Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ XÃ HỘI

III. NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lãi suất cho vay VNĐ được điều chỉnh tăng, tiến tới mức trần cho phép. Ngay sau khi lãi

suất cơ bản được điều chỉnh tăng lên mức 8%/năm, các NHTM đã điều chỉnh nâng lãi

suất cho vay lên mức trần lãi suất cho phép là 12%. Mức lãi suất cho vay thỏa thuận với

các khoản vay phục vụ đời sống, thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

phổ biến ở mức 15-17%. Tuy nhiên, tới đầu tháng 11, NHNN đã yêu cầu các NHTM chỉ

được thỏa thuận lãi suất cho vay đối với các khoản vay phục vụ đời sống, và không được

thực hiện thỏa thuận lãi suất với các khoản vay để đầu tư kinh doanh bất động sản và tài

sản tài chính. Điều này đã khiến các ngân hàng buộc phải áp mức lãi suất trần 12%/năm

cho các mục đích vay vốn khơng phải tiêu dùng.

Áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, cùng với

hoạt động nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh đã khiến cho nhu cầu vay vốn ngoại tệ

và tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp gia tăng. Điều này đã khiến cho lãi suất

huy động USD được điều chỉnh tăng khá cao



3.1.2. Năm 2010

Lãi suất huy động ổn định trong 3 quý đầu năm và tăng cao trở lại vào cuối năm nhằm

kiềm chế lạm phát.NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng VND ổn định ở mức 8% trong

suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm

trước sức ép của lạm phát. Tính đến cuối năm 2010, mặt bằng lãi suất huy động VND

khoảng 2,4-3,0% đối với không kỳ hạn; 12,0-13,5% đối với cá kỳ hạn dưới 12 tháng; và

12,0-13,0% với kỳ hạn trên 12 tháng. Nguyên nhân là do: (i) lạm phát có dấu hiệu tăng

mạnh, ghi nhận ở mức 11,75% trong năm 2010 và cao hơn so với mục tiêu của Chính phủ

(8%); (ii) chính sách tiền tệ vẫn duy trì trạng thái nới lỏng với tăng trưởng tín dụng cả

năm ở mức 27,65%; và (iii) tỷ giá USD/VND tăng gần 8% so với thời điểm đầu năm.

Lãi suất huy động tăng cao đã đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao trong điều kiện áp

dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận. Đến tháng 7/2010, để tạo sự thống nhất về mặt bằng lãi

suất huy động trên thị trường, NHNN và Hiệp hội Ngân hàng đã yêu cầu các NHTM

đồng thuận giảm lãi suất huy động vốn bằng VND để góp phần thực hiện hạ mặt bằng lãi

suất của thị trường theo Nghị quyết 23/NQ-CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ, tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế tiếp cận được với vốn của khu vực

ngân hàng khi mà tăng trưởng tín dụng có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ trong những

tháng đầu năm. Lãi suất cho vay trong hai tháng cuối năm ở mức khá cao (khoảng 14,518%).

Lãi suất huy động USD không kỳ hạn phổ biến từ 0,2-0,5%/năm, dưới 12 tháng từ 3,55,2%/năm, trên 12 tháng từ 4,2-5,6%. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 5,56,5%/năm đối với ngắn hạn, 6-8%/năm đối với trung và dài hạn.



16



3.1.3. Năm 2011

Lãi suất huy động tăng mạnh, NHNN quy định trần lãi suất huy động. Tình hình lãi suất

từ đầu năm tới hết quý III/2011 đã có chuyển biến rất nhiều và diễn biến khá phức tạp

qua các thời kỳ. Trong 3 tháng đầu năm, lạm phát tăng cao dẫn đến lãi suất huy động có

xu hướng tăng trên thị trường. Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành Thông tư

02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam

không vượt quá 14%/năm, nhằm tránh một cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng, gây bất

ổn cho hệ thống. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát tăng cao (lạm phát bình quân cả năm 2011 ở

mức 18,58% so với năm 2010), hơn mức trần lãi suất (14%/năm) đã khiến lãi suất huy

động thực tế đang ở mức âm. Vì thế, trong thời gian này các ngân hàng thương mại đã

“xé rào” lãi suất huy động cả VNĐ và USD, huy động vốn với mức lãi suất bình quân

khoảng 17-18%/năm, lãi suất cho vay VNĐ bình qn thực tế khoảng 18,74%/năm, trong

đó lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất đã lên đến 22-25%/năm.

