Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay

Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

quốc tế hay những rằng buộc về pháp lý,TTTP Việt Nam cũng đón nhận cơ hội vơ cùng

q giá để có thế huy động nguồn vốn lớn với chi phí rẻ

• Trái phiếu Chính phủ :

o Chỉ tính riêng TPCP do Kho bạc Nhà nước phát hành, năm 2006 và 6

tháng đầu năm 2007 thông qua gần 30 phiên đấu thầu TPCP tại HASTC, đã

huy động được 12.695 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước. Trong đó, lãi suất

trúng thầu có xu hướng giảm dần từ mức bình qn 8,75%/năm vào đầu

năm 2006 xuống 7,00%/năm trong một số phiên vào tháng 8/2007 làm

giảm đáng kể gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc huy động vốn

cho đầu tư phát triển, góp phần bình ổn lãi suất cho vay của ngân hàng, từ

đó góp phần bình ổn kinh tế vĩ mơ.

o Tuy nhiên bên cạnh đó TPCP giai đoạn này vẫn có một sổ hạn chế nhất

định : Năm 2006, kế hoạch phát hành đề ra là 15.500 tỷ đồng nhưng cả năm

chỉ thực hiện được khoảng 10.500 tỷ đồng bằng 68%. Lãi suất trần thấp nên

một số phiên đấu thầu đã không huy động đủ 100% khối lượng gọi thầu. Sự

đơn điệu về kỳ hạn TP đã không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà

đầu tư TP trong thời gian qua.Chủ yếu là kỳ hạn 5 năm, các loại kỳ hạn

khác như (2 năm; 3 năm; 7 năm; 10 năm và 15 năm...) chưa được duy trì

đều đặn.

• Trái phiếu doanh nghiệp:

o Số lượng doanh nghiệp và Cơ cấu TPDN trong TTTP Việt Nam vẫn còn

hạn chế: Cho tới 2007, mới chỉ có 10 doanh nghiệp phát hành TP, gồm :

PetroVietnam,Tổng công ty cao su, Vinashin, EVN, Lilama, Vietnam Steel

Corperation, Vilexim, Tổng Công ty cổ phần xây dựng điện Việt nam, Tổng

công ty Sông Đà và Vinaconex. Tất cả các công ty này đều là những đơn vị

đầu ngành hoặc các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa.

o Dư nợ TPDN/GDP mới chiếm khoảng 2%. Nhưng Doanh số từ phát

hành TP có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Từ 300 tỷ VND do Tổng công ty Dầu

khí phát hành năm 2003 đã lên đến hơn 6.600 tỷ VND tháng 3 năm 2007,

đặc biệt năm 2006 đạt hơn 8.800 tỷ VND, trong đó EVN phát hành 6 đợt



với tổng doanh số là 6.000 tỷ VND. Tổng doanh số phát hành TP từ năm

2003 đến tháng 3 năm 2007 đạt 16.768 tỷ VND.

o Hầu hết các TP được phát hành đều có kỳ hạn dài, ngắn nhất là 2 năm, dài

nhất là 10 năm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong điều kiện lạm phát cao, mơi

trường chính sách không đảm bảo và do tác động khá nhạy cảm của các

biến động kinh tế quốc tế đã gây nên tâm lý thiếu tin tưởng của các nhà đầu

tư khi đầu tư vào một loại TP có thời hạn quá dài.

o Lãi suất TP vẫn thấp hơn so với lãi suất vay ngân hàng. Thực ra, đây chỉ là

lãi suất danh nghĩa,không phải lãi suất thực, trong bối cảnh lạm phát tăng,

lãi suất thực có xu hướng xuống dưới mức 0%. Điều này có thể giải thích

tại sao các nhà đầu tư tỏ ra thờ ơ với việc đầu tư vào TP

1.2.Giai đoạn cuối 2007 đến cuối 2008

Trong bối cảnh nền kinh tế Thế giới đang đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng bắt

nguồn từ bong bóng bất động sàn nhà đất tại Mỹ,kênh huy động vốn từ TP trên thị trường

