Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1  Quy mô vốn chủ sở hữu:

1  Quy mô vốn chủ sở hữu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngân hàng



Quốc gia Đơn vị tính Vốn chủ sở hữu



1. Citi Bank



USA



Tỷ USD



206



2. Bank of Canada



Canada



Triệu USD



435



3.Bank of American Corporation USA



nghìn USD 232.685.000



4. HSBC



Việt Nam Triệu VND 6.623.643



5. Mizuho



Nhật Bản Triệu JPY



84.905



Bảng 1.1: Vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng năm 31/12/2013

(Nguồn Báo cáo tài chính các ngân hàng năm 2013)

Việc đảm bảo an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong hoạt

động kinh doanh của NHTM. Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản có chứa đựng rủi ro,

ngân hàng cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối

thiểu. Theo quy định của hiệp ước BASEL và theo quy định tại thơng tư 13/2010/TTNHNN, hệ số an tồn vốn (viết tắt là CAR: Capital Adequacy Ratio) của các NHTM Việt

Nam tối thiểu là 8%. Đến cuối năm 2013, các NHTM Việt Nam thuộc nhóm nghiên cứu

có hệ số CAR đều trên 9%.



TT Ngân hàng



2009 2010 2011 2012 2013



1



Agribank



6.21 6.4



2



BIDV



7.55 9.32 10.1



3



VCB



8.11 9.0



4



Vietinbank



9.0



5



ACB



9.97 8.9



6



Techcombank 9.6



8.0



9.49



9.11



9.04



11.28



11.14 14.83 13.37



8.02 9.0

9.25



10.33 13.17

9.3



12.3 11.43 11.6



14.66

14.03



Bảng 1.2: Hệ số an toàn vốn của các NHTM Việt Nam

Đơn vị tính: %

(Nguồn Báo cáo thường niên các NHTM Việt Nam)



8



2.2 Nguồn lực bên trong



2.2.1 Quy mô và chất lượng tài sản

Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của

NHTM. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài

chính, năng lực quản lý của một NHTM. Đánh giá qui mô, chất lượng tài sản được thể

hiện qua các chỉ tiêu: tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay...

Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam bình qn trong thời kỳ 2009-2013 là

16,7%. Trong đó nhóm NHTM nhà nước có mức tăng trưởng tài sản cao hơn nhóm

NHTM cổ phần. Cụ thể Vietinbank có mức tăng trưởng tài sản cao nhất là 24,4%, tiếp

theo là Techcombank 21.6%. NGân hàng ACB là ngân hàng có mức tăng tài sản bình

quân thấp nhất chiếm 9.7%.



Biểu đồ: Tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM Việt Nam

(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam)

Tỷ lệ cho vay của ngân hàng phản ánh việc sử dụng tài sản để đầu tư cho vay của các

ngân hàng. Thực tế về cơ cấu tài sản, các khoản cho vay chiếm phần nhiều trong tổng tài

sản của ngân hàng. Dựa trên bảng số liệu trên, tỷ lệ cho vay cho vay của các ngân hàng

đều ở mức tăng trưởng nhẹ, tương đối ổn định qua các năm, phản ánh hoạt động kinh

doanh duy trì ở mức ổn định, bất chấp cả khủng hoảng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, qua

số liệu cho thấy dư nợ tín dụng trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

đều vượt khung an tồn Camel đưa ra là <= 60%. Chỉ có Techcombank thuộc nhóm các

NHTMCP có đảm bảo tỷ lệ an tồn.



9



STT Ngân hàng



2009 2010 2011



1



75.7



Agribank



0

2



Vietcombank 54.0

0



3



BIDV



77.6

7



4



Vietinbank



66.9

4



5



ACB



58.7

1



6



TCB



45.3

2



Trung bình



63.0

6



2012



79.02 77.75% 78.38



2013

78.06%



%

55.70 64.70% 58.19



59.01%



%

80.23 82.98% 74.62



72.68%



%

64.11 63.81% 72.71



67.08%



%

42.16 36.23% 58.41



64.55%



%

34.81 34.65% 42.98



38.82%



%

59.34 60.02% 64.22



63.37%



%



Bảng 1.3: Tỷ lệ cho vay của các NHTM Việt Nam

Đơn vị tính :%

(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam thời kỳ 2009-2013)

