Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những yếu tố chính tác động đến CCVL từ năm 2007-2012

Những yếu tố chính tác động đến CCVL từ năm 2007-2012

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

nhưng không vững chắc, thành phần xuất khẩu của Việt Nam chưa đa dạng và phụ thuộc

nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào nhập từ nước ngoài và một số mặt hàng chủ lực với

giá trị gia tăng thấp. Tình trạng đó dẫn đến kết quả tất yếu là cán cân thương mại rơi vào

trạng thái thâm hụt.

2.1.2. Nhu cầu và chi phí nhập khẩu



Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Việc đẩy mạnh cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khiến cho nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ

tùng để mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các ngành đều tăng mạnh. Trong cơ cấu

hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011, nhóm hàng tư liệu sản xuất luôn

chiếm tỷ trọng rất cao, trên 90%. Bên cạnh đó, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, việc dỡ bỏ

các rào cản thương mại đã khuyến khích đầu tư nước ngồi vào Việt Nam tăng lên, các loại

hàng tiêu dùng của nước ngoài đồng loạt đổ bộ vào chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Lượng

hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu cũng tăng mạnh so với trước đó.

2.1.3. Chính sách tỷ giá của Việt Nam



Chế độ tỷ giá của Việt Nam chưa đảm nhiệm được chức năng điều chỉnh cán cân

thương mại. Trong các năm 2006, 2007 và 2009, tốc độ nhập siêu ngày càng tăng mạnh

nhưng tỷ giá thì hầu như khơng thay đổi. Hơn nữa, việc Việt Nam tăng tỷ trọng nhập khẩu ở

những thị trường mà đồng bản tệ tăng giá so với đồng USD cũng là một trong những tác

nhân gây ra tình trạng thâm hụt cán cân thương mại. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài

chính tồn cầu năm 2008, Chính phủ Mỹ đã chuyển sang chính sách đồng USD yếu dẫn đến

việc đồng EUR, JPY và CNY tăng giá so với USD. Trong khi Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng

xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam thì thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam lại là các

nước Ðông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc và EU, do đó, khiến Việt Nam bị thiệt một khoản

đáng kể khi thanh toán trên thị trường quốc tế bằng đồng USD.

2.1.4. Chính sách tài khóa



Việt Nam sử dụng các rào cản phi thuế quan đối với hàng nhập khẩu như sử dụng

biện pháp cấp phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan (theo cam kết gia nhập WTO, Việt

Nam đã bảo lưu được quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 4 nhóm mặt hàng là:

đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối), các loại phí phụ thu.Bên cạnh đó, kiểm sốt chi

tiêu của Chính phủ, nâng cao hiệu quả đầu tư công cũng tác động mạnh đến cán cân vãng lai.

2.2.



Ðối với cán cân dịch vụ



Việt Nam nằm ở khu vực có vị trí địa lý và khí hậu thuận lợi, nhiều danh lam

thắng cảnh cùng truyền thống lịch sử hào hùng rất thích hợp để phát triển ngành du lịch.

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có một chiến lược lâu dài và toàn diện trong việc phát triển

ngành du lịch và giới thiệu hình ảnh đất nước đến bạn bè thế giới: chưa đầu tư nhiều vào

tôn tạo cảnh quan, bảo vệ mơi trường, chưa có nhiều chiến dịch quy mô để quảng bá về

15



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

đất nước, con người Việt Nam, các địa phương nơi có địa điểm du lịch mới chỉ chú trọng

đến khâu thu hút khách mà chưa chú trọng đến việc giữ chân khách hàng bằng chất lượng

và thái độ phục vụ… Ðây là những điểm cần khắc phục để thu hút nhiều lượt khách du

lịch đến Việt Nam hơn.

Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ như vận tải, bảo hiểm, bưu chính viễn thơng, tài

chính, ngân hàng ở trong nước chưa được phát triển do thời gian hội nhập với quốc tế

chưa lâu, hơn nữa, lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các cơng ty nước ngồi cung

cấp giá cả rẻ hơn, đã có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực dịch vụ này và tạo dựng

được uy tín trên thị trường. Vì vậy, nhập khẩu dịch vụ của nước ta vẫn còn khá cao, gây

ra khoản thâm hụt lớn trong cán cân dịch vụ cũng như cán cân vãng lai.

2.3.



Ðối với cán cân thu nhập



Trạng thái thâm hụt cao của cán cân vãng lai ngoài nguyên nhân do cán cân

thương mại và cán cân dịch vụ thâm hụt còn có một phần do thâm hụt cán cân thu nhập

gây nên. Như đã phân tích ở trên, các khoản thu nhập ròng từ đầu tư đóng vai trò đáng kể

trong cán cân thu nhập. Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ sở hạ tầng

còn yếu nên rất cần nguồn vốn đầu tư thơng qua hình thức đầu tư trực tiếp và vay nợ

nước ngoài. Trong khi thu nhập từ đầu tư của Việt Nam không lớn (chủ yếu là lãi của các

khoản tiền gửi của người Việt Nam tại các ngân hàng ở nước ngoài nhưng số lượng và

giá trị các khoản tiền này không đáng kể, số lượng các dự án đầu tư trực tiếp của Việt

Nam ra nước ngoài cũng rất ít và giá trị khơng lớn) thì việc luồng vốn FDI và vay nợ

nước ngoài thu hút được trong thời gian qua tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO

sẽ khiến các khoản lãi đến hạn phải trả và các khoản lợi nhuận phải chia cho các nhà đầu

tư nước ngoài tăng mạnh, dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thu nhập.

Ðối với các khoản thu nhập của người lao động ở nước ngoài, mặc dù số lượng lao

động xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác tăng nhanh qua các năm nhưng hầu hết

lao động đều chỉ ở trình độ phổ thơng nên thu nhập từ tiền lương của họ rất thấp. Trong

khi đó, các lao động là người không cư trú ở Việt Nam chủ yếu là đội ngũ lao động có

chất lượng cao từ các nước phát triển nên khoản thu nhập mà phía Việt Nam phải chi trả

cho họ là khơng nhỏ. Ðây cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng thâm hụt cán cân

thu nhập của Việt Nam.bằng ngoại tệ, có lẽ có tác dụng trong ngắn hạn, song áp lực có

thể đang gia tăng do cầu bị dồn nén.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết đã mua vào khoảng 6 tỉ USD trong giai

đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm nay để tăng mức dự trữ ngoại hối lên khoảng hai tháng

nhập khẩu. Tuy nhiên, tiền đồng đã bắt đầu mất giá so với đô-la Mỹ trở lại trong những

tháng gần đây, mặc dù dòng vốn vào vẫn cao hơn so với thâm hụt cán cân vãng lai. Sự

16



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

mất giá của tiền đồng là do lòng tin của các chủ thể trong nước bị giảm sút, điều này lại

do những biến động giá vàng, kỳ vọng lạm phát và biến động kinh tế tồn cầu gây ra.

Trong điều kiện đó, các chủ thể tham gia thị trường thường chuyển hướng nắm giữ

tài sản sang ngoại tệ, vì ngoại tệ được coi là nơi cất giữ tài sản an toàn hơn. Để đáp lại,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã dần dần hạ thấp tỉ giá tham chiếu thông qua những đợt

điều chỉnh nhỏ, và can thiệp vào thị trường ngoại hối vào tháng 10/2011. Áp lực tỷ giá dự

kiến sẽ gia tăng vào thời điểm cuối năm vì cầu ngoại tệ đã tăng trong những tháng cuối

năm 2011 để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhập khẩu và hàng loạt các khoản vay ngân

hàng bằng ngoại tệ, dù dao động về tỉ giá hối đối có thể tránh được.

3.

Phân tích tài khoản vốn và tài chính 2007 -2012:

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, chúng ta đã thực hiện lộ trình nới

lỏng các hạn chế về quy mơ và lĩnh vực hoạt động của các định chế nước ngoài tại khu

vực tài chính- ngân hàng ở Việt Nam theo cam kết WTO thì dòng vốn trực tiếp và gián

tiếp gia tăng nhanh chóng.