Lãi suất cho vay VNĐ phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở

mức 14,5-17%/năm, thấp nhất 13,5%/năm; cho vay sản xuất - kinh doanh khác 1720%/năm, thấp nhất 15%/năm, cho vay lĩnh vực phi sản xuất 22-25%/năm.

Lãi suất huy động USD ở mức 3-3,5%/năm, cao hơn mức quy định là 2%. Lãi suất cho

vay phổ biến ở mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn.



3.1.4. Năm 2012

Lãi suất huy động và cho vay VNĐ giảm mạnh theo định hướng của NHNN. Sau 5 lần

điều chỉnh của NHNN, trần lãi suất huy động VND đã giảm tổng cộng 6%, từ mức 14%

xuống còn 8% tại thời điểm cuối năm. Do vậy, đến cuối năm, mặt bằng lãi suất huy động

giảm khoảng 3-6%; các TCTD đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi xuống phổ biến ở mức

3-4%/năm đối với tiền gửi khơng kỳ hạn, 4-5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 1

tháng; 11,5-13%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên. Kết quả tích cực này

là do kinh tế vĩ mô từng bước được cải thiện, lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu đề

ra và chủ trương giảm lãi suất trung bình 1% hàng quý của Chính phủ.

Cũng giống như lãi suất huy động, lãi suất cho vay VND được điều chỉnh giảm từ 13%/năm đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh

nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất – kinh doanh… phổ biến ở mức 14,5-16%/năm, thấp nhất

13,5%/năm áp dụng đối với khách hàng doanh nghiệp cam kết bán ngoại tệ cho ngân

hàng; cho vay sản xuất – kinh doanh khác 16,5-20%/năm, thấp nhất 15%/năm, cho vay

lĩnh vực phi sản xuất 20-25%/năm.

Lãi suất huy động USD phổ biến 1,9-2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và 0,5%/năm

đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế. Lãi suất cho vay USD vẫn ở mức cao, phổ biến ở

mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn, 7,5-9%/năm đối với trung và dài hạn.



17



3.1.5. Năm 2013

Lãi suất huy động và cho vay VNĐ duy trì xu hướng giảm nhưng tốc độ đã chậm lại so

với năm 2012. Trong năm 2013, mặt bằng lãi suất trên thị trường có mức giảm mạnh, vào

khoảng 0,8-1,5% đối với các kỳ hạn dưới 1 năm và lên tới 2,5-3,5% đối với các kỳ hạn

trên 1 năm so với cuối năm 2012. Nguyên nhân là do năng lực tài chính của các TCTD

được cải thiện đáng kể, các TCTD cũng điều chỉnh giảm lãi suất thay vì bám sát trần huy

động như giai đoạn trước. Đến cuối năm 2013, lãi suất huy động của các TCTD phổ biến

ở mức 1-1,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 5,57,0%/năm kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 6,5-7,5%/năm kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới

12 tháng; 8-9%/năm kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

Tương tự như lãi suất huy động, lãi suất cho vay VND cũng được điều chỉnh giảm thêm

3-4%/năm để hỗ trợ khách hàng. Đến cuối năm 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong

khoảng 8-11,5%/năm kỳ hạn ngắn và 11,5-13%/năm trung dài hạn. Trong đó, các lĩnh

vực ưu tiên lần lượt là 8-9%/năm và 11-12%/năm; các lĩnh vực khác là 9-11%/năm và

11,5-13%/năm. Đặc biệt, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh

bạch, phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được vay với mức lãi suất chỉ từ

7-7,5%/năm.

Lãi suất huy động USD bám sát trần cho phép, đi ngang ở mức 2%/năm đối với dân cư

và 0,5%/năm đối với các TCKT trong phần lớn thời gian trước khi giảm xuống còn

1,25%/năm và 0,25%/năm từ ngày 28/6 cùng với quyết định của NHNN tại Thông tư

14/2013/TT-NHNN. Lãi suất cho vay USD giảm nhẹ khoảng 1% so với cuối năm 2012,

ngắn hạn quanh 4-6%/năm và trung dài hạn khoảng 6-7,5%/năm.