Chất lượng tín dụng thể hiện thơng qua tỷ lệ nợ xấu: Những món nợ xấu hay còn được

gọi là những món nợ khơng hiệu quả, ngay sau khi giải ngân đã cho thấy những dấu hiệu

có khả năng gặp phải rủi ro như khách hàng gặp phải rủi ro hoặc sử dụng vốn sai mục

đích, chậm trễ hoặc không thể thực hiện những điều kiện giải ngân, v.v… Khơng phải tất

cả những món nợ xấu đều dẫn đến rủi ro tín dụng, song thơng thường nợ xấu là “cơ hội”

phát sinh rủi ro tín dụng như nợ q hạn, nợ khó đòi, mất vốn và NHTM phải thực hiện

xóa nợ. Quy định và tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM là tốt và

NHTM có thể phát triển bền vững khi tỷ lệ nợ xấu dưới mức 5% tổng dư nợ.

Chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam được cải thiện nhờ áp dụng đồng loạt các

giải pháp tăng cường năng lực tự kiểm sốt chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng;

thanh tra giám sát xử lý các khoản nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM đã giảm dần từ



10



3.5% năm 2008 xuống 2,5% năm 2010. Một số NHTMNN có tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể

trong giai đoạn 2006-2010, ví dụ như BIDV năm 2010 giảm 6.8% so với năm 2006,

Vietinbank giảm 3.7%. Đối với nhóm NHTMCP, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp hơn nhóm

NHTM nhà nước như ACB có mức nợ xấu 0.34%, Techcombank có tỷ lệ 2.29%. Trong

năm 2011, tỷ lệ nợ xấu của toàn bộ hệ thống NHTM là 3.29% cao hơn so với năm 2010.

Sang năm 2012, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng vọt với mức 8.8%. Tuy nhiên tỷ lệ

này đã giảm chỉ còn 3.79% vào năm 2013 và Agribank vẫn là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu

cao nhất toàn hệ thống, chiếm 25% tổng số nợ xấu của toàn hệ thống.

Nguyên nhân của sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu là do các NHTM đã không chủ động giới hạn

cho vay vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như cho vay kinh doanh bất động sản, đầu

tư chứng khoán,... trong khi vẫn phải tiếp tục phải thực hiện mục tiêu tăng vốn với tốc độ

cao.

Muốn tăng trưởng tổng tài sản bền vững đòi hỏi phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ

cấu tài sản và nguồn vốn. Qua mối tương quan này sẽ đánh giá được tính tối ưu trong cơ

cấu tài sản - nguồn vốn, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những hiện tượng bất

thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng. Sự phối

hợp hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tối đa hoá thu nhập đồng thời kiểm soát chặt chẽ các rủi

ro.



TT Ngân hàng



2009 2010 2011 2012 2013



1



Agribank



2.6



6.7



6.0



5.8



2



BIDV



2.8



2.8



2.7



2.77 2.35



3



VCB



2.47 2.83 2.03 2.5



2.98



4



Vietinbank



0.61 0.66 0.75 1.5



2.47



5



ACB



0.3



0.34 0.89 2.5



3.34



6



Techcombank 2



2.29 2.6



3.6



5.9



7.56



Bảng 1.4: Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam

Đơn vị tính :%

(Nguồn Báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam 2006-2010)



11



2.2.2 Khả năng sinh lời

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như sự phát triển bền

vững của một ngân hàng.Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối

quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và triển vọng phát triển trong tương lai của

ngân hàng đó.Để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằng nhiều

chỉ tiêu khác nhau như: Lợi nhuận sau thuế, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản có bình quân

(ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).

