Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
SỰ CẦN THIẾT XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC

SỰ CẦN THIẾT XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



- Giỏo dc gia inh: đây là cơ sở của giáo dục nhà

trường

- Giáo dục xã hội: nó vừa có tác dụng kiểm nghiệm

thành quả của giáo dục nhà trường, vừa là kéo dài và

bổ sung cho giáo dục nhà trường trong xã hội.

Trong các hình thức giáo dục nêu trên thì hình thức giáo

dục trong nhà trường có ý nghĩa hết sức lớn lao. Sự phát triển

của hình thức giáo dục này đã tạo nên hệ thống giáo dục quốc

dân và là điều kiện quan trong nhất để nâng cao chất lượng của

lực lượng lao động.

Theo luật giáo dục Việt Nam( ban hành ngày 02/12/1998),

hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

1. Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo

2. Giáo dục phổ thơng có hai bậc học là bậc tiểu học

và bâc trung học; bậc trung học có hai cấp học là

câp trung học cơ sở và cấp trung học phổng thơng.

3. Giáo dục nghề nghiệp có trung học chun nghiệp

và dạy nghề.

4. Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ

cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học

đào tạo hai trình độ là trỡnh thc s v trỡnh

tin s.



4



Chuyên đề thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



1.2. Đặc điểm của hoạt động giáo dục

Dưới giác độ kinh tế học và trong điều kiện của nền kinh

tế thị trường, hoạt động giáo dục - đào tạo được coi là một trong

những lĩnh vực cung cấp hàng hố dịch vụ cơng cộng cho xã hội.

Bởi vì sản phẩm của giáo dục là cung cấp các kiến thức và kỹ

năng cho người học, đây là sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu

tiêu dùng có tính chất xã hội. Khi người học được học tập chính

là lúc họ đang được thụ hưởng các hàng hố cơng cộng do hoạt

động giáo dục cung cấp, kiến thức của họ được tích luỹ, kỹ năng

của họ được từng bước trau rồi trong q trình học tập, để cuối

cùng họ có được một năng lực nhất định, trở thành người lao

động có ích cho xã hội sau khi được học tập.

Các dịch vụ do hoạt động giáo dục cung cấp có một số đặc

điểm sau:

Thứ nhất, dịch vụ của hoạt động giáo dục chủ yếu là các

dịch vụ công cộng, chúng phục vụ đồng thời cho nhiều người

cùng sử dụng. Chúng vừa mang tính chất là hàng hố dịch vụ

cơng cộng đại chúng, của tồn xã hội, vừa mang tính chất hàng

hố dịch vụ cơng cộng của nhóm, cho từng nhóm người nhất

định. Điều này có nghĩa là dịch vụ của hoạt động giáo dục là

hàng hố cơng cộng khơng thuần t và có tính chất loại trừ.

Qua đặc điểm này, chúng ta có thể thấy các kiến thức, kỹ

năng… đã được tích luỹ, hệ thống lại và được biên soạn lại thành

giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo… là sm phm



5



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



mang tớnh cht cụng cộng chung của tồn xã hội (thậm chí của

tồn nhân loại), tất các mọi người đề có quyền tiếp nhận, khai

thác và sử dụng chúng. Với góc độ này thì sản phẩm của lĩnh vực

là hàng hố dịch vụ cơng cộng mang tính chất đại chúng, khơng

thể loại trừ bất cứ một ai muốn sử dụng chúng.

Song, con người nói chúng khơng thể tự mình tiếp thu

được tất cả các kiến thức, kỹ năng… mà về cơ bản, muốn có

những kiến thức, kỹ năng… nhất định phải trải qua quá trinh học

tập. Nhà trường, thầy cô giáo… sẽ truyền thụ kỹ năng cho người

học. Trong điều kiện như vậy, các kiến thức, kỹ năng… sẽ không

được truyền thụ một cách đồng loạt cho tất cả mọi người, mà chỉ

có một lượng ( nhóm ) người nhất định nào đó được truyền đạt

những kiến thức, kỹ năng. Vì vậy, với góc độ này thì sản phẩm

của hoạt động giáo dục mang tính chất là hàng hố dịch vụ cơng

cộng nhóm, chúng bị giới hạn trong những mức độ, điều kiện

nhất định và dành cho một lượng, một nhóm người nhất định

được hưởng thụ chúng.

