Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

Với VN năm 2007 một năm đặc biệt nhưng trong năm này hầu hết các nước trong

khu vực châu Á đều có thặng dư trong tài khoản vãng lai trong khi đó VN lại thâm hụt

với mức độ gần 7 tỷ USD.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007 đã lan nhanh và

ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ cuộc

đại suy thoái 1929-1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng lan tràn trên diện rộng,

không chỉ trong hoạt động của các ngân hàng mà tất cả của nền kinh tế, các thị trường

bước vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng, cán cân vãng lai của hầu hết các quốc gia đều

bị ảnh hưởng, trong đó có VN.

Theo số liệu ước tính của WB , trong năm 2007, 2008 cán cân vãng lai của VN

thâm hụt 6,953 tỷ USD, 10,787 tỷ đơ tương đường 10% và 12% GPD, vượt ngưỡng an

tồn 5% GDP 2 lần, tất cả những con số này cho thấy thâm hụt cán cân vãng lai của VN

thật sự đáng bảo động. Nguyên nhân do những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh

tế thế giới tới nền kinh tế VN, lạm phát trong nước tăng cao trong những tháng đầu năm

2008, giá xăng dầu thế giới tăng cao…sang năm 2009 thâm hụt cán cân vãng lai tuy có

giảm nhưng vẫn ở mức cao.

Cán cân thanh tốn năm 2010 nước ta vẫn thâm hụt 4 tỷ USD, tuy có cải thiện hơn

so với năm 2009 là 6,93 tỷ USD. Tuy nhiên, tính một cách chi tiết thì con số này vào

khoảng 2,5 tỷ USD. Do lượng kiều hối đạt khoảng 8,4 tỷ USD, FID, FII, ODA đều đạt

kết quả tốt.

Năm 2011 cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển biến

tích cực. Cụ thể là sau hai năm liên tục thâm hụt (năm 2009 thâm hụt 8,9 tỷ USD, năm

2010 thâm hụt 1,6 tỷ USD), năm 2011 cán cân tổng thể của Việt Nam có thể thặng

dư khoảng 1,6 tỷ USD. Đây được xem như điểm sáng nhất trong bức tranh vĩ mô Việt

Nam, góp phần bổ sung vào nguồn dự trữ ngoại hối đang ở mức khiêm tốn của Việt Nam

hiện nay.

Năm 2012 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 197.280 triệu USD,

tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, xuất khẩu đạt 98.555 triệu USD, tăng

18,7% và nhập khẩu là 98.730 triệu USD, tăng 6,4%, nhập siêu của cả nước là 175 triệu

USD, bằng 0,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Về tổng thể, cán cân thương mại đã

có sự cải thiện đáng kể.



7



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

1.1.



Cán cân thương mại:



1.1.1. Giai đoạn từ 2008-2010



Năm 2008. Cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt cao hơn năm 2007, lên tới

12,782 tỷ USD Nguyên nhân chính là do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng cao và khủng

hoảng khiến các nước hạn chế nhập khẩu. Theo tổng cục thơng kê, kim ngạch hàng hóa

xuất khẩu tháng 12.2009 ước đạt 4.9 tỷ USD , tăng 16,2 % so với tháng trước chủ yêu do

sản lương dầu thô khai thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt may mạnh hơn vào tháng cuối

năm và lượng gao xuất khẩu đã tăng trở lại.

Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 62685 ty USD tăng

29,5% so với năm 2007, nhóm hàng nơng sản chiếm 16,3% trong đó khu vực có vốn đầu

tư nước ngồi (kể cả dầu thô (đạt 34,685 tỷ USD, tăng 25,7 % chiếm 46,7 % tổng kim

ngach xuất khẩu, khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD tăng 34,7 % chiếm 50,3%

Trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2008 nhóm hàng cơng nghiệp nặng và

khống sản chiếm tỷ trọng 31% nhóm hàn nơng sản chiếm 16,3%.