Tổng lợi nhuận các NHTM Việt Nam 2009-2013 tăng trưởng bình qn 7% trong đó

Vietinbank có mức tăng trưởng bình qn cao nhất 45.73%. Năm 2012, tồn ngành ngân

hàng có lợi nhuận, sụt giảm gần 50% so với năm 2011. Tình hình lợi nhuận ảm đạm trong

2012 đã chấm dứt những thời kỳ lãi “khủng” của các ngân hàng thương mại. Hầu hết các

ngân hàng đều bị sụt giảm lợi nhuận rất mạnh, ngay cả những ngân hàng lớn như

Vietcombank, Vietinbank, BIDV, cũng không tăng trưởng đáng kể so với năm trước, dù

vẫn đứng đầu toàn ngành về lợi nhuận. Nguyên nhân chính dẫn đến lợi nhuận giảm trong

năm 2012: do tăng trưởng tín dụng trong năm 2012 khá thấp, lãi suất cho vay hạ nhiệt,

chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh do nợ xấu gia tăng. Trong năm 2013, trong nhóm ngân

hàng nghiên cứu chỉ có hai ngân hàng có sự tăng trưởng về lợi nhuận là Vietinbank và

ACB, các ngân hàng còn lại đều có sự sụy giảm lợi nhuận.



ST

T



Ngân hàng



2009



2010



2011



2012



2013



1



Agribank



182,968



1,300,237



3,633,593



2,565,000



2,303,000



2



Vietcombank 3,944,753



4,235,792



4,217,332



4,427,206



4,371,270



3



BIDV



2,817,501



3,199,608



3,318,863



4,065,079



4



Vietinbank



1,284,283



3,405,478



6,243,795



6,151,545



5,794,236



5



ACB



2,201,204



2,334,794



3,207,841



784,040



824,458



3,760,715



12



Techcomban

6



k

Cộng



1,700,169



2,072,755



3,153,766



765,686



12,130,878



17,109,771



23,655,935 18,012,340



659,000

18,017,043



Bảng 1.5: Lợi nhuận sau thuế của các NHTM Việt Nam

Đơn vị tính: triệu đồng

(Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM VIệt Nam)

Phân tích ROE trung bình của các NHTM Việt Nam có thể thấy: Năm 2009 ROE ở mức

khá cao, khoảng 18,64%; năm 2010 18,04 và năm 2011 tăng vọt 20,32% nhưng sang năm

2012 và 2013 giảm xuống chỉ còn là 10,3 và 8,35. Việc giảm sút này do nhiều nguyên

nhân như hiệu quả hoạt động yếu (dù chênh lệch giữa lãi suất đầu vào đầu ra có xu hướng

giãn ra, có lợi cho các NHTM); tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng tăng đã khiến tỷ lệ trích

lập dự phòng rủi ro của các NHTM thấp so với yêu cầu của NHNN. Bên cạnh đó các

NHTM Việt Nam mở rộng quá mức mạng lưới chi nhánh với hy vọng tốc độ tăng tài sản

sẽ nhanh như những năm trước. Nhưng năm nay do hạn chế tăng trưởng tín dụng và cạnh

tranh huy động vốn gay gắt, đã khiến hoạt động một số chi nhánh ngân hàng khơng có

hiệu quả.



Biểu đồ: Hệ số ROA của các NHTM Việt Nam

Tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM) là tổng giá trị thu được từ tiền lãi cho vay, chi phí trả lãi

tiền gửi và tổng tài sản của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của

các NHTM VIệt Nam.



ST

T



Ngân hàng



2009 2010 2011 2012 2013



13



1



Agribank



2.54 3.35 5.02 -



-



2



Vietcombank 4.87 3.07 3.88 2.94 2.55



3



BIDV



2.74 2.95 3.46 3.18 2.88



4



Vietinbank



3.83 4.18 5.11 4.06 3.61



5



ACB



2.55 2.74 3.43 3.74 2.9



6



Techcombank 3.54 2.39 3.34 3.4



3.16



Bảng 1.6: Tỷ lệ lãi ròng cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam

(Nguồn Báo cáo thường niên các NHTM Việt Nam)



Tỷ lệ lãi ròng cận biên của các NHTM Việt Nam có xu hướng giảm dần qua 2011-2013,

đặc biệt năm 2013 hầu hết các NHTM Việt Nam có tỷ lệ lãi ròng cận biên giảm. Nguyên

nhân của sự giảm sút này là do tỷ lệ huy động của các NHTM Việt Nam tăng cao trong

khi cho vay thấp khiến cho nguồn vốn ứ đọng.



2.2.3 Đánh giá:

Thơng qua việc phân tích tài chính các NHTM Việt Nam cho thấy trong thời kỳ 20092013 cácNHTM Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan cụ thể:

- Vốn tự có của các NHTM tăng mạnh, hệ số an toàn vốn CAR đạt chuẩn trên 8%.

- Khả năng thanh khoản của NHTM Việt Nam được cải thiện đáng kể với tỷ lệ cho

vay/huy động luôn nhỏ hơn 100%, tỷ trọng đi vay trong tổng tài sản giảm dần. Công tác

quản lý thanh khoản của NHTM Việt Nam đang được chú trọng, đặc trưng là việc thiết

lập cơ chế kiểm soát và theo dõi hợp lý tình trạng thanh khoản hàng ngày và dài hạn.

Trong những năm qua NHTM Việt Nam đã tuân thủ đúng quy định của NHNN về dự trữ

bắt buộc, tỷ lệ khả năng chi trả, quản lý tốt dòng tiền vào-ra theo kì hạn để chủ động xử

lý nguồn vốn thanh khoản khi thiếu hụt hoặc thặng dư.

- Chất lượng tài sản của NHTM Việt Nam được nâng cao thể hiện qua cơ cấu tài sản ngày

càng chuyển biến hợp lý và hiệu quả hơn: Tài sản có tính thanh khoản cao tăng nhẹ do

yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc theo quy định mới của NHNN; Cơ cấu khách hàng cũng

được chuyển dịch phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay, đó là ưu tiên phát triển tín

dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng tỷ

trọng cho vay ngắn hạn và giảm tỷ trọng cho vay trung dài hạn.



14



- Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam vẫn ở mức thấp.

Hầu hết các NHTM Việt Nam có tỷ lệ cho vay cao hơn ngưỡng 60%. Lợi nhuận sau thuế

của hầu hết các NHTM Việt Nam đều giảm so với kỳ trước.



III. NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ XÃ HỘI

3.1. Tình hình vĩ mơ

Hoạt động của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường vĩ mơ và

cách NHNN điều hành các chính sách tiền tệ. Ở đây, chúng tôi điểm lại những điểm nổi

bật của tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2008 đến gần đây và một

số thay đổi quan trọng trong quy định và cơ chế của NHNN trong quản lý chính sách tiền

tệ. Từ năm 2009 đến năm 2013, mặt bằng lãi suất đã có nhiều biến động theo những

thăng trầm của nền kinh tế.

Về cơ bản, lãi suất tăng mạnh trong giai đoạn 2009-2011 do lạm phát tăng cao khiến

NHNN phải áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ. Điều này đã dẫn tới hiện tượng khan

hiếm tiền đồng trên toàn hệ thống, thúc đẩy các ngân hàng bước vào cuộc chạy đua lãi

suất mặc dù NHNN đã đưa ra nhiều chính sách để hạn chế tình trạng tăng lãi suất.

Trong giai đoạn 2012 - 2013, mặt bằng lãi suất đã liên tục giảm dần theo định hướng của

NHNN. Cùng với đó, các chỉ số kinh tế vĩ mô như GDP và lạm phát đều khởi sắc hơn,

tạo đà cho các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất

kinh doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.



3.1.1 Năm 2009

Lãi suất huy động VNĐ được điều chỉnh tăng mạnh tại tất cả các kỳ hạn, đặc biệt tại các

kỳ hạn ngắn. Tinh trạng mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay đã khiến cho

hầu hết các NHTM tham gia vào cuộc chạy đua lãi suất huy động bắt đầu từ tháng 2 khi

Chính phủ triển khai chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4% đến hết năm 2009. Để thu

hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, các NHTM đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động tại

tất cả các kỳ hạn. Trong 10 tháng khi lãi suất cơ bản ở mức 7%, lãi suất huy động tăng từ

1-2,5% cho mỗi kỳ hạn. Từ đầu tháng 12 khi lãi suất cơ bản tăng 1% lên mức 8%, các

ngân hàng tiếp tục nâng lãi suất huy động, đặc biệt tại các kỳ hạn ngắn, khoảng từ 1-1,6%

cho các kỳ hạn khác nhau. Vì vậy, trong cả năm, mức lãi suất cao nhất lần lượt tạo các

“đỉnh” 9%, 10% và đỉnh điểm lên đến 10,5%/năm (chưa kể các chương trình khuyến mãi,

tặng thưởng) – chạm trần lãi suất do Nhà nước quy định. Với diễn biến này, Ngân hàng

Nhà nước phát thông điệp kiểm tra tồn diện các trường hợp có lãi suất huy động từ

10,5%/năm trở lên khiến nhiều NHTM đồng loạt áp lãi suất ở mức 10,49%/năm. Đáng

chú ý, mặc dù lãi suất huy động đã được điều chỉnh tăng nhưng vẫn còn thấp so với lợi

suất của các kênh đầu tư khác như chứng khoán, vàng, và bất động sản.



15



Lãi suất cho vay VNĐ được điều chỉnh tăng, tiến tới mức trần cho phép. Ngay sau khi lãi

suất cơ bản được điều chỉnh tăng lên mức 8%/năm, các NHTM đã điều chỉnh nâng lãi

suất cho vay lên mức trần lãi suất cho phép là 12%. Mức lãi suất cho vay thỏa thuận với

các khoản vay phục vụ đời sống, thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

phổ biến ở mức 15-17%. Tuy nhiên, tới đầu tháng 11, NHNN đã yêu cầu các NHTM chỉ

được thỏa thuận lãi suất cho vay đối với các khoản vay phục vụ đời sống, và không được

thực hiện thỏa thuận lãi suất với các khoản vay để đầu tư kinh doanh bất động sản và tài

sản tài chính. Điều này đã khiến các ngân hàng buộc phải áp mức lãi suất trần 12%/năm

cho các mục đích vay vốn khơng phải tiêu dùng.

Áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, cùng với

hoạt động nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh đã khiến cho nhu cầu vay vốn ngoại tệ

và tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp gia tăng. Điều này đã khiến cho lãi suất

huy động USD được điều chỉnh tăng khá cao



3.1.2. Năm 2010

Lãi suất huy động ổn định trong 3 quý đầu năm và tăng cao trở lại vào cuối năm nhằm

kiềm chế lạm phát.NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng VND ổn định ở mức 8% trong

suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm

trước sức ép của lạm phát. Tính đến cuối năm 2010, mặt bằng lãi suất huy động VND

khoảng 2,4-3,0% đối với không kỳ hạn; 12,0-13,5% đối với cá kỳ hạn dưới 12 tháng; và

12,0-13,0% với kỳ hạn trên 12 tháng. Nguyên nhân là do: (i) lạm phát có dấu hiệu tăng

mạnh, ghi nhận ở mức 11,75% trong năm 2010 và cao hơn so với mục tiêu của Chính phủ

(8%); (ii) chính sách tiền tệ vẫn duy trì trạng thái nới lỏng với tăng trưởng tín dụng cả

năm ở mức 27,65%; và (iii) tỷ giá USD/VND tăng gần 8% so với thời điểm đầu năm.

Lãi suất huy động tăng cao đã đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao trong điều kiện áp

dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận. Đến tháng 7/2010, để tạo sự thống nhất về mặt bằng lãi

suất huy động trên thị trường, NHNN và Hiệp hội Ngân hàng đã yêu cầu các NHTM

đồng thuận giảm lãi suất huy động vốn bằng VND để góp phần thực hiện hạ mặt bằng lãi

suất của thị trường theo Nghị quyết 23/NQ-CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ, tạo điều

kiện cho các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế tiếp cận được với vốn của khu vực

ngân hàng khi mà tăng trưởng tín dụng có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ trong những

tháng đầu năm. Lãi suất cho vay trong hai tháng cuối năm ở mức khá cao (khoảng 14,518%).

Lãi suất huy động USD không kỳ hạn phổ biến từ 0,2-0,5%/năm, dưới 12 tháng từ 3,55,2%/năm, trên 12 tháng từ 4,2-5,6%. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 5,56,5%/năm đối với ngắn hạn, 6-8%/năm đối với trung và dài hạn.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1  Quy mô vốn chủ sở hữu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×