Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giáo dục tiểu học.

Giáo dục tiểu học.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



Cụng lp



349



7.986



264.280



349



7.660 246.500



Dõn lp



1



5



123



1



5



Tng s



350



7.991



264.403



350



7.665 246.633



133



Nguồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002

Nhìn vào bảng số liêu trên ta có thể thấy số học sinh công

lập năm học 2001 – 2002 giảm 6,7% so với năm học 2000 –

2001. Số lớp cơng lập giảm 4,15%. Số học sinh dân lập có tăng

nhưng tăng ít chỉ tăng có 8,13% tức là tăng 10 học sinh.

Nhìn chung, việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục ở hệ

tiểu học còn hạn chế, tồn tỉnh hiện mới có 1 trường tiểu học dân

lập với qui mơ còn rất nhỏ. Q trính đa dạng hố các loại hình

trường lớp ở cấp tiểu học của tỉnh còn diễn ra chậm, chưa phát

triển. Nguyên nhân là do số trường công lập đã đáp ứng đủ nhu

cầu



học tập của con em nhân dân trong tỉnh và số lượng học



sinh hàng năm khơng những khơng tăng mà có xướng giảm: số

học sinh từ năm 1991 đến năm 2001 giảm 39.792 học sinh

( khoảng 4.000 học sinh/năm), nhịp độ giảm bình quân số học

sinh vào giai đoạn 1996 – 2000 là 2,4%

Tỷ lệ học sinh tiểu học so với số trẻ em trong độ tuổi (6-10

tuổi) năm 1991 là 109%, năm 1995 là 108% và năm 2001 là

100,5%. Điều này cho thấy kết quả của chương trình phổ cập

giáo dục tiểu học. Sau 5 năm thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

đúng độ tuổi, tỷ lệ trẻ nhập học và số học sinh tiểu học ổn định

dần, đến nay đã huy động được 99,8% trẻ 5 tuổi vào học lp 1.

29



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



i ng giỏo viờn tiểu học tỉnh Hà Tây những năm gần đây

phát triển nhanh, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu giáo

viên, đáp ứng nhu cầu dạy học. Đặc biệt những năm gần đây, số

lượng giáo viên tiểu học đã thừa về số lượng và vẫn có xu hướng

gia tăng.

Bảng 2: Số lượng giáo viên tiểu học

Năm học



Số lượng

viên



giáo Nhu

viên



cầu



giáo Thừa (+), thiếu

(-)



1997-1998



9.357



9.591



-234



1998-1999



9.487



9.390



+97



1999-2000



9.561



9.252



+309



2000-2001



9.617



9.190



+427



Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo - 2001

Về đầu tư cơ sở vật chất: Theo chủ trương phân cấp đầu tư

xây dựng, cơ sở vật chất các trường tiểu học, trung học cơ sở

chủ yếu do ngân sách địa phương đầu tư nên cơ sở vật chất các

trường tiểu học còn nhiều khó khăn. Năm học 2000-2001, tồn

tỉnh có 5.186 phòng học tiểu học, năm học 2001-2002 là 5.246

phòng. Với số lượng phòng học như trên, về cơ bản đã đáp ứng

nhu cầu về lớp học hiện nay, khơng còn tình trạng học ca 3. Tuy

nhiên, chất lượng phòng học còn rất hạn chế, tỷ lệ phòng học

đảm bảo tiêu chuẩn còn thấp, số lượng phòng học cao tầng đủ

tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ 28%, phòng cấp 4 tr lờn chim 62%,

phũng hc tm chim 10%.



30



Chuyên đề thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



Về đầu tư dụng cụ học tập: thiết bị, đồ dùng dạy và học còn

sơ sài, chủ yếu còn học chay.

2. Hệ trung học cơ sở.

Cũng như bậc tiểu học, hệ thống các trường trung học cơ sở

đã đảm bảo cho nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh.

Mỗi xã, phường trong tỉnh đều có ít nhất 1 trường trung học cơ

sở, hầu hết là các trường công lập. Số liệu về trường, lớp, học

sinh 2 năm học như sau:

Bảng 3: số lượng trường, lớp, học sinh trung học cơ sở

Chỉ tiêu



Năm học 2000- 2001



Năm học 2001-2002



Trường



Trường



Lớp



Học sinh



Lớp



Học

sinh



Công lập



328



5.020 202.011



328



5.809 208.254



Bán công



-



20



950



-



44



2.224



Dân lập



-



4



113



-



4



113



Tổng số

328

5.044 203.074 328

5.146 210.611

Nguồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002

Do thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình

triệt để nên những năm gần đây số lượng học sinh trung học cơ

sở tăng chậm, tốc độ tăng giảm dần. Năm học 2000-2001 có

203.074 học sinh, năm học 2001-2002 có 210.611 học sinh, như

vậy số học sinh chỉ tăng có 3,7% so với năm hc 2000 2001.



31



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



S trng trung học cơ sở tăng đều hàng năm, nhưng mức

tăng thấp. Năm 1992 có 318 trường, đến năm 2001 có 328

trường, như vậy trung bình hàng năm tăng là 0,31% trường, tức

là trung bình mỗi năm có một trường trung học cơ sở mới.

Từ năm 1999 , ngành giáo dục tỉnh bắt đầu thí điểm tuyển

sinh học sinh hệ bán công tại 14 trường THCS chất lượng cao

trong tỉnh, song việc đa dạng hố các loại hình trường lớp còn

chận, tồn tỉnh mới chỉ có một trường dân lập liên cấp 2- 3, với

quy mơ còn rất nhỏ: trường chỉ có 4 lớp với 113 học sinh và số

lượng học sinh không tăng qua hai năm học 2000 và 2001. Sau

khi bắt đầu thí điểm tuyển sinh hệ bán cơng vào năm 1999 thì

đến năm 2001 đã có 44 lớp, với 2244 học sinh. Số lượng và quy

mô trường lơp bán cơng còn hạn chế, năm 2001 số lớp bán công

chỉ bằng 0,86% số lớp công lập và chỉ thu hút được 1,06% tổng

số học sinh trung học cơ sở toàn tỉnh. Tuy nhiên so với năm

2000 số lớp đã tăng 120%, và số học sinh tăng 136%. Nhìn

chung, cơng tác thực hiện đa dạng hố các loại hình trường lớp

trung học cơ sở bước đầu đã có những kết quả tốt: phát triển

nhanh về số lớp cũng như số học sinh. Tuy nhiên các quy mơ của

loại hình bán cơng, dân lập còn nhỏ bé, chỉ có lớp bán cơng chứa

chưa có trường bán cơng, cơ sở vật chất của loại hình bán cơng

chủ yếu vẫn là của các trường công lập.

Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở những năm gần đây

đang dần được kiện toàn và tiêu chuẩn hóa. Mặc dù số lượng

giáo viên hàng năm vẫn tăng cao hơn tốc độ tăng học sinh nhưng



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giáo dục tiểu học.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×