Từ bảng số liệu của IMF, chúng ta nhân thấy thâm hụt cán cân thương mại VN gia

tăng rất nhanh qua các năm, trong khi IMF dự báo mức thâm hụt cán cân thương mại



8



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

năm 2009 là 7 tỉ USD trong bối cảnh suy thối kinh tế, thì thơng tin 11/2009 cho biết, bộ

KH và ĐT đã ước tính con số đó cho cả năm 2009 là 11 tỉ USD.

Thông tin từ Ngân hàng nhà nước chi nhánh TPHCM cho biết trong 10 tháng đầu

năm 2009, lượng kiều hối nhận được tại các ngân hàng trên địa bàn vào khoảng 2,6 tỉ

USD chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Chúng ta biết rằng, TPHCM là nơi nhận

gần 60% tiền kiều hối cả nước, con số kiều hối cả nước nhận được trong năm 2009 6 tỉ

USD.

Trong năm 2010 bức tranh xuất khẩu của VN đã có phần sáng sủa hơn là số liệu từ

trong cục thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu của VN đạt 71,6 tỉ USD tăng 25,5% so với

năm 20009, về giá trị kim ngạch xuất khẩu của VN đạt 71,6 tỉ USD tăng 25,5 % so với

năm 2009, về giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 14,5 tỉ USD, Năm 2010 là năm thành cơng

của các DN xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,8 tỉ USD tăng 27,8% so với năm

2009 và chiếm 54,2% tổng kim ngach của cả nước, xuất khẩu của các DN trong nước đạt

32,8 tỉ USD tăng 22,7% so với năm 2009

Nhiều mặt hàng trong năm 2010 tăng mạnh về số lượng xuất khẩu giúp duy trì

tăng trưởng xuất khẩu và thể hiện được quy mơ mở rộng sản xuất, lượng hàng công

nghiệp tăng lên đã góp phần bù dắp cho lượng hàng khống sản dầu thô giảm mạnh ( dầu

thô và than đá giảm 3,8 tỷ USD, giá xuất khẩu năm 2010 của nhiều mặt hàng cũng tăng

mạnh, trong đó nhiều mặt hàng được hưởng lợi từ tăng giá thế giới như gao, café, cao su

dầu thô, than đồng thời hưởng lợi các vụ thiên tai, hạn hán, Trung Quốc một số hàng hóa

tăng giá khá cao do hàm lượng chế biến tăng lên như dệt may, thủy sản, gỗ, dây và cáp

điền.

Về nhập khẩu năm 2010 của cả nước ước đạt 84 tỷ USD tăng 20% so với năm

2009, về giá trị tương đương tăng 14 tỷ USSD, trong đó doanh nghệp trong nước nhập

khẩu 47,5 tỷ USD chiếm 56,6 tổng kim ngạch tăng 8,3 % so với năm 2009, các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 36,5 tỷ USD chiếm 43,4 % tổng kim ngach

và tăng 39,9% so với năm 2009.

Nhập siêu cả nước 12,3 tỷ USD thấp hơn so với dự báo đầu năm 2010 là 13,5 tỷ

USD, bằng 17,3 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đạt mục tiêu chính phủ đề ra.

Một số hàng hóa cần nhập khẩu giảm khá mạnh năm qua là clinker giảm 38%,

xăng dầu giảm 28,6 %, khí đố hóa lỏng giảm 14%, phân bón giảm 22% tháp các loại

giảm 10%, ô tô nguyên chiếc giảm 45%.. chủ yếu do sản xuấ trong nước phần nào đáp

ứng được nhu cầu. Điều này khơng dễ dàng gì vì giá cả trên thế giới đang tăng, trong khi

đó các biện pháp kiểm sốt chặt chẽ nhập khẩu của VN lại chưa thể một sớm một chiều

9



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

triển khai được, ví dụ việc xây dựng và thực hiển các hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập

khẩu.

1.1.2. Giai đoạn từ 2011- 2012



Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoávà cán cân thương mại

của Việt Nam giai đoạn 2001-2011



Nhìn lại năm 2011, cán cân thương mại của kinh tế nước ta có chuyển biến tích

cực. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 12/2011 đạt

18,44 tỷ USD, tăng nhẹ 0,9% so với tháng trước đó và tăng 12,6% so với tháng 12/2010.

Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,09 tỷ USD, tăng 2,6 % so với tháng 11/2011; nhập

khẩu là 9,36 tỷ USD, giảm 0,7%. Kết quả là cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam

trong tháng 12 thâm hụt 270 triệu USD, giảm mạnh 52,4% so với tháng trước và bằng

3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa lớn hơn nhiều so với

tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng

giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong năm 2011 ước thực hiện đạt mức 96,257 tỷ

USD, tăng khoảng 33,25% so với cùng kỳ năm trước. Sự tăng trưởng mạnh của kim

ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2011 chủ yếu là do sự đóng góp của yếu tố

tăng giá với đơn giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới

năm 2011 đã tăng cao hơn nhiều so với năm 2010. Theo đánh giá thì xuất khẩu tăng có

2/3 là do yếu tố giá, 1/3 do lượng, trong đó về lượng thì nhiều hàng nơng, lâm, thủy sản

tăng nhưng nhóm hàng này bao giờ cũng có giới hạn, khơng thể tăng 10-20% nhưng

trong lĩnh vực công nghiệp.

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong năm 2011 ước đạt 105,774 tỷ USD,

tăng 26,9% so với cùng kỳ của năm trước. Tương tự như trường hợp xuất khẩu, nguyên

nhân quan trọng dẫn tới sự tăng mạnh kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong năm 2011 là

10



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

đơn giá nhiều mặt hàng trên thị trường quốc tế tăng cao, điển hình là giá bông tăng 72%;

giá xăng, dầu tăng 46%; giá cao su tăng 22%.

Mặc dù nhập siêu cao (9,84%), nhưng Việt Nam nhận được lượng kiều hối tăng (9

tỷ USD so với 8 tỷ USD năm 2010), khiến cho cán cân tài khoản vãng lai giảm mạnh.



Xuất khẩu năm 2012 diễn biến theo hướng tích cực, tăng trưởng xuất khẩu đã vượt

mức kế hoạch đề ra và cao hơn so với kim ngạch xuất khẩu của năm 2011. Theo số liệu

của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 15/11/2012, xuất khẩu đạt 98.555 triệu USD, tăng

18,7% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đạt 54.718 triệu USD chiếm tới 55,5% tổng giá

trị kim ngạch của cả nước và tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2011. Trong bối cảnh kinh

tế thế giới gặp nhiều khó khăn khiến cho cầu hàng xuất khẩu giảm thì tốc độ tăng trưởng

xuất khẩu năm 2012 của Việt Nam dù thấp hơn so với cùng kỳ năm 2011 (tăng 34,7%)

vẫn là một kết quả tương đối tốt.

Nhập khẩu 11 tháng đạt 98.729 triệu USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2011,

trong đó, kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI) đạt 52.037 triệu USD, chiếm tới 52,7% kim ngạch nhập khẩu của cả nước và tăng

23,8% so với cùng kỳ năm 2011.

1.2.



Cán cân dịch vụ:



11



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

Một điều dễ nhận thấy là đối với nhiều nước phát triển thì cán cân dịch vụ là một

phần quan trọng trong cán cân vãng lai nói riêng và cán cân thanh tốn quốc tế nói chung,

tuy nhiên đối với VN thì cán cân dịch vụ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cán cân vãng

lai cũng như toàn bộ cán cân thanh tốn. Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy quy mơ xuất

nhập khẩu dịch vụ nói chung còn rất nhỏ.

Mặt khác, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ còn một số điểm bất hợp lí và chuyển dịch

chậm. Dịch vụ du lịch luôn chiếm tỉ trong cao nhất nước tốc độ tăng còn thấp và mật độ

khách du lịch quốc tế đến VN còn thấp so với các nước trong khu vực

Ngoài du lịch một số dịch vụ khác chiếm tỉ trọng rất nhỏ như dịch vụ bảo hiểm chỉ

chiếm 1,1% dịch vụ bưu chính viễn thơng chiếm tỉ trọng 1,7% dịch vụ tài chính chỉ

chiếm 5,5%

Bảng : Cán cân dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2007-2011

Năm



2007



2008



2009



2010



2011



Khoản thu



6030



7041



5766



7460



8879



Khoản chi



6924



7956



6895



9900



11859



Dịch vụ ròng



-894



-915



-1129



-2440



-2980

(đơn



vị:



Triệu USD) Nguồn:Tổng cục thống kê

Xét một cách khái quát thì cán cân dịch vụ của nước ta hầu hết đều thâm hụt qua

các năm. Trong năm 2009, cán cân thanh toán của VN thâm hụt 1129 triệu đô và trong

năm 2010 cán cân dịch vụ của chúng ta lại bị thâm hụt 2240 triệu đô và năm 2011 là

2980 triệu đô.

1.3.



Cán cân thu nhập



Cán cân thu nhập của Việt Nam 2006-2011

Năm



2006



2007



2008



2009



2010



2011



Các khoản thu



0,67



1,09



1,36



0,8



0,5



0,4



Các khoản chi



2,1



3,26



5,76



3,8



5,0



5,4



Thu nhập ròng



-1,43



-2,17



- 4,4



-3,0



-4,6



-5,1



(Đơn vị: Tỷ USD) Nguồn: IMF Country Report Vietnam)



12



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

Theo nguyên tắc chung của IMF, cán cân thu nhập của Việt Nam bao gồm các

khoản thu nhập của người lao động (các khoản tiền lương, tiền thưởng) và thu nhập của

nhà đầu tư (lãi từ hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp) thuộc các đối tượng người Việt

Nam cư trú ở nước ngoài và người không cư trú ở Việt Nam. Nhưng do thiếu sót thống

kê, các số liệu về thu nhập lao động khơng có sẵn. Do đó, trong cán cân thanh tốn quốc

tế của Việt Nam cũng như các nước khác thường chỉ tổng hợp và cung cấp số liệu về thu

nhập ròng nói chung và thu nhập ròng đầu tư. Thâm hụt cán cân thu nhập gia tăng do

phần thu của các hạng mục thu nhập đầu tư (gồm thu lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng,

thu cổ tức từ hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngồi và đầu tư vào chứng

khốn do người khơng cư trú phát hành) tăng với tốc độ thấp hơn tốc độ tăng chi của các

khoản mục này.

Các khoản thu được phản ánh trong cán cân thu nhập còn bao gồm cả các khoản

tiền lương, tiền thưởng của người cư trú làm việc tại nước ngoài. Trong những năm gần

đây thì số lượng người Việt Nam làm việc tại nước ngồi tăng lên nhanh chóng do những

chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động của Nhà nước. Năm 2006 đạt 78.855 người,

năm 2007 tăng lên 79.950 người. Năm 2011, nước ta đã xuất khẩu trên 88.000 lao động

với 4 thị trường xuất khẩu trọng điểm là: Ðài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và Nhật Bản

(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2011). Ðây là một trong những biện pháp giúp

tạo công ăn việc làm đồng thời tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể bổ sung và bù đắp cán cân

thu nhập và cán cân vãng lai của Việt Nam.

1.4.



Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều



Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều bao gồm các khoản chuyển giao bằng

tiền, hiện vật mang ý nghĩa là quà tặng, viện trợ, bồi thường của tư nhân và chính phủ.

Bảng dưới cung cấp số liệu về tình hình cán cân chuyển giao vãng lai một chiều của Việt

Nam trong giai đoạn 2006- 2011.

Trong giai đoạn 2006 - 2011, cán cân chuyển giao vãng lai của Việt Nam tăng

trưởng nhanh (bình quân tăng trưởng cả giai đoạn là 18,61%), trong đó năm 2007, mức

chuyển giao vãng lai ròng tăng đột biến 58,8% so với năm 2006. Nguyên nhân lượng

kiều hối tăng đột biến là do Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO cộng với

sự ổn định về chính trị, tăng trưởng kinh tế đứng ở mức cao, sự sôi động của thị trường

chứng khoán và thị trường bất động sản, sự cải thiện mạnh mẽ về môi trường đầu tư, thị

trường xuất khẩu lao động khởi sắc và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế cao lên. Từ năm

