Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY

HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



I. C IM T NHIN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ

TÂY.

1. Điều kiện tự nhiên , dân cư của tỉnh Hà Tây

1.1. Điều kiện tự nhiên

Hà Tây là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng bao bọc phía Tây

và Nam thủ đơ Hà Nội. Hà Tây có 12 huyện, 2 thị xã với 325 xã,

phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên khoảng 2.192 Km 2 , dân số

2,39 triệu người. Địa hình chia làm hai vùng khác nhau: Địa hình

đồng bằng tập trung ở phía đơng gồm 8 huyện thị xã với tổng

diện tích là 1.488 km 2 , địa hình đối núi phía tây gồm 6 huyện,

thị xã với diện tích tự nhiên 704 km 2 .

Về mặt tự nhiên, Hà Tây hình thành trong một khơng gian

với nhiều hình thái địa hình khác nhau đã tạo nên một vùng lãnh

thổ có sự tiềm năng về sự đa dạng sinh học: Có đồng bằng, có

đồi núi, có rừng, có hệ thống sơng lớn bao quanh, các sông nhỏ

phân bố trên lãnh thổ. Các điêu kiện này kết hợp với các lợi thế

tự nhiên khác nhau như vị trí địa lý, đã tạo nên các thế mạnh về

sản xuất nông nghiệp.

Hà Tây là tỉnh nằm cạnh Thủ đô Hà Nội và trong khu vực

kinh tế trọng điểm phía bắc, tạo cho Hà Tây có nhiêu thuận lợi:

Có một thị trường tiêu thụ lớn để có thể tiêu thụ các nơng sản

hàng hố, hàng tiểu thủ cơng mỹ nghệ, Hà Tây có đồng bằng phì

nhiêu có mức thâm canh cao, có vùng đồi gò với sinh thái đa

dạng nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú cú th phỏt trin

25



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



thnh khu vực bảo tồn thiên nhiên động thực vật quý hiếm, tạo

môi trường cảnh quan thiên nhiên cho du lịch, nghỉ ngơi, vui

chơi, giải trí.

1.2. Đặc điểm dân cư

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 1999, thì dân số

của tỉnh Hà Tây là 2.378.438 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

bình quân hàng năm là 1,5 %/năm. Mật độ dân số trung bình tỉnh

Hà Tây



1.083 người/Km 2 , trong đó khu vực đồng bằng trên



1.000 người/Km 2 , vùng đồi núi 791 người/Km 2 . Dân số sống ở

nông thôn 2,2 triệu người chiếm gần 90%, sống ở thành thị hơn

10%. Hà Tây có 9 xã đồng bào dân tộc, trong đó có 7 xã ở vùng

núi Ba Vì, 1 xã thuộc huyện Quốc Oai, 1 xã thuộc huyện Mỹ Đức

với số dân khoảng 30.000 người, chủ yếu là người dân tộc

Mường.

Lao động trong độ tuổi năm 1996 là 1.147.800 nguời, năm

1999 là 1.292.000 người, trong đó 80% là lao động nơng nghiệp,

tốc độ tăng bình quân là 2%. Hà tây là tỉnh có nguồn lao động

dồi dào, số người lao động trong đội tuổi có xu hướng trẻ hố,

có 1/3 số xã trong tỉnh có làng nghề tiểu thủ cơng nghiệp với

200.000 lao động có tay nghề, chất lượng lao động ở nơng thơn

có trình độ văn hoá khá, chất lượng lao động trong các cơ quan

quản lý nhà nước và khối kinh doanh đáp ứng được với yêu cầu

phát triển kinh tế – xã hi ca tnh trong giai on mi.



26



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



TrÇn



Bên cạnh nhưng thuận lợi, điều kiện tự nhiên và dân cư

cũng tạo ra nhưng khó khăn cho Hà Tây trong phát triển kinh tế

cũng như phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo:

- Có mật độ dân số cao, hiện tại kinh chủ đạo tồn tỉnh

là nơng nghiệp, trong khi đó bình qn đất nơng

nghiệp trên đầu người rất thấp chỉ có 514 m 2 .

- Do vị trí địa lý và cấu tạo địa hình nên Hà Tây có một

phần lãnh thổ thuộc các huyện đồng bằng nằm trong

vùng phân lũ của quốc gia nên việc bố trí sử dụng, xây

dựng cơ sở vật chất cho các cơng trình gặp khó khăn

như : trường lớ, đường xá... Đặc biệt là trong mùa lũ

học sinh gặp rất nhiều khó khăm trong việc đi lại và

học tập.