Với đặc điểm là dịch vụ công cộng nhóm cho phé người ta

hạn chế, loại trừ bớt số lượng người tham gia hưởng thụ các dịch

vụ giáo dục với những biện pháp khác nhau như: thi tuyển chọn,

chế độ học phí .v.v…, với đặc điểm này cho phép hoạt động giáo

dục không chỉ được cung cấp bởi nhà nước mà còn có thể được

cung cấp bởi khu vực tư nhân.

Thư hai, Dưới giác độ tiêu dùng, sản phẩm của hoạt động

giáo dục không những không bị tiêu dùng mt i, m ngc li

6



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



chỳng luôn được đổi mới, bổ sung. Tri thức kỹ năng của con

người ngày càng được tích luỹ, kế thừa, phát huy, đổi mới và bổ

sung thêm từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho sảm phẩm của

hoạt động giáo dục ngày càng thêm phong phú. Với ngưới được

truyền thụ các kiến thức và kỹ năng… họ không thể dùng hết

ngay các kiến thức và các kỹ năng đó, mà ngược lại chúng được

vận dụng, ứng dụng… lâu dài trong quá trình lao động sau này

của người được đào tạo. Thậm trí các kiến thức, các kỹ năng ban

đầu được trau rồi, bổ sung, đổi mới từng bước được hoàn thiện

hơn để người lao động ngày càng phat huy năng lực tốt trong

công việc của họ.

Từ những đặc điểm của hoạt động giáo dục trên đây, theo

em có thể rút ra một số nhận xét như sau

Một là, Kho tàng kiến thức và kỹ năng của nhân loại là vơ

tận, mỗi người chỉ có thể tiếp thu một lượng nhất định các kiến

thức, kỹ năng thích hợp nào đó tương ứng với khả năng tâm, sinh

lý học của bản thân, các điều kiện kinh tế - xã hội cho phép và

đòi hỏi những năng lực khác mà xã hội đặt ra cho từng người.

Chính vì vậy, xã hội phải có trách nhiệm tổ chức các cơ sở giáo

dục đào tạo tương ứng với nhiều loại bậc học, ngành nghề khác

nhau. Mỗi người căn cứ vào khả năng, điều kiện của bản thân và

nhu cầu của xã hội để lựa chọn bậc học, ngành nghề thích hợp

nhằm mục đích có được năng lực lao động tốt nhất phục vụ cho

xã hi sau khi c hc tp.



7



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



TrÇn



Hai là, Hoạt động giáo dục vừa đặt cơ sở nền tảng để

người học tiếp thu các kiến thức, kỹ năng... vừa giúp người học

hoàn thiện và phát huy năng lực của mình lâu dài trong quá trình

lao động sản xuất. Đó là q trình “đào tạo - tự đào tạo - đào

tạo lại” diễn ra một cách thường xuyên và suốt đời đối với người

lao động.

Ba là, Đầu tư các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo

dục có thể nói là trách nhiệm chung của tồn xã hội, nhưng vai

trò chủ đạo phải thuộc về Nhà nước. Việc chăm lo phát triển sự

nghiệp giáo dục là trách nhiệm của xã hội, vì hoạt động giáo dục

tạo ra năng lực cho mỗi thành viên của xã hội. Do đó, “ xã hội

hoá giáo dục - đào tạo " là vấn đề khơng có gì mới mẻ, đã tồn tại

lâu đời từ trước tới nay. Song, ở đây cần nhận thức rằng Nhà

nước phải giữ vai trò là người chủ đạo. Vì:

- Hoạt động giáo dục - đào tạo đòi hỏi nhiều tiềm lực lớn

về cả con người và về cả vật chất, chỉ có Nhà nước là người có

khả năng và điều kiện tốt nhất để giải quyết vấn đề này.

