Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chiến lược kinh doanh.

Chiến lược kinh doanh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quy định trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và phải

đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những giao dịch lãi suất

lên tới mức 30-40%/năm kỳ hạn 1 tháng.

Khi NHNN chủ trương hạ lãi suất vào những tháng cuối năm 2011, lãi suất liên

ngân hàng đã hạ nhiệt nhờ NHNN bơm một lượng vốn đáng kể trên thị trường OMO.



 Trọng tâm hỗ trợ lãi suất

Ngân hàng đón chính sách hỗ trợ lãi suất hồ hởi, nhưng triển khai thận trọng. Đây

là chính sách chưa có trong tiền lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng tiếp cận

khách hàng và tăng trưởng tín dụng tốt hơn (lãi suất thấp, khả năng trả nợ của doanh

nghiệp tốt hơn). Ngược lại, vì chưa có tiền lệ, có nhiều thủ tục và vướng mắc trên thực tế

nên có sự thận trọng trong triển khai.

Tính đến ngày 17/12/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt 415.216,48 tỷ đồng.

Trong đó, dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và quỹ tín dụng nhân dân

Trung ương đạt 276.668,75 tỷ đồng; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 108.762,04

tỷ đồng; nhóm ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100%

vốn nước ngồi đạt 21.222,83 tỷ đồng; cơng ty tài chính đạt 8.562,86 tỷ đồng.



 Tăng trưởng tín dụng vượt định hướng

3



Từ cuối năm 2008, chính sách tiền tệ bắt đầu có sự chuyển hướng, từ thắt chặt sang

dần nới lỏng. Cùng với chủ trương kích cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế, sự chuyển

hướng trên là một yếu tố tạo điều kiện để tín dụng tăng trưởng mạnh trở lại trong năm

2009.

Tuy nhiên, so với các mốc định hướng mà Ngân hàng Nhà nước dự kiến ở các thời

điểm trong năm, tăng trưởng tín dụng thực tế đã vượt xa. Cụ thể, đầu năm, tăng trưởng tín

dụng dự kiến từ 21% - 23%; giữa năm là định hướng không quá 30%; còn theo dự tính cả

năm con số này thực tế có thể lên tới trên 36%, tăng mạnh so với năm 2008 (21%) và ở

mức cao trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây.

Tăng trưởng tín dụng cao năm 2009 cũng là một cơ sở để Ngân hàng Nhà nước

xem xét bắt đầu có hướng thắt chặt dần chính sách tiền tệ, cụ thể ở tín hiệu nâng lãi suất

cơ bản, phòng ngừa lạm phát cao có thể trở lại trong năm 2010.



 Huy động vốn góp từ các ngân hàng ngoại

Tập trung cấp giấy phép từ cuối năm 2008, bước sang năm 2009, hệ thống ngân

hàng Việt Nam bắt đầu đón nhận những ngân hàng 100% vốn ngoại đầu tiên. Những thành

viên mới này được hoạt động đẩy đủ hơn, cạnh tranh tồn diện hơn thay vì phụ thuộc vào

các điều kiện kinh doanh hạn chế trước đó.

Trong năm 2009, 5 ngân hàng đầu tiên của khối này đã nhận giấy phép, thành lập

và mở rộng hoạt động, gồm HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong;

trong đó, HSBC và ANZ đã nhanh chóng khai trương nhiều điểm giao dịch mới. Lợi thế

của khối này và áp lực cạnh tranh đã được đề cập nhiều từ năm 2007 và nay đang dần hiện

hữu.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, khối các tổ chức tín dụng nước ngồi tại

Việt Nam hiện có 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh với

hơn 20 chi nhánh phụ thuộc, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngồi, 8 tổ chức tín dụng phi

ngân hàng có vốn đầu tư nước ngồi; ngồi ra còn có 56 văn phòng đại diện của các tổ

chức tín dụng khác.



4



Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nhóm thành viên này hiện đang hoạt động

hiệu quả. Dự tính, năm 2009, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100%

vốn nước ngoài đạt mức thu nhập trước thuế đạt 2.612 tỷ đồng, nguồn vốn huy động và dư

nợ tín dụng tăng 17,8% và 10,8%, tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008; các

ngân hàng liên doanh đạt thu nhập trước thuế 477 tỷ đồng, huy động vốn tăng 18,2%, dư

nợ tín dụng tăng 34,3%, tổng tài sản có tăng 18,3% so với cuối năm 2008.



 Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ

Năm 2010, tăng trưởng tín dụng tồn hệ thống đạt 29,81%; trong đó tín dụng VND

tăng 25,3%; tín dụng ngoại tệ tăng 49,3%. Nếu trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì

tổng dư nợ tăng 27,6%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng 37,7%.