Việt Nam bắt gặp những khó khăn bởi sự thoái lui đầu tư mạnh mẽ diễn ra từ cả nhà đầu

tư trong nước lẫn nhà đầu tư nước ngồi

• Trái phiếu Chính phủ :

o Khối lượng TPCP phát hành thành công giảm một cách đáng kể.Năm 2008

HaSTC đã tổ chức được 44 đợt đấu thầu TP,huy động được 7008 tỷ

đồng trên tổng số 31700 tỷ đồng gọi thầu,như vậy tỷ lệ vốn huy động chỉ

bằng 22,1% kế hoạch và bằng 36,9% tổng huy động vốn năm 2007.

o Tuy nhiên ,với quyết định nâng hạn mức tín nhiệm đối với TPCP Việt Nam

từ ổn định lên tích cực trong bậc xếp hạng Ba3 hiện có của tập đồn định

mức tín nhiệm Moody’s ngày 15/3/2007, sau một độ trễ nhất định, các nhà

đầu tư thế giới đã để mắt hơn đến lượng trái phiếu này.Tính đến

30/04/2008, TPCP do Kho Bạc Nhà Nước phát hành theo phương thức bảo

lãnh phát hành đạt giá trị khoảng 52.816 tỷ và TPCP do NH Phát Triển Việt

Nam phát hành qua bảo lãnh đạt giá trị khoảng 61.019 tỷ.

o Về khối lượng và giá trị giao dịch, tính đến 31/12/2008, tổng khối lượng

giao dịch đạt 1.992,4 triệu trái phiếu, với giá trị 189.108,4 tỷ đồng, gấp



2,427 lần so với tổng giá trị giao dịch trái phiếu của cả năm 2007. Giá trị

giao dịch bình quân phiên đạt 762,5 tỷ đồng.

o Trong bối cảnh nợ nước ngoài của Việt Nam đang có xu hướng tăng

nhanh,từ năm 2010 trở đi các nguồn vốn ODA với điều kiện ưu đãi sẽ giảm

đi ,thay vào đó là các điểu khoản vay gần với khoản vay thương mại,Chính

phủ Việt Nam sẽ phải nhắm tới các nguồn tài trợ mới với quy mơ lớn,trong

đó phải kể đển kênh vay nợ thơng qua việc phát hành TP.

• Trái phiếu doanh nghiệp:

o Trong thời gian này,TTTP Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển với

sự tồn tại của thị trường TPCP.Dư nợ TP còn rất thấp (khoảng 7% GDP)

so với các thị trường trong khu vực(Trung Quốc 21%,Thái Lan

33%,Malaysia 62%) ,chủ thế phát hành khơng đa dạng,khơng có hệ thống

các nhà tạo lập thị trường ,hệ thống giao dịch-thanh tốn còn nhiều hạn

chế.Hơn nữa một thị trường để giúp hai đối tượng rất quan trọng là DN và

chính quyển địa phương huy động vốn thì hầu như khơng tồn tại.

1.3.Giai đoạn năm 2009

• Trái phiếu Chính phủ

o So với năm 2007 và 2008,tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầu TPCP

bằng VND trong năm 2009 có xu hướng giảm mạnh.Cụ thể năm 2007 huy

động được 15.839 tỷ đồng /khối lượng gọi thầu 23.400 tỷ đồng,tỷ lệ thành

công là 67,69%;năm 2008 huy động 6.060 tỷ đồng /26.600 tỷ đồng khối

lượng gọi thầu,tỷ lệ thành công là 22,78%;năm 2009 huy động 2.578,5 tỷ

đồng /62.700 tỷ đồng khối lượng gọi thầu ,tỷ lệ thành công là 4,18%.

o Điểm nhấn trong hoạt động đấu thầu TPCP tại HNX năm 2009 là tổ chức

thành công 6 phiên đầu thầu TPCP bằng ngoại tệ (USD),với các kì hạn 1,2

và 3 năm.Kết quả tổng khối lượng đăng kí là 2.089,2 triệu USD,gấp 3,8 lần

so với khối lượng gọi thầu.Tổng khối lượng trúng thầu 387,11 triệu USD,tỷ

lệ thành công cao (70,38%).