- Sự chủ đạo của Nhà nước giúp cho hoạt động giáo dục

đào tạo đi đúng định hướng ở tầm vĩ mơ mà xã hội mong muốn.

- Nhờ có cơ chế thuế mà Nhà nước có thể thu hồi được chi

phí đầu tư cho hoạt động giáo dục - đào tạo . Thật vậy, với những

hàng hoá dịch vụ cơng cộng mang tính đại chúng, việc loại trừ

“người ăn không ” là hầu như không thể nếu như họ khụng cú

8



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



ngha v np thu. Còn đối với việc cung cấp các hàng hố dịch

vụ cơng cộng nhóm có thể loại trừ được “ người ăn khơng”, thì tư

nhân cũng có thể làm được. Song nếu như vậy sẽ là quá nặng cho

người học vì phải nộp học phí cao nhằm trang trải đầy đủ chi phí

cho việc học tập , trong khi người học chưa đi làm nên chưa có

thu nhập. Chính vì vậy, giải pháp tốt nhất ở đây là người học nộp

học phí chỉ trang trải một phần chi phí cho giáo dục , phần còn

lại họ “ mắc nợ” và trả sau khi đã đi làm, có thu nhập thơng qua

nộp thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng lao động...) cho

Nhà nước.

Nhà nước là chủ đạo, nhưng không thể phó mặc tất cả cho

Nhà nước, vì nguồn lực của Nhà nước tuy lớn, nhưng cũng rất có

hạn và phải đáp ứng cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội,

nên không thể kham nổi tất cả. Hơn nữa tính cơng bằng, hiệu quả

sẽ bị vi phạm, nhiều người sẽ được “ ăn không”, và tất nhiên sẽ

ảnh hưởng đến lợi ích của người khác.

Bốn là, Nghĩa vụ của người học. Khi người học được học

tập là đang được hưởng các hàng hố dịch vụ cơng cộng do hoạt

động giáo dục - đào tạo cung cấp. Được hưởng lợi phải trả tiền

là nguyên lý thông thường của kinh tế học thị trường. Song, ở

đây người học thể hiện sự trả tiền thơng qua việc trả học phí,

nhưng học phí chỉ bù đắp một phần chi phí cho giáo dục - đào

tạo, và cũng khơng nên có chế độ học phí q cao vì người học

hiện tại chưa tạo ra thu nhập. Sau q trình học tập, người học

9



Chuyªn ®Ị thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



có năng lực làm việc, tạo ra thu nhập, sẽ trích một phần thu nhập

để trả chi phí cho giáo dục - đào tạo (nộp thuế cho Nhà nước,

phụng dưỡng “bố mẹ già yếu ” đã có cơng ni ăn học...).

Năm là, Các cơ sở sử dụng lao động đã được đào tạo phải

có nghĩa vụ trả chi phí cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Xã hội

đào tạo năng lực cho người lao động, các cơ sở sử dụng lao động

khai thác các năng lực đó và thu được các nguồn lợi cho mình.

Vậy thì họ cũng phải có nghĩa vụ trích một phần nguồn lợi (lợi

nhuận) để trang trải chi phí cho hoạt động giáo dục - đào tạo mà

xã hội đã bỏ ra trước đây - Điều này hoàn toàn phù hợp với quy

luật của kinh tế thị trường. Cơ chế tốt nhất để các cơ sở sử dụng

lao động hoàn trả chi phí cho hoạt động giáo dục - đào tạo là nộp

thuế cho Nhà nước (thuế quỹ lương, thuế thu nhập doanh

nghiệp...)

Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động

giáo dục về mặt kinh tế học cũng là một lĩnh vực cung cấp các

hàng hoá dịch vụ cơng cộng cho xã hội. Do đó, cần phải có

những nhận thức và đối xử đúng đắn để lĩnh vực này cung cấp

các hàng hố dịch vụ cơng cộng với chất lượng ngày càng tốt

hơn, thoả mãn nhu cầu của xã hội và đảm bảo phát triển một

cách bền vững.



10



Chuyªn ®Ị thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



2. Vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế – xã hội

2.1.Giáo dục với tái sản xuất dân số và việc làm

 Giáo dục với tái sản xuất dân số

Tái sản xuất dân số bao gồm cả mặt số lượng và mặt chất

lượng.Tốc độ tăng dân số và chất lượng dân sô chịu tác động bởi

nhiều yếu tố trong đó tác động của giáo dục là vô cùng quan

trọng.

Khi nhân thức của con người được nâng cao, tuổi lập gia

đình tăng lên và là một nguyên nhân làm mức sinh giảm xuống

và tỷ lệ sinh cũng giảm. Giáo dục có ảnh hưởng đến nhiều mặt

của tính cách, trong trường hợp đối với phụ nữ thì bao gồm cả

thái độ với việc sinh đẻ, nhiều nghiên cứu cho thấy, trình độ học

vấn của phụ nữ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sự sinh đẻ của

họ, (phụ nữ càng học nhiều càng có xu hướng đẻ ít con), họ

muốn đẻ ít con hơn để có điều kiện tham gia vào các hoạt động

xã hội, và phát huy được khả năng của minh. Khi trình độ được

nâng cao, quan niệm về con cái cũng khác đi, con người mất dần

quan niệm có con cái để nhờ vả sau này, đó cũng là một nguyên

làm giảm tỷ lệ sinh

Nếu muốn nâng cao chất lượng dân số mà khơng có giáo

dục thì khơng thể làm được. Giáo dục là then chốt bảo đảm chất

lượng của dân số, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng

cao trí lực của con người. Đồng thời giáo dục còn có ảnh hưởng

trực



tiếp đến sức khoẻ của



con người. Trình độ hc vn lm

11



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



thay i trong việc vệ sinh phòng bệnh của gia đinh như rửa tay

và uống nước sôi… và việc sử dụng các dich vụ y tế chăm sóc

sức khoẻ và khám chữa bênh. Trình độ học vấn của cha mẹ có

liên quan mật thiết đế sức khoẻ của trẻ em, đặc biệt là người mẹ

càng có học thì tỷ lệ trẻ em sơ sinh chết càng giảm và đứa trẻ

càng khoẻ mạnh.

 Giáo dục với vấn đề việc làm

Vấn đề việc làm là mối quan tâm của tất cả các quốc gia

trên thế giới trong q trình phát triển. Sức lao động có đầy đủ

việc làm vừa là tiêu chí của một quốc gia phát triển cao, vừa là

mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề này được quyết đinh

bởi sự tác động tổng hợp của rất nhiều nhân tố, trong đó ảnh

hưởng của giáo dục lá vơ cùng mạnh mẽ.

Đào tạo nhân tài về chuyên môn ở các cấp để thoả mãn nhu

cầu của xã hội là nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp giáo dục, cũng

là điều kiện cơ bản bảo đảm cho sức lao động có đầy đủ việc

làm. Vì rằng, xã hội cần có nhân tài ở nhiều tầng, nhiều bậc, vừa

cần có cán bộ quản lý cao cấp, vừa cần có nhân viên kỹ thuật có

trình độ kỹ thuật trung cấp, sơ cấp. Nếu sự nghiệp giáo dục chỉ

theo đuổi việc đào tạo nhân tài chuyên nghiệp đại học hoặc nhân

tài ở một vài chuyên mơn nào đó, coi nhẹ việc đào tạo nhân tài

trung, sơ cấp thì sẽ gây ra sự thất nghiệp giả tạo theo cơ cấu

hoặc là hạ thấp nhân tài xuống s dng gõy lóng phớ chi phớ

o to.