2007 đến nay, chuyển giao vãng lai ròng ln ở mức trên 6,4 tỷ USD. Các khoản chuyển

giao, đặc biệt là các khoản chuyển giao của tư nhân, đã góp phần không nhỏ vào việc cải

thiện cán cân vãng lai cũng như cán cân tổng thể. Từ số liệu có thể thấy các khoản

chuyển giao vãng lai của khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức chuyển giao

13



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

vãng lai ròng hàng năm của Việt Nam (trên 90%), trong đó các khoản chuyển giao của tư

nhân chủ yếu là các khoản kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài.

Năm



2006



2007



2008



2009



2010



2011



Chuyển giao tư nhân (ròng)



3,80



6,18



6,80



6,02



7,6



7,6



Chuyển giao chính thức (ròng)



0,25



0,25



0,51



0,4



0,3



0,3



Chuyển giao vãng lai ròng



4,05



6,43



7,31



6,42



7,9



7,9



Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều của Việt Nam 2006-2011

(Đơn vị: Tỷ USD) (Nguồn: IMF Country Report Vietnam )

Nhìn chung, cán cân thương mại có tác động quan trọng nhất đến trạng thái của

cán cân vãng lai và thâm hụt cán cân thương mại là nguyên nhân chính gây nên tình trạng

thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Ngồi ra, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập và

chuyển giao vãng lai một chiều cũng có những tác động nhất định tới cán cân vãng lai

của Việt Nam. Ðặc biệt, mức thặng dư trong chuyển giao vãng lai một chiều đã giúp cải

thiện một phần tình trạng thâm hụt của cán cân vãng lai.

2.



Những yếu tố chính tác động đến CCVL từ năm 2007-2012



2.1.



Ðối với cán cân thương mại



2.1.1. Tăng trưởng nhập khẩu và xuất khẩu



Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2007-2011

Năm

2007

2008

2009



2010



2011



Kim ngạch xuất Giá trị (Tỷ USD) 48,56

khẩu

Tăng trưởng (%) 21,9



62,69



57,1



72,2



96,9



29,1



-8,9



26,4



34,2



Kim ngạch nhập Giá trị (Tỷ USD) 58,92

khẩu

Tăng trưởng (%) 38,3



75,47



65,4



77,3



97,4



28,1



-13,3



18,3



25,9



Cán cân thươngmại (Tỷ USD)



-12,78



-8,3



-5,1



-0,4



-10,36



Nguồn: IMF Country Report Vietnam No 03/382, 06/423, 07/386, 09/110, 10/281,12/165.

Qua số liệu , ta thấy tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao nhưng nhìn chung vẫn

thấp hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu. Trong giai đoạn 2007 - 2011, tốc độ tăng trưởng

bìnhquân của kim ngạch xuất khẩu là 20,02%/năm trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu đạt

mức tăng trưởng 21,27%/năm. Xuất khẩu của Việt Nam tuy tăng trưởng tương đối cao

14



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

nhưng không vững chắc, thành phần xuất khẩu của Việt Nam chưa đa dạng và phụ thuộc

nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào nhập từ nước ngoài và một số mặt hàng chủ lực với

giá trị gia tăng thấp. Tình trạng đó dẫn đến kết quả tất yếu là cán cân thương mại rơi vào

trạng thái thâm hụt.

2.1.2. Nhu cầu và chi phí nhập khẩu



Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Việc đẩy mạnh cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khiến cho nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ

tùng để mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các ngành đều tăng mạnh. Trong cơ cấu

hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011, nhóm hàng tư liệu sản xuất ln

chiếm tỷ trọng rất cao, trên 90%. Bên cạnh đó, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, việc dỡ bỏ

các rào cản thương mại đã khuyến khích đầu tư nước ngồi vào Việt Nam tăng lên, các loại

hàng tiêu dùng của nước ngoài đồng loạt đổ bộ vào chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Lượng

hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu cũng tăng mạnh so với trước đó.