o Trên thị trường thứ cấp ,xu hướng giao dịch giảm rõ rệt từ tháng

6/2009:Giá trị giao dịch của 6 tháng đầu năm chiếm hơn 70% tổng giá trị

giao dịch cả năm 2009.Tổng giá trị TP được chuyển nhượng qua sàn trong

năm 2009 vào khoảng 77.500 tỷ đồng ,chỉ bằng 40% so với mức 195.600 tỷ

đồng của năm 2008.Giá trị TP được chuyển nhượng trong một phiên giao

dịch trung bình là 300 tỷ đồng,thấp hơn nhiều so với mốc 800 tỷ đồng năm

2008.

o Trần lãi suất cho đấu giá tại thị trường sơ cấp được đưa ra là 7% từ đầu năm

không hề thu hút các nhà đầu tư.Vốn huy động dự trữ không được giải ngân

hết.Từ năm 2003-2008 huy động được hơn 300 ngàn tỷ đồng ,nhưng mới

giải ngân 65 ngàn tỷ đồng .



Biểu đồ khối lượng gọi thầu và khối lượng trúng thầu 2007-2009

• Trái phiếu doanh nghiệp

o Có nhiều đợt phát hành thành cơng, trong đó chủ yếu là hình thức phát hành

TP với lãi suất thả nổi.Ước tính có khoảng 1800 0 tỷ đồng giá trị TP có lãi

suất thả nổi được bán ra,chiểm 77% tổng giá trị TP huy động được (hơn

26000 tỷ đồng):CTCP VinCom (VIC) phát hành 100 triệu USD TP chuyển

đổi quốc tế,niêm yết tại SGDCK Singapore;CTCP phát triển đô thị Kinh

Bắc (KBC) 1200 tỷ đồng;FPT 1800 tỷ đồng ;HAGL 1450 tỷ đồng,….

o Tuy nhiên nó chỉ là một con số rất nhỏ các DN trong số các DN đã niêm yết

có thể huy động vốn bằng con đường này.Một trong những trở ngại chính



trển TTTP là Việt Nam chưa có lãi suất chuẩn làm lãi suát tham chiếu trong

việc xác định lãi suất thả nổi.Vì vậy các nhà phát hành thường lấy lãi suất

bình quân của 4 NHTM lớn là BIDV,Vietcombank,VietinBank,Agribank

làm lãi suất tham chiếu.

1.4.Giai đoạn 2010

• Trái phiếu Chính phủ:

Trên thị trường sơ cấp :

o Thị trường TPCP từng bước đã khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển

kinh tế. Đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế mà còn tạo

ra sự đa dạng hố các cơng cụ đầu tư trên thị trường vốn, cho phép các nhà đầu tư

có thêm lựa chọn đầu tư ít rủi ro hơn.Tổng giá trị TP đang lưu hành tại thời điểm

cuối tháng 12/2010 là 15,3 tỷ USD tương đương 321 ngàn tỷ đồng. Cụ thể, TPCP

chiếm tỷ trọng khoảng 90% trong tổng giá trị TTTP, trong đó hơn 76% các TP

đang lưu hành có kỳ hạn dưới 5 năm. Hiện có khoảng trên 450 mã TPCP đang lưu

hành.

o Trong năm 2010, tổng lượng TP kho bạc và NH phát triển phát hành trên thị

trường sơ cấp đã đạt gần 110 nghìn tỷ đơng. Tuy nhiên, nêu nhìn về thời gian phát

hành thì có thể thấy hâu hêt lượng TP phát hành này đều chủ yếu diễn ra trong 3

quý đầu của nam, còn riêng quý IV, tổng lượng TP phát hành khá thấp chỉ đạt trên

11,4 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 10% tổng lượng phát hành TP của năm. Riêng

trong các tháng 11 và tháng 12 khơng có một cuộc đấu thầu hoặc bảo lãnh TP nào

được tiến hành thành công.