12



Chuyên đề thc tËp

Quang Hng KH41A



TrÇn



Đồng thời sự nghiệp giáo dục còn có một vai trò nữa

khơng kém phần quan trọng là đổi mới tri thức cho những người

lao động, nếu những người lao động không được đổi mới tri

thức, kỹ năng làm việc thì sẽ gây ra một tình thế “hao mòn vơ

hinh” của đội ngũ lao động, khó thích ứng với yêu cầu mới của

sự phát triển kinh tế. Vơi tư cách là biện pháp làm cho người ta

có được kỹ năng chuyên môn, đổi mới tri thức, giáo dục là một

trong nhưng điều kiện cần thiết khiến sức lao động có đầy đủ

việc làm.

2.2. Giáo dục gắn bó chặt chẽ với thu nhập và tiêu dùng

Nói chung mức độ cao, thấp của trình độ học vấn tỷ lệ

thuận với thu nhập tiền bạc của cá nhân. Thu nhập của người lao

động trí óc tương đối cao hơn thu nhập của người lao động chân

tay. Đối với những người lao động có khả năng học hết bậc trung

học và đại học thì họ có cơ hội tìm kiếm những cơng việc tốt với

mức thu nhập cao hơn những người lao động mới học hết một

phần hoặc hết cấp tiểu học, và mức chênh lệch về tiền lương có

thể đạt cỡ 300 đến 800%.

Tỷ trọng chi phí giáo dục trong tổng chi phí tiêu dùng của

mọi người có thể được thể hiện ở trình độ nhận thức và mức độ

khát khao được giáo dục của mọi người ở các lứa tuổi khác nhau.

Chi tiêu giáo dục thuộc phạm trù chi tiêu cho đời sống tinh thần,

văn hoá, mức chi tiêu của nó tăng theo mức thu nhập của dân cư.

Nói chung khi thu nhập thấp, tỷ trọng chi tiêu cho đời sống vật

chất tương đối lớn. Theo đà nâng cao mức thu nhp, t trng chi

13



Chuyên đề thc tập

Quang Hng KH41A



Trần



tiờu cho giáo dục tăng nhanh. Như



vậy, giáo dục là nội dung



quan trọng làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mọi

người, nhất là trong xã hội phát triển, việc coi trọng giáo dục

làm cho mọi người sẵn lòng đầu tư nhiều hơn vào sự nghiệp giáo

dục.

2.3. Giáo dục có tác động tích cực đến sự nghiệp y tế, văn hố

thể dục thể thao.

Giáo dục thơng qua đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhân viên y

tế chuyên nghiệp, vừa có thể làm cho họ mau chóng nắm vững

các phương pháp trị bệnh, nâng cao tỷ lệ chữa bệnh, lại có thể

làm cho tố chất tu dưỡng của đơng đảo cán bộ nhân viên y tế

được nâng cao rộng rãi, có được đạo đức nghề nghiệp tốt đẹp,

cung câp những nhân tài chun mơn có trình độ cao để đẩy

mạnh sự phát triển của sự nghiệp y tế, bảo vệ sức khoẻ.

Sự nghiệp giáo dục cũng có tác động tương tự như vậy đối

với sự phát triển của thể dục, thể thao. Giáo dục sẽ bồi dưỡng

cho thể thao các huấn luận viên, vận động viên có chun mơn

và phẩm chất đạo đức tốt.

Giáo dục ngồi vai trò phân tích ở trên còn đóng vai trò

quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa….Giáo dục

khơng chỉ tác động tới việc hồn thiện con người, mà còn có

tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục tạo

ra nguồn nhân lực có học thức, có kỹ năng nghề nghiệp, có

phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân. Vì



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SỰ CẦN THIẾT XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×