Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Chiết xuất, phân lập và tinh chế Nuciferin từ lá Sen

2 Chiết xuất, phân lập và tinh chế Nuciferin từ lá Sen

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.2.1 Qui trình chiết xuất alcaloid tồn phần từ lá cây Sen:

Cân khoảng 320 g bột dược liệu, làm ẩm bằng NH4OH 10%, thêm 2,5 lít

ethanol 96o và chiết nóng bằng cách đun hồi lưu cách thủy trong 2 giờ. Gạn

và lọc lấy dịch lọc, rửa lại bã dược liệu bằng ethanol. Dịch chiết ethanol được

cất thu hồi ethanol dưới áp suất giảm ở 60 oC. Hòa tan cắn bằng dung dịch HCl

5% (pH = 2). Tiến hành chiết (3 - 4 lần) đồng lượng dịch chiết acid với ether

dầu hỏa để loại tạp chất. Kiềm hóa dịch chiết acid bằng dung dịch amoniac

đặc tới pH = 10 - 11. Chiết 5 - 6 lần đồng lượng bằng cloroform (đến khi dịch

chiết nước cho phản ứng âm tính với thuốc thử Dragendorff), thu được dịch

chiết cloroform. Cất dưới áp suất giảm để thu hồi dung mơi cloroform, hòa tan

cặn thu được bằng 50 ml methanol và chuyển ra cốc có mỏ, bay hơi tới cạn,

sấy ở 60 oC trong 3 giờ, thu được 2,85 g alcaloid tồn phần.

Qui trình chiết xuất alcaloid toàn phần từ lá Sen được thể hiện tóm tắt như

sơ đồ ở Phụ lục 7.

3.2.2 Xây dựng qui trình phân lập Nuciferin từ alcoloid tồn phần của

lá Sen:

1. Chuẩn bị cột sắc kí: Dùng cột thủy tinh trung tính có đường kính 3

cm, chiều dài 50 cm, được lắp thẳng đứng trên giá, phía dưới cột có van để

điều chỉnh tốc độ dung mơi. Khóa van, cho một ít dung mơi rửa giải vào cột.

Lót một lớp bơng mỏng ở phía đáy cột, ngay trên van để chất nhồi sau khi được

nhồi vào cột không gây tắc cột.

24



Nhồi cột: Cân 50 g chất nhồi cột silica gel 60 (0,04 – 0,063 mm), cho

vào cốc thủy tinh có chứa 300 ml cloroform, khuấy đều rồi đổ từ từ lên cột.

Mở khóa cột cho dung mơi chảy từ từ để các hạt chất nhồi cột lắng xuống

(có thể dùng đũa thủy tinh có bọc cao su gõ nhẹ vào cột, để tăng nhanh quá

trình lắng), trong quá trình này luôn bổ sung dung môi lên cột, tránh để cột bị

khô. Ổn định cột trong khoảng 3 giờ và đến khi khoảng cách từ mặt trên lớp

chất nhồi đến mặt trên dung mơi rửa giải còn khoảng 1 cm thì đóng khóa cột.

2.Đưa mẫu lên cột: Hòa tan khoảng 2,85 g alcaloid toàn phần trong 10 ml

cloroform, thêm 5 g chất nhồi cột silica gel 60, trộn đều, cất thu hồi dung

môi được hỗn hợp bột tơi. Chuyển nhẹ nhàng vào cột, tránh xáo động lớp chất

nhồi trong cột, dùng pipet tráng vòng quanh bên trong cột trước khi thêm

dung môi rửa giải.

3.Dùng hỗn hợp dung môi n-Hexan : aceton : NH3 đặc (3 : 1 : 0,1) để

rửa giải. Tốc độ rửa giải 2 ml/phút (khoảng 40 giọt/phút). Bỏ khoảng 75 ml

dịch rửa giải đầu tiên và lấy 100 ml dịch rửa giải tiếp theo, cất thu hồi dung

môi được cặn, sấy dưới áp suất giảm ở 60 oC trong 4 giờ, sử dụng chất hút ẩm

là phosphor pentoxyd (P2O5) thu được khoảng 2,1 g sản phẩm phân lập

chứa hoạt chất Nuciferin khoảng 96,2%.

Qui trình phân lập Nuciferin từ alcaloid tồn phần được thể hiện tóm tắt

như sơ đồ ở Phụ lục 8.

3.2.3 Tinh chế Nuciferin

Tinh thể Nuciferin thu được sau khi phân lập được hòa tan trong một

lượng vừa đủ cloroform rồi chấm lên 3 bản mỏng silica gel tráng sẵn (Merck) và

được khai triển bằng 3 hệ dung môi khác nhau.

Hệ I: n-Hexan : aceton : NH4OH (3 : 1 : 0,1).

Hệ II: Cloroform : methanol (10 : 1).

Hệ III: Cloroform : ethyl acetat (5 : 1).

Phát hiện vết bằng thuốc thử Dragendorff. Soi dưới đèn tử ngoại ở bước

sóng 254 nm. Với cả 3 hệ dung mơi đều chỉ có một vết trên sắc kí đồ song

song với chuẩn liên kết chứng tỏ Nuciferin tinh chế được đã tinh khiết. Vì vậy,

để đơn giản qui trình tinh chế được lựa chọn là kết tinh lại nhiều lần trong

25



cloroform như sau: Hòa tan 2,1 g sản phẩm phân lập được ở trên trong 50 ml

cloroform, để yên 3 giờ trong ngăn mát tủ lạnh (nhiệt độ 2 - 8 oC) để tăng khả

năng kết tinh, lọc lấy tinh thể. Kết tinh lại 3 lần, sấy trong tủ sấy chân

không với phosphor pentoxyd (P2O5) thu được 2,0 g sản phẩm Nuciferin tinh

thể đạt độ tinh khiết 98,23 – 99,08%.

Nuciferin trong sản phẩm được khẳng định bằng phổ khối lượng, kết quả

được trình bày ở Hình sau.



Hình . Kiểm tra khối lượng phân tử của Nuciferin bằng phổ khối (ESI-MS)



Qui trình tinh chế Nuciferin được thể hiện tóm tắt như sơ đồ ở Phụ lục 9.



KẾT LUẬN

Ankaloic là một hợp chất rất phổ biến trong tự nhiên, đặc biệt trong rất

nhiều cây cỏ ở Việt Nam chúng ta, qua bài tìm hiểu này em cung biết được một

phần nào cách chiết xuất cũng như độc tính của nó dể có thể sử dụng đúng vào

mục đích cần dùng.

Trong q trình làm bài em cũng khơng tránh khỏi nhiều thiếu sót mong

26



thầy cơ và các bạn góp ý để em hồn thành tốt hơn bài tiểu luận của mình.

Em xin chân thành cảm ơn !



TÀI LỆU THAM KHẢO

[1] Trần Tử An (2002), Phương pháp chiết ứng dụng trong kiểm nghiệm

thuốc và độc chất, Tài liệu giảng dạy sau đại học, Trường Đại học Dược Hà Nội,

87-109.

[2] Nguyễn Kim Cẩn, Đinh Thị Thuyết (2001), “Phương pháp khối lượng

định lượng alcaloid toàn phần của lá Sen và sự thay đổi hàm lượng alcaloid theo

tuổi và thời vụ thu lá”, Tạp chí Dược liệu, 2+3 (6), 45-48.

[3] Đỗ Tất Lợi (2001), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb. Y học,

Hà Nội, 182 - 184.

27



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Chiết xuất, phân lập và tinh chế Nuciferin từ lá Sen

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×