3.2 Ngoại hối

Một trong những mục tiêu của NHNN là thu hẹp quy mơ thị trường ngoại hối và q

trình đơ la hóa. Nhằm thực hiện mục tiêu này, một số quy định đã được đề ra:

 Thông tư 20/2011/TT-NHNN quy định những hạn mức chặt chẽ hơn về việc mua và

bán ngoại tệ bằng tiền mặt của cá nhân với các tổ chức tín dụng được phép.

 Thơng tư 07/2012/TT-NHNN điều chỉnh tổng trạng thái ngoại tệ cuối ngày của các tổ

chức tín dụng từ ±30% giảm xuống còn±20% vốn tự có. Điều luật này sẽ hạn chế tình

trạng đầu cơ ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.

 Các thơng tư 09/2011/TT-NHNN, thông tư 14/2011/TT-NHNN, thông tư 14/2013/TTNHNN quy định lãi suất tối đa với tiền gửi bằng USD, khiến cho việc nắm giữ USD

mang lại ít lợi nhuận hơn việc nắm giữ VND.

 NHNN yêu cầu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các khoản tiền gửi bằng USD cao hơn so với

bằng VND.



18



 NHNN can thiệp vào thị trường ngoại tệ khi cần thiết bằng việc trực tiếp tham gia mua

bán ngoại tệ và cam kết không điều chỉnh tỷ giá quá mức 1% đến 2%.

Nhờ đó, tỷ lệ huy động và cho vay bằng ngoại tệ đã giảm, và tỷ giá đã thực sự ổn định kể

từ tháng 03/2011.



3.3 Vàng

Gần đây, chính phủ đã thực hiện những quy định chặt chẽ để kiểm soát thị trường vàng.

Với việc ban hành Nghị định 24/2012/ND-CP, Thông tư 16/2012/TT-NHNN, và Thông tư

06/2013/TT-NHNN, thị trường vàng về cơ bản đã được NHNN kiểm sốt. Hơn nữa,

Thơng tư 11/2011/TT-NHNN đã chấm dứt hoạt động cho vay và huy động bằng vàng,

Thông tư 38/2012/TT-NHNN quy định trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (tổng

trạng thái vàng cuối ngày phái nhỏ hơn 2% vốn tự có của ngân hàng). Với việc áp dụng

các quy định này, thị trường vàng dần trở nên ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho thị

trường ngoại tệ và tỷ giá ổn định.

3.4 Khung pháp lý

Các ngân hàng thương mại Việt Nam phải tuân thủ theo các quy định pháp luật quan

trọng nhất như sau:

Văn bản



Nội dung



19



Luật 46/2010/QH12



Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam



Luật 47/2010/QH12



Luật Các tổ chức tín dụng



Nghị định 59/2009/NĐ-CP Quy định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại

Nghị định 22/2006/NĐ-CP Quy định về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng

nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước

ngồi, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt

Nam.

Nghị định 05/2010/NĐ-CP Quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng

Quyết định 254/QĐ-TTg



Quyết định phê duyệt đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín

dụng giai đoạn 2011-2015

Nghị định 141-2006-NĐ- Mức vốn pháp định dành cho các tổ chức tín dụng

CP

Nghị định 69/2007/NĐ-CP Quy định về việc Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của

NHTM Việt Nam

Thông tư 13/2010/TT- Thông tư quy định tỷ lệ an tồn trong hoạt động của các tổ chức

NHNN

tín dụng

Quyết định 493/2005/QĐ- Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử

NHNN

lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín

dụng

Quyết

định

780/QĐ- Quy định về phân loại nợ với nợ được điều chỉnh kỳ hạn, gia hạn

NHNN

nợ

Thông tư 02/2013/TT- Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập và

NHNN

sử dụng dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng, chi nhánh

ngân hàng nước ngoài

Nghị định 53/2013/NĐ-CP Quyết định thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín

dụng Việt Nam

Thơng tư 19/2013/TT- Quy định về mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài

NHNN

sản các tổ chức tín dụng Việt Nam

Thơng tư 20 /2013/TT- Quy định về cho vay tái cấp vốn của Công ty Quản lý tài sản các

NHNN

tổ chức tín dụng Việt Nam

Thơng tư 14/2013/TT- Quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đô la Mỹ của tổ

NHNN

chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng

Thơng tư 15/2013/TT- Quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam

NHNN

của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng

Quyết

định

750/QĐ- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là 6%

NHNN

Thông tư 08/2010/TT- Quy định về Kiểm sốt đặc biệt đối với tổ chức tín dụng.