2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

Kể từ năm 1996 đến nay, nền kinh tế Hà Tây đã có những

bước chuyển biến tích cực. Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình

quân hàng năm 7,3%, năm 2000 GDP bình quân đầu nguời đạt

315 USD/năm, khu vực nông thôn đạt khoảng 150 USD/năm.

Bình quân GDP/người của Hà Tây năm 2000 gần bằng 60% mức

bình quân cả nước và 48% bình quân vùng trọng điểm Bắc Bộ.

Hà Tây là tỉnh có trình độ dân trí cao,sự nghiệp giáo dục

đào tạo phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, cả tỉnh có

hơn 70.000 người đi học, chiếm gần 30% dân số. Là tỉnh được

Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận t chun quc gia v xúa mự

27



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



TrÇn



chữ và phổ cập giáo dục tiểu học năm 1992, đạt chuẩn phổ cập

giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2000, đạt chuẩn phổ cập giáo

dục trung học cơ sở năm 2001. Người lao động được đào tạo

chiếm 14,5%.

II. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO PHỔ

THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY

1. Giáo dục tiểu học.

Do tốc độ tăng dân số tỉnh Hà Tây hàng năm vẫn ở mức

trên 1% nên số lượng học sinh đến trường vẫn ngày càng tăng,

tuy nhiên tốc độ tăng giảm dần, đặc biệt đến năm học 2001-2002

số lượng học sinh đã giảm so với các năm học trước. Năm 1992,

toàn tỉnh có 305 trường tiểu học, đến năm 2002 có đến 350

trường, bình quân tăng 0,6%/năm. Mỗi xã, phường trong tỉnh đều

có ít nhất 1 trường tiểu học, một số nơi ở mỗi cụm dân cư có 1

cụm lớp học, đảm bảo thuận tiện cho học sinh đi học. Có thể

đánh giá số lượng trường, lớp, số học sinh tiểu học hiện nay qua

bảng số liệu sau:



Bảng 1: Số lượng trường, lớp, học sinh tiểu học

Chỉ tiêu



Năm học 2000- 2001



Năm học 2001-2002



Trng Lp



Trng Lp



Hc sinh



28



Hc sinh



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



Cụng lập



349



7.986



264.280



349



7.660 246.500



Dân lập



1



5



123



1



5



Tổng số



350



7.991



264.403



350



7.665 246.633



133



Nguồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002

Nhìn vào bảng số liêu trên ta có thể thấy số học sinh cơng

lập năm học 2001 – 2002 giảm 6,7% so với năm học 2000 –

2001. Số lớp công lập giảm 4,15%. Số học sinh dân lập có tăng

nhưng tăng ít chỉ tăng có 8,13% tức là tăng 10 học sinh.

Nhìn chung, việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục ở hệ

tiểu học còn hạn chế, tồn tỉnh hiện mới có 1 trường tiểu học dân

lập với qui mơ còn rất nhỏ. Q trính đa dạng hố các loại hình

trường lớp ở cấp tiểu học của tỉnh còn diễn ra chậm, chưa phát

triển. Nguyên nhân là do số trường công lập đã đáp ứng đủ nhu

cầu



học tập của con em nhân dân trong tỉnh và số lượng học



sinh hàng năm không những không tăng mà có xướng giảm: số

học sinh từ năm 1991 đến năm 2001 giảm 39.792 học sinh

( khoảng 4.000 học sinh/năm), nhịp độ giảm bình quân số học

sinh vào giai đoạn 1996 – 2000 là 2,4%

Tỷ lệ học sinh tiểu học so với số trẻ em trong độ tuổi (6-10

tuổi) năm 1991 là 109%, năm 1995 là 108% và năm 2001 là

100,5%. Điều này cho thấy kết quả của chương trình phổ cập

giáo dục tiểu học. Sau 5 năm thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

đúng độ tuổi, tỷ lệ trẻ nhập học và số học sinh tiểu học ổn định

dần, đến nay đã huy động được 99,8% trẻ 5 tui vo hc lp 1.

29



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



TrÇn



Đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Hà Tây những năm gần đây

phát triển nhanh, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu giáo

viên, đáp ứng nhu cầu dạy học. Đặc biệt những năm gần đây, số

lượng giáo viên tiểu học đã thừa về số lượng và vẫn có xu hướng

gia tăng.