2.1.3. Chính sách tỷ giá của Việt Nam



Chế độ tỷ giá của Việt Nam chưa đảm nhiệm được chức năng điều chỉnh cán cân

thương mại. Trong các năm 2006, 2007 và 2009, tốc độ nhập siêu ngày càng tăng mạnh

nhưng tỷ giá thì hầu như khơng thay đổi. Hơn nữa, việc Việt Nam tăng tỷ trọng nhập khẩu ở

những thị trường mà đồng bản tệ tăng giá so với đồng USD cũng là một trong những tác

nhân gây ra tình trạng thâm hụt cán cân thương mại. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài

chính tồn cầu năm 2008, Chính phủ Mỹ đã chuyển sang chính sách đồng USD yếu dẫn đến

việc đồng EUR, JPY và CNY tăng giá so với USD. Trong khi Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng

xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam thì thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam lại là các

nước Ðông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc và EU, do đó, khiến Việt Nam bị thiệt một khoản

đáng kể khi thanh toán trên thị trường quốc tế bằng đồng USD.

2.1.4. Chính sách tài khóa



Việt Nam sử dụng các rào cản phi thuế quan đối với hàng nhập khẩu như sử dụng

biện pháp cấp phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan (theo cam kết gia nhập WTO, Việt

Nam đã bảo lưu được quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 4 nhóm mặt hàng là:

đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối), các loại phí phụ thu.Bên cạnh đó, kiểm sốt chi

tiêu của Chính phủ, nâng cao hiệu quả đầu tư công cũng tác động mạnh đến cán cân vãng lai.

2.2.



Ðối với cán cân dịch vụ



Việt Nam nằm ở khu vực có vị trí địa lý và khí hậu thuận lợi, nhiều danh lam

thắng cảnh cùng truyền thống lịch sử hào hùng rất thích hợp để phát triển ngành du lịch.

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có một chiến lược lâu dài và toàn diện trong việc phát triển

ngành du lịch và giới thiệu hình ảnh đất nước đến bạn bè thế giới: chưa đầu tư nhiều vào

tơn tạo cảnh quan, bảo vệ mơi trường, chưa có nhiều chiến dịch quy mô để quảng bá về

15



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

đất nước, con người Việt Nam, các địa phương nơi có địa điểm du lịch mới chỉ chú trọng

đến khâu thu hút khách mà chưa chú trọng đến việc giữ chân khách hàng bằng chất lượng

và thái độ phục vụ… Ðây là những điểm cần khắc phục để thu hút nhiều lượt khách du

lịch đến Việt Nam hơn.

Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ như vận tải, bảo hiểm, bưu chính viễn thơng, tài

chính, ngân hàng ở trong nước chưa được phát triển do thời gian hội nhập với quốc tế

chưa lâu, hơn nữa, lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các cơng ty nước ngồi cung

cấp giá cả rẻ hơn, đã có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực dịch vụ này và tạo dựng

được uy tín trên thị trường. Vì vậy, nhập khẩu dịch vụ của nước ta vẫn còn khá cao, gây

ra khoản thâm hụt lớn trong cán cân dịch vụ cũng như cán cân vãng lai.

2.3.



Ðối với cán cân thu nhập



Trạng thái thâm hụt cao của cán cân vãng lai ngoài nguyên nhân do cán cân

thương mại và cán cân dịch vụ thâm hụt còn có một phần do thâm hụt cán cân thu nhập

gây nên. Như đã phân tích ở trên, các khoản thu nhập ròng từ đầu tư đóng vai trò đáng kể

trong cán cân thu nhập. Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ sở hạ tầng

còn yếu nên rất cần nguồn vốn đầu tư thơng qua hình thức đầu tư trực tiếp và vay nợ

nước ngoài. Trong khi thu nhập từ đầu tư của Việt Nam không lớn (chủ yếu là lãi của các

khoản tiền gửi của người Việt Nam tại các ngân hàng ở nước ngoài nhưng số lượng và

giá trị các khoản tiền này không đáng kể, số lượng các dự án đầu tư trực tiếp của Việt

Nam ra nước ngồi cũng rất ít và giá trị khơng lớn) thì việc luồng vốn FDI và vay nợ

nước ngoài thu hút được trong thời gian qua tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO

sẽ khiến các khoản lãi đến hạn phải trả và các khoản lợi nhuận phải chia cho các nhà đầu

tư nước ngoài tăng mạnh, dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thu nhập.