NHNN



20



Nghị định 109/2005/NĐCP

Quyết định 27/2008/QĐNHNN



Nghị định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 về bảo hiểm tiền gửi .

Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế nghiệp vụ thị

trường mở ban hành theo Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày

05/01/2007.

Nguồn: NHNN, VPBS tổng hợp

Nghị quyết 53/2013/NĐ-CP và Thông tư 19/2013/TT-NHNN liên quan đến Công ty Quản

lý Tài sản Việt Nam sẽ được chúng tôi nhắc đến ở phần sau.

Thông tư 13/2010/TT-NHNN và các điểm sửa đổi được ban hành trong Thông tư

19/2010/TT-NHNN chủ yếu tập trung về việc nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ dư

nợ trên tổng huy động. Nhằm đảm bảo một nguồn vốn chất lượng tốt hơn để chống đỡ lại

các cú sốc tài chính trong tương lại, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR được nâng lên mức

9% từ mức cũ là 8%. Các ngân hàng có thể tăng tỷ lệ CAR bằng cách tăng vốn điều lệ

hoặc cắt giảm các tài sản có tính rủi ro cao. Khi tính tỷ lệ CAR, các khoản cho vay đầu tư

chứng khoán được xếp vào tài sản “Có” có hệ số rủi ro là 250% khiến cho dòng vốn từ

ngân hàng đổ vào thị trường chứng khốn bị thu hẹp lại. Một điểm quan trọng trong

thông tư là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động đối với ngân hàng là 80% và đối

với các tổ chức tín dụng là 85%.

Một quy định quan trọng nữa là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005

(“Quyết định 493”), được sửa đổi và bổ sung bởi Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày

25/04/2007 của Ngân hàng Nhà nước (“Quyết định 18”). Theo hai quyết định này, các

khoản cho vay sẽ được phân loại theo chất lượng nợ thành 5 nhóm vào cuối mỗi quý

trong ba quý đầu và vào tháng thứ hai của q bốn.



Việc tính tốn mức dự phòng được dựa trên tổng dư nợ và ứng trước cho khách hàng và

các tổ chức tín dụng khác và kết quả đánh giá phân loại chất lượng nợ. Các khoản vay

thuộc nhóm 3, 4, 5 được xếp vào nhóm nợ xấu. Phương pháp phân loại các khoản vay

phụ thuộc vào lựa chọn của từng ngân hàng, hoặc theo phương pháp định tính hoặc theo

phương pháp định lượng. Hiện tại, chỉ có ngân hàng MBB, BIDV, và VCB thực hiện

phân loại nợ theo phương pháp định tính theo điều 7 Quyết định 493, các ngân hàng còn

lại đều dùng phương pháp định lượng theo điều 6.



21



Một dự thảo được soạn bởi Ủy bạn chứng khốn nhà nước (UBCKNN) đã được trình lên

Chính Phủ vào giữa tháng 11. Nếu dự thảo được thông qua như đúng dự kiến vào đầu

năm 2014, nó sẽ tăng mức sở hữu của nước ngoài ở các ngân hàng thương mại lên 49%.