Bảng tài khoản vốn và tài chính

USD million

Capital account

Direct investment

Portfolio investment

Other short-term capital

Other long-term capital

Money and deposits

Net errors and omissions

Overall balance

Monetary movements x

< source: ADB >

3.1.



2007



10199



2008

12341

9279

-578

1971

992

677

-1045

473



2009

6755

6900

-71

256

4473

-4803

-9022

-8875



2010

6201

7100

2370

1043

2751

-7063

-3679

-1765



2011

5921

6480

1412

1615

3226

-6812

-4998

1149



-10199



-473



8875



1765



-1149



17730

6516

6243

79

2269

2623

-439



Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).



Qua bảng số liệu , tài khoản vốn của Việt Nam đạt mức thặng dư qua các năm,

trong đó vốn FDI tăng đáng kể. Đặc biệt 2008 mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế

thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp nhiều bất ổn, nhưng thu hút và sử dụng vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước đạt khoảng 70 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới

nay. Đây là thành quả của chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của cơ quan quản lý

hoạt động FDI từ trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh

doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thơng thống, phù hợp với cam kết quốc tế khi Việt

Nam gia nhập .

17



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

Biểu đồ: đăng ký và giải ngân FDI ở Việt Nam



Bước qua năm 2009 là một năm đầy thách thức đối với thu hút FDI vào Việt Nam.

Nền kinh tế Việt Nam vừa vượt qua những khó khăn của năm 2008 như lạm phát cao,

thâm hụt thương mại lớn, thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh… Theo số liệu do Bộ

Kế hoạch và Đầu tư cơng bố thì trong năm 2009, Việt Nam thu hút được tổng cộng hơn

21 tỷ USD đầu tư ( chỉ bằng 30% so với năm 2008).

Năm 2010, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam có giảm, nhưng theo

đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng

cao nhất thế giới trong năm 2010 và là địa chỉ đầu tư hàng đầu đối với các nhà đầu tư

nước ngoài. Trong năm này, Việt Nam đã thu hút được 18,59 tỉ USD vốn đầu tư nước

ngoài đăng ký (gồm cả cấp mới và tăng vốn). Tuy chỉ bằng 82,2% so với cùng kỳ năm

2009 và gần đạt mục tiêu cho năm 2010.

Vốn thực hiện của khu vực FDI năm 2011 đạt 11 tỷ USD, bằng mức thực hiện của

năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Xuất khẩu của khu vực FDI

(kể cả dầu thô) ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,

tăng 39,3% so với năm 2010, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế

trong nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI (không kể dầu thơ) ước đạt 47,2 tỷ

USD, góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực

FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010. Thu nội địa từ khu vực FDI năm 2011

khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2010 (3,04 tỷ USD).

Nhìn chung FDI của năm 2012 mặc dù có sự sụt giảm cả về số vốn thu hút và giải

ngân, tuy nhiên xét trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều khó khăn thì những thành

quả đạt được cũng không quá bi quan. Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và đầu tư, tổng số

vốn FDI giải ngân trong năm 2012 đạt 10,46 tỷ USD, bằng 95,1% so với mức 11 tỷ USD

của năm 2011.

Về cơ cấu của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Với đặc tính nguồn lao

động trẻ, giá rẻ thu hút nhiều Nhà Đầu tư Nước ngoài, nên phần lớn FDI đổ vào khu vực

chế biến chế tạo, chiếm phần lớn trong tổng FDI vào Việt Nam năm 2011 và 2012. Điều

này cho thấy, nếu Việt Nam có một kết cấu hạ tầng tốt và ngành công nghiệp phụ trợ phát

triển đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp FDI, thì trong những năm tới, việc thu

hút FDI sẽ thuận lợi hơn.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những yếu tố chính tác động đến CCVL từ năm 2007-2012

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×