Hạ dự trữ bắt buộc, mở rộng đối tượng được vay và đặc biệt là chênh lệch lớn về lãi

suất là những yếu tố chính tạo nên một năm hiện tượng với sự bùng nổ của tín dụng bằng

ngoại tệ. Đây được cho là một áp lực nổi bật đối với những biến động của thị trường ngoại

hối.

Năm 2010 cũng ghi nhận sự khác biệt khi tốc độ tăng trưởng huy động luôn cao

hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng trong phần lớn thời gian của năm. Tuy nhiên, trong hai

tháng cuối năm, huy động vốn tăng chậm và tín dụng tăng cao hơn. Tính chung, huy động

vốn cả năm tăng 27,2%; nếu trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì huy động vốn tăng

24,5%.



 Siết kinh doanh vàng

Năm 2010 ghi nhận sự can thiệp mạnh của nhà quản lý đối với hoạt động kinh

doanh vàng của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước chính thức chỉ đạo đóng cửa

các sàn giao dịch vàng, tất toán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.

Thị trường vàng trong năm 2010 cũng chứng kiến nhiều biến động, trong đó có

những thời điểm giá trong nước vượt trội so với giá thế giới. Biện pháp mà nhà điều hành

thường đưa ra là cho phép nhập khẩu để bình ổn, trong khi vẫn còn những tranh cãi quanh

con số khoảng 1.000 tấn vàng nằm trong dân.

5



II.



VỐN TỰ CÓ VÀ ĐIỀU KIỆN NỘI LỰC CỦA NGÂN HÀNG

1. Vốn tự có của ngân hàng

Quy mơ vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ



an tồn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam,

sự tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị

ngân hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch thực hiện. Vì thế, phải tăng vốn tự có

để đảm an tồn cho hệ thống tài chính.

Vốn tự có hay vốn chủ sỡ hữu ảnh hưởng trực tiếp tới việc mở rộng quy mô mạng

lưới cũng như quy mô hoạt động của ngân hàng. Ở giai đoạn 2009-2013, vốn chủ sở hữu

của các NHTM tăng qua từng năm với tỷ lệ trung bình đạt 23,92%, trong đó Vietinbank có

mức tăng trưởng bình qn cao nhất là 42,43% và ACB có mức tăng trưởng thấp nhất là

5.5%. Việc vốn chủ sở hữu tăng làm tăng độ an toàn của chất lượng tín dụng và sự tin cậy

của khách hàng về khả năng thanh khoản của ngân hàng.

Việc đảm bảo an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong

hoạt động kinh doanh của NHTM. Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản có chứa đựng rủi

ro, ngân hàng cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối

thiểu. Theo quy định của hiệp ước BASEL và theo quy định tại thông tư 13/2010/TTNHNN, hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) của các NHTM Việt Nam tối

thiểu là 8%. Đến cuối năm 2013, các NHTM Việt Nam có hệ số CAR đều trên 9%.

2. Điều kiện nội lực của ngân hàng

Bên cạnh vốn tự có, các yếu tố nội lực khác như trình độ của đội ngũ nhân viên,

năng lực của nhà quản trị, cơ sở vật chất… cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô cũng

như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đội ngũ nhân viên tín dụng am hiểu nhiều

ngành nghề có thể cho phép ngân hàng đầu tư đa dạng các ngành kinh tế, cũng như chi

nhánh ngân hàng phủ khắp địa phương, với khả năng kiểm sốt rộng cũng có thể thúc đẩy

sự đa dạng hóa về khu vực địa lý trên danh mục tín dụng.

Ngồi ra, quy mơ, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và

phát triển của NHTM. Việc đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ

tiêu: tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay..

 Tăng trưởng tổng tài sản: Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam bình

quân trong thời kỳ 2009-2013 là 16,7%. Trong đó, Vietinbank có mức tăng trưởng



6



tài sản cao nhất là 24,4%, ngân hàng ACB là ngân hàng có mức tăng tài sản bình

quân thấp nhất chiếm 9.7%.

Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam



(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam)

 Tỷ lệ cho vay: Tỷ lệ cho vay phản ánh việc sử dụng tài sản để cho vay của các ngân

hàng. Thực tế về cơ cấu tài sản, các khoản cho vay chiếm phần nhiều trong tổng tài

sản của ngân hàng. Ở giai đoạn năm 2009-2013, tỷ lệ cho vay cho vay của các ngân

hàng đều ở mức tăng trưởng nhẹ, tương đối ổn định qua các năm.

III.



MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TRONG NƯỚC

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức.



Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới

vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị

trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta. Ở

trong nước, thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước cũng đã gây ảnh

hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.

Trong bối cảnh khơng thuận lợi đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số

30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm,

duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 09/01/2009

về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009. Ngày 6/4/2009, Bộ Chính trị đã ra Kết luận về

tình hình kinh tế-xã hội quý I/2009 và các giải pháp chủ yếu đến cuối năm 2009. Ngày

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chiến lược kinh doanh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×