Bảng 2: Số lượng giáo viên tiểu học

Năm học



Số lượng

viên



giáo Nhu

viên



cầu



giáo Thừa (+), thiếu

(-)



1997-1998



9.357



9.591



-234



1998-1999



9.487



9.390



+97



1999-2000



9.561



9.252



+309



2000-2001



9.617



9.190



+427



Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo - 2001

Về đầu tư cơ sở vật chất: Theo chủ trương phân cấp đầu tư

xây dựng, cơ sở vật chất các trường tiểu học, trung học cơ sở

chủ yếu do ngân sách địa phương đầu tư nên cơ sở vật chất các

trường tiểu học còn nhiều khó khăn. Năm học 2000-2001, tồn

tỉnh có 5.186 phòng học tiểu học, năm học 2001-2002 là 5.246

phòng. Với số lượng phòng học như trên, về cơ bản đã đáp ứng

nhu cầu về lớp học hiện nay, khơng còn tình trạng học ca 3. Tuy

nhiên, chất lượng phòng học còn rất hạn chế, tỷ lệ phòng học

đảm bảo tiêu chuẩn còn thấp, số lượng phòng học cao tầng đủ

tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ 28%, phòng cấp 4 trở lên chiếm 62%,

phòng học tm chim 10%.



30



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



V u t dụng cụ học tập: thiết bị, đồ dùng dạy và học còn

sơ sài, chủ yếu còn học chay.

2. Hệ trung học cơ sở.

Cũng như bậc tiểu học, hệ thống các trường trung học cơ sở

đã đảm bảo cho nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh.

Mỗi xã, phường trong tỉnh đều có ít nhất 1 trường trung học cơ

sở, hầu hết là các trường công lập. Số liệu về trường, lớp, học

sinh 2 năm học như sau:

Bảng 3: số lượng trường, lớp, học sinh trung học cơ sở

Chỉ tiêu



Năm học 2000- 2001



Năm học 2001-2002



Trường



Trường



Lớp



Học sinh



Lớp



Học

sinh



Công lập



328



5.020 202.011



328



5.809 208.254



Bán công



-



20



950



-



44



2.224



Dân lập



-



4



113



-



4



113



Tổng số

328

5.044 203.074 328

5.146 210.611

Nguồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002

Do thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình

triệt để nên những năm gần đây số lượng học sinh trung học cơ

sở tăng chậm, tốc độ tăng giảm dần. Năm học 2000-2001 có

203.074 học sinh, năm học 2001-2002 có 210.611 học sinh, như

vậy số học sinh chỉ tăng có 3,7% so vi nm hc 2000 2001.



31



Chuyên đề thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



Số trường trung học cơ sở tăng đều hàng năm, nhưng mức

tăng thấp. Năm 1992 có 318 trường, đến năm 2001 có 328

trường, như vậy trung bình hàng năm tăng là 0,31% trường, tức

là trung bình mỗi năm có một trường trung học cơ sở mới.

Từ năm 1999 , ngành giáo dục tỉnh bắt đầu thí điểm tuyển

sinh học sinh hệ bán công tại 14 trường THCS chất lượng cao

trong tỉnh, song việc đa dạng hoá các loại hình trường lớp còn

chận, tồn tỉnh mới chỉ có một trường dân lập liên cấp 2- 3, với

quy mơ còn rất nhỏ: trường chỉ có 4 lớp với 113 học sinh và số

lượng học sinh không tăng qua hai năm học 2000 và 2001. Sau

khi bắt đầu thí điểm tuyển sinh hệ bán cơng vào năm 1999 thì

đến năm 2001 đã có 44 lớp, với 2244 học sinh. Số lượng và quy

mơ trường lơp bán cơng còn hạn chế, năm 2001 số lớp bán công

chỉ bằng 0,86% số lớp công lập và chỉ thu hút được 1,06% tổng

số học sinh trung học cơ sở toàn tỉnh. Tuy nhiên so với năm

2000 số lớp đã tăng 120%, và số học sinh tăng 136%. Nhìn

chung, cơng tác thực hiện đa dạng hố các loại hình trường lớp

trung học cơ sở bước đầu đã có những kết quả tốt: phát triển

nhanh về số lớp cũng như số học sinh. Tuy nhiên các quy mơ của

loại hình bán cơng, dân lập còn nhỏ bé, chỉ có lớp bán cơng chứa

chưa có trường bán cơng, cơ sở vật chất của loại hình bán cơng

chủ yếu vẫn là của các trường công lập.

Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở những năm gần đây

đang dần được kiện tồn và tiêu chuẩn hóa. Mặc dù số lượng

giáo viên hàng năm vẫn tăng cao hơn tốc độ tăng hc sinh nhng



32



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



vi h trung học cơ sở thì số lượng giáo viên vẫn còn thiếu so

với nhu cầu. Năm học 1998-1999 có 8.171 giáo viên, thiếu so với

nhu cầu 1.027 giáo viên; đến năm học 2000-2001 có 8.988 giáo

viên, thiếu so với nhu cầu là 443 giáo viên.

Về đầu tư cơ sở vật chất: Theo chủ trương phân cấp trong

đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ngành giáo dục, cơ sở vật chất

các trường trung học sơ sở chủ yếu do huyện và xã đầu tư nên cơ

sở vật chất các trường trung học cơ sở còn nhiều khó khăn. Năm

học 2000-2001, tồn tỉnh có 3.469 phòng học, năm học 20012002 là 3.610 phòng. Với số lượng phòng học như trên, về cơ

bản đã đáp ứng nhu cầu về lớp học hiện nay, khơng còn tình

trạng học ca 3. Tuy nhiên, chất lượng phòng học còn rất hạn chế,

tỷ lệ phòng học đảm bảo tiêu chuẩn so với bậc học tiểu học có

cao hơn nhưng vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn. Số lượng phòng

học cao tầng đủ tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ 50%, phòng cấp 4 chiếm

47%, phòng học tạm 3%.

Về đầu tư dụng cụ học tập: thiết bị, đồ dùng dạy và học còn

sơ sài, chủ yếu còn học chay.

3. Trung học phổ thơng.

Hiện nay tồn tỉnh có 58 trường trung học phổ thơng, mỗi

huyện, thị xã đều có ít nhất 2 trường, so với năm 1997 tăng 13

trường. Việc đa dạng hố các hình thức giáo dục đối với bậc

trung học phổ thơng đã bước đầu có kết quả, tỷ lệ trường bán

công, dân lập chiếm 19% (8 trường bán cụng, 3 trng dõn lp).



33



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



T năm 1999 đến năm 2000 có thêm 2 trường bán công mới, tăng

33,3% so với năm trước, đến năm 2001 số trường bán công và

dân lập không tăng. Năm 1999 chỉ có 468 lớp với số lượng học

sinh là 24.636, chiếm 27,2% tổng số lớp học toàn tỉnh và 28,3%

tổng số học sinh toàn tỉnh. Đến năm 2000 số lớp học tăng lên

628 lớp với 33.697 học sinh, chiếm 33,3% tổng số lớp học và

33,7% tổng số học sinh. Như vậy đến năm 2000 số lớp học đã

tăng 34,2% và số học sinh tăng 36,8% so với năm 1999. Tuy

nhiên đến năm 2001 số lớp bán công đã giảm 35 lớp, tức là giảm

5,6% so với năm 2000 và số học sinh cũng giảm 2688 học sinh,

tức là giảm 8%. Nguyên nhân là do số học sinh tăng ít 1,4%,

trong khi đó số lớp cơng lập năm 2001 tăng 93 lớp, tức là tăng

7,5% so với năm 2000. Số lớp học này đã thu hút 3465 học sinh,

tăng 5,3% so với năm 2000.

Nhìn chung q trình đa dạng hố các loại hình trường lớp

ở cấp trung học phổ thơng phát triển khá mạnh mẽ cả về quy mô,

tốc độ và chất lượng. Các trường, lớp bán cơng này đã góp một

phần không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh trong những

năm qua. Hàng năm thu hút hàng chục nghìn học sinh, góp phần

làm giảm sự quả tải cho các trng cụng lp. Tuy nhiờn cỏc



34



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



TrÇn



trường dân lập qui mơ còn nhỏ, mới chỉ có 3 trường với 17 lớp,

các trường dân lập này chưa thu hút được nhiều học sinh ( ở cả 3

chỉ thu hút được 885 học sinh ); các trường bán công vẫn chưa

tách được cơ sở vật chất ra khỏi các trường công lập.



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×