Ðối với các khoản thu nhập của người lao động ở nước ngoài, mặc dù số lượng lao

động xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác tăng nhanh qua các năm nhưng hầu hết

lao động đều chỉ ở trình độ phổ thơng nên thu nhập từ tiền lương của họ rất thấp. Trong

khi đó, các lao động là người khơng cư trú ở Việt Nam chủ yếu là đội ngũ lao động có

chất lượng cao từ các nước phát triển nên khoản thu nhập mà phía Việt Nam phải chi trả

cho họ là không nhỏ. Ðây cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng thâm hụt cán cân

thu nhập của Việt Nam.bằng ngoại tệ, có lẽ có tác dụng trong ngắn hạn, song áp lực có

thể đang gia tăng do cầu bị dồn nén.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết đã mua vào khoảng 6 tỉ USD trong giai

đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 năm nay để tăng mức dự trữ ngoại hối lên khoảng hai tháng

nhập khẩu. Tuy nhiên, tiền đồng đã bắt đầu mất giá so với đô-la Mỹ trở lại trong những

tháng gần đây, mặc dù dòng vốn vào vẫn cao hơn so với thâm hụt cán cân vãng lai. Sự

16



GVHD: TH.s Nguyễn Thị Hồng Vinh

mất giá của tiền đồng là do lòng tin của các chủ thể trong nước bị giảm sút, điều này lại

do những biến động giá vàng, kỳ vọng lạm phát và biến động kinh tế tồn cầu gây ra.

Trong điều kiện đó, các chủ thể tham gia thị trường thường chuyển hướng nắm giữ

tài sản sang ngoại tệ, vì ngoại tệ được coi là nơi cất giữ tài sản an toàn hơn. Để đáp lại,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã dần dần hạ thấp tỉ giá tham chiếu thông qua những đợt

điều chỉnh nhỏ, và can thiệp vào thị trường ngoại hối vào tháng 10/2011. Áp lực tỷ giá dự

kiến sẽ gia tăng vào thời điểm cuối năm vì cầu ngoại tệ đã tăng trong những tháng cuối

năm 2011 để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhập khẩu và hàng loạt các khoản vay ngân

hàng bằng ngoại tệ, dù dao động về tỉ giá hối đối có thể tránh được.

3.

Phân tích tài khoản vốn và tài chính 2007 -2012:

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, chúng ta đã thực hiện lộ trình nới

lỏng các hạn chế về quy mô và lĩnh vực hoạt động của các định chế nước ngồi tại khu

vực tài chính- ngân hàng ở Việt Nam theo cam kết WTO thì dòng vốn trực tiếp và gián

tiếp gia tăng nhanh chóng.

Bảng tài khoản vốn và tài chính

USD million

Capital account

Direct investment

Portfolio investment

Other short-term capital

Other long-term capital

Money and deposits

Net errors and omissions

Overall balance

Monetary movements x

< source: ADB >

3.1.



2007



10199



2008

12341

9279

-578

1971

992

677

-1045

473



2009

6755

6900

-71

256

4473

-4803

-9022

-8875



2010

6201

7100

2370

1043

2751

-7063

-3679

-1765



2011

5921

6480

1412

1615

3226

-6812

-4998

1149



-10199



-473



8875



1765



-1149



17730

6516

6243

79

2269

2623

-439



Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).



Qua bảng số liệu , tài khoản vốn của Việt Nam đạt mức thặng dư qua các năm,

trong đó vốn FDI tăng đáng kể. Đặc biệt 2008 mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế

thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp nhiều bất ổn, nhưng thu hút và sử dụng vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước đạt khoảng 70 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới

nay. Đây là thành quả của chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của cơ quan quản lý

hoạt động FDI từ trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh

doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thơng thống, phù hợp với cam kết quốc tế khi Việt

Nam gia nhập .

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×