn đầu tư, thậm chí là nơi xuất phát

những thay đổi và những rối loạn về kinh tế vĩ mô. Nguồn vốn FDI, ODA sẽ bị sút giảm

khi một hệ thống tài chính thiếu lành mạnh. Sẽ gây ra sự lãng phí nguồn vốn, hiệu quả đầu

tư thấp khi phân bổ và sử dụng không hiệu quả các nguồn vốn, gây tác động tiêu cực đến

kinh tế quốc gia. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xuất phát từ những

nguyên nhân tiềm ẩn của một hệ thống ngân hàng yếu kém, mở rộng tín dụng q mức, nợ

khó đòi gia tăng.

1. Hội nhập quốc tế về NHTM có những tác động tích cực như sau:

 Một là, Ngân hàng Trung ương các nước phải thiết lập các quy chế quản lý, kinh

doanh sao cho phù hợp với quy tắc thơng lệ chung vì khi hội nhập quốc tế bắt buộc

phải thực hiện một luật chơi chung. Các ngân hàng thương mại muốn hoạt động tốt

trong điều kiện hội nhập thì mặc nhiên phải tuân thủ các quy chế này. Điều này làm

cho hoạt động ngân hàng dễ kiểm soát hơn và kiểm soát chặt chẽ hơn, nhưng cũng

sẽ thơng thống hơn do Ngân hàng Trung ương sẽ loại bỏ những can thiệp không

phù hợp với cơ chế thị trường.

 Hai là, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt và phức tạp khi hội nhập

quốc tế về tài chính ngân hàng thì các NHTM phải tự hoàn thiện và phát triển để

hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.

 Ba là, NHTM các nước đang phát triển có điều kiện tranh thủ nguồn lực tài chính

từ các ngân hàng nước ngồi để phát triển khi hội nhập vào hệ thống ngân hàng

12



quốc tế. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế về ngân hàng giúp NHTM trong nước tiếp

cận được thị trường mới, đồng thời nhờ tập trung vào lợi thế so sánh của mình,

NHTM trong nước có thể tăng hiệu quả kinh doanh.

 Bốn là, sự chuyển giao công nghệ sẽ diễn ra nếu có sự dịch chuyển lao động có tay

nghề cao trong lĩnh vực ngân hàng khi các ngân hàng nước ngồi hoạt động trên thị

trường nội địa. Trình độ quản lý khu vực ngân hàng được nâng cao thông qua sự

chuyển giao này, đặc biệt trong quản lỷ rủi ro ngân hàng, quản lý tín dụng và đối

với cơng cụ tài chính phái sinh, do các ngân hàng nước ngồi có nhiều kinh nghiệm

hơn nhiều trong khả năng định giá đối với các sản phẩm này.

 Năm là, hệ thống ngân hàng nội địa có cơ hội vươn lên chiếm lĩnh thị trường quốc

tế khi hội nhập quốc tế về ngân hàng.

2. Sức ép của hội nhập quốc tế về ngân hàng đối với các NHTM là khơng nhỏ, đó

là:

 Mở cửa và hội nhập hoạt động ngân hàng thương mại là chấp nhận tham gia vào

luật chơi chung bình đẳng áp dụng cho tất cả các nước. Trong điều kiện đó tình

trạng dịch chuyển thị phần huy động vốn và cho vay từ các ngân hàng thương mại

trong nước sang các ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ xảy ra. Các ngân hàng

nước ngồi có thể sẽ thu hút, giành được các khách hàng truyền thống, có độ tín

nhiệm cao từ tay các NHTM trong nước, bán buôn với các doanh nghiệp, khách

hàng tốt nhất và để lại cho các ngân hàng trong nước những khách hàng nhỏ, nhiều

rủi ro.

 Cùng với việc thu hút, giành được các khách hàng tốt, các ngân hàng nước ngoài

với những điều kiện về cơ sở vật chất, kinh nghiệm quản lý, sử dụng nguồn nhân

lực sẽ thu hút cả nguồn nhân lực có trình độ cao của các NHTM trong nước, đặc

biệt là các NHTMNN. Sự dịch chuyển nguồn nhân lực như vậy sẽ làm cho các

NHTM trong nước – vốn đã thiếu nguồn nhân lực có trình độ, lại càng thiếu hơn.

 Các nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép tham gia đầu tư góp vốn vào các ngân

hàng nội địa, từ đó sẽ tham gia vào q trình quản trị các ngân hàng, do đó khả

năng “bị thơn tính” của các ngân hàng nội địa sẽ có thể xảy ra nếu như các ngân

hàng này khơng có khả năng kiểm sốt tốt đối tác của mình cũng như khơng đủ vốn

để giữ được tỷ lệ ở mức kiểm soát. Ở mức độ cao hơn, quá trình thâm nhập này có

thể làm cho hoạt động tiền tệ ngân hàng khơng phát triển theo định hướng của Nhà

nước là phục vụ cho lợi ích của cộng đồng mà chuyển sang phục vụ cho mục đích

tối đa hóa lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài.

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TRONG NƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×