Mức giới hạn hiện nay là 30% cổ phần có quyền biểu quyết cho các nhà đầu tư nước

ngoài và cụ thể là 20% cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài theo Nghị định

69/2007/NĐ-CP. Hạn mức hiện nay được cho là một rào cản đối với đầu tư của nước

ngồi vào Việt Nam. Tính đến 30/06/2013 có 10 ngân hàng thương mại Việt Nam sử

dụng hết hạn mức sở hữu nước ngoài dành cho nhà đầu tư chiến lược như bảng tổng hợp

dưới đây:



Ngày 22/11/2013, OCBC đã bán toàn bộ cổ phần tại VPBank (14,88%) sau hơn bảy năm

nắm giữ. Số cổ phần này đã được bán cho các nhà đầu tư cá nhân trong nước, do đó làm

giảm tỷ lệ sở hữu của cổ đơng nước ngồi tại VPBank xuống bằng khơng. VPBank nhận

định sự thối vốn của OCBC đã giải phóng giới hạn góp vốn của nhà đầu tư nước ngồi

tại VPBank và giúp ngân hàng có cơ hội tìm kiếm đối tác chiến lược mới phù hợp hơn

trong thờiệugian tới.



IV. XU HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC

NGÂN HÀNG

4.1 Cơ hội

Quá trình hội nhập quốc tế giúp các NHTM Việt Nam có cơ hội tiếp cận với vốn, cơng

nghệ, kinh nghiệm, trình độ quản lý của một số NHTM lớn và có uy tín trên trường quốc

tế. Mặt khác, để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh và theo kịp yêu cầu phát triển

của thị trường trong và ngoài nước, tự thân các NHTM Việt Nam phải chủ động thực hiện

cơ cấu lại hoạt động và tổ chức theo hướng hợp lý và chuyên nghiệp hơn, tiệm cận các

chuẩn mực chung của quốc tế. Các NHTM nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính

ngân hàng trong nước sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh với các ngân hàng nội, làm gia tăng

sự lành mạnh và an toàn của toàn bộ hệ thống NHTM. Có thể chỉ ra những cơ hội như

sau:



22



Thứ nhất, hội nhập quốc tế là cơ hội tăng năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam.

Thứ hai, hội nhập quốc tế là cơ hội được chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý ngân

hàng hiện đại.

Thứ ba, hội nhập quốc tế là cơ hội để các NHTM Việt Nam nâng cao khả năng quản trị

ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính minh bạch, công khai.

Thứ tư, hội nhập quốc tế mở ra cơ hội cho các NHTM Việt Nam mở rộng, phát triển thị

trường ra nước ngoài

4.2. Thách thức

Bên cạnh những cơ hội đến từ hội nhập quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn phải

đối mặt với nhiều khó khăn nội tại trong nền kinh tế cũng như nội tại của từng ngân hàng,

thể chế của hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách và

lộ trình hội nhập là những thách thức lớn của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội

nhập.

Thứ nhất, sức ép cạnh tranh trên thị trường ngân hàng trong nước ngày càng gay gắt do

sự hiện diện của các NHNN.

Thứ hai, hội nhập quốc tế tất yếu sẽ dẫn tới sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng

cao từ các NHTM trong nước sang các NHNNg tại Việt Nam và thậm chí là trong khu

vực.

Thứ ba, tiềm lực tài chính khiêm tốn, chất lượng tài sản thấp và chưa hợp lý, cơng nghệ

ngân hàng còn có khoảng cách xa so với khu vực và thế giới.

Thứ tư, mở cửa thị trường tài chính ngân hàng trong q trình hội nhập tất yếu sẽ dẫn đến

nguy cơ bị thơn tính của các NHTM trong nước và hệ lụy nảy sinh từ vấn đề sở hữu chéo.

4.3 Những thành tựu nổi bật

- Ngân hàng Nhà nước đã bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ đạo, điều hành

của Chính phủ, chủ động, linh hoạt trong điều hành các giải pháp tiền tệ, ngân hàng phù

hợp với điều kiện từng thời kỳ, góp phần kiểm sốt lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc

đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

- Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng khơng ngừng được hồn thiện,

ngày càng phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiến gần đến thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước từng bước được bổ sung,

hồn thiện; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng được nâng cao.

- Hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển cả về số lượng, loại hình hoạt động, quy mơ

mạng lưới, phương thức quản trị điều hành; huy động vốn và cho vay tăng nhanh, sản

phẩm, dịch vụ ngân hàng từng bước được đa dạng hố, góp phần tích cực thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nền kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa.

- Cơ sở hạ tầng và công nghệ ngân hàng được chú trọng đầu tư và hiện đại hoá, tạo thay

đổi căn bản trong phương thức giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng và trong quản



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×