Loại TP



Kế hoạch phát hành

2010



Tổng lượng thành công

(tỷ đồng)



% so với kế hoạch



TPCP



100,000



68,448.6



phát hành

68.45%



VDB



30,000



36,357.3



121.19%



Tổng



130,000



104,805.9



80.62%



Tổng lượng phát hành trên thị trường TPCP sơ cấp 2010

o Theo diễn biến thời gian, trong quý I/2010, thị trường TPCP sơ cấp hoạt động

không mấy thành công do biến động về tỷ giá và các biến động về kinh tế vĩ mô

chưa tạo được niềm tin cho các NĐT. Tuy nhiên, bước sang quý II và quý III thì

kết quả phát hành TTCP do Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Phát triển Việt Nam



(VDB) đã đạt được những kết quả khá cao, thậm chí, có thể nói là rất ấn tượng so

với năm 2009 và 2008.

o Theo tổng kết, đến hết ba quý đầu năm, Kho bạc Nhà nước đã phát hành được trên

68.000 tỷ đồng/kế hoạch 100.000 tỷ (hoàn thành trên 68%); tại VDB đến hết tháng

10 đã phát được trên 30.000 tỷ đồng (hoàn thành hơn 100% kế hoạch). Trong khi

đó, theo thống kê của VBMA thì tổng lượng TPCP phát hành thành công trong

năm 2009 là khoảng 15.000 tỷ đồng.

o Tuy nhiên, sang quý IV/2010 kết quả phát hành đã không được tốt như quý II và

quý III. Các cuộc phát hành không thành công đang tăng lên. Trên thị trường thứ

cấp, sự ra đời của TTTP riêng biệt của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội từ cuối

năm 2009 cũng đã bước đầu tạo ra những điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Quy

mô thị trường thứ cấp ngày càng tăng với hơn 100 mã TP mới được niêm yết, giá

trị niêm yết tăng 52 nghìn tỷ đồng tương đương 32% so với năm 2009.

Trên thị trường thứ cấp :

o Hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp kém sôi động hơn năm 2009 và 2008

do thiếu vắng sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với thành phần

chủ yếu là các NHTM (đơn vị chủ yếu đầu tư để nắm giữ đến hạn và sử dụng tham

gia thị trường mở làm dự trữ thanh khoản thứ cấp).



Tổng giá trị giao dịch trên HNX năm 2010

Nguyên nhân chính:

o Các nhà đầu tư nước ngoài chưa quay trở lại thị trường do có sự quan ngại nhất

định về sự mất giá của VND so với USD.

o Nhu cầu mua TPCP tăng mạnh của khối các TCTD trong nước do:

 Bối cảnh chính sách tiền tệ mở rộng giai đoạn giữa năm làm gia tăng áp lực

dư thừa vốn

 Thông tư 13 và Thông tư 19 buộc các TCTD phải tăng cường đầu tư vào

TPCP.

 Lộ trình tăng vốn các NHTM trong nước diễn ra trên phạm vi rộng đẩy nhu

cầu mua TPCP tăng cao.



 Một lượng khá lớn TPCP đáo hạn trong năm 2010, phần lớn là tại các

NHTM.

• Trái phiếu doanh nghiệp

o Năm 2010 đánh dấu sự phát triển của thị trường TPDN với nhiều đợt phát hành

thành công, tổng giá trị trong năm đạt 47.000 tỷ đồng, tăng 76% so với năm

2009. Trong đó, TPDN của các DN sản xuất, thương mại và bất động sản

chiếm tỷ trọng 55%; các NHTM chiếm khoảng 45%. Do rủi ro biến động lãi

suất cao nên đa phần các đợt phát hành trái phiếu có cấu trúc lãi suất thả nổi

chiếm khoảng 75% và lãi suất cố định 25%

o Trong khi lãi suất cho vay của các NH trên thị trường vẫn còn cao thì việc huy

động vốn thơng qua phát hành TP của DN có một sơ ưu điểm vượt trội hơn, và

do dó ngày càng được nhiều DN thực hiện. Nếu vay tín dụng, DN cần phải có

tài sản thế chấp, có dự án khả thi, phải trả lãi và vốn gốc định kỳ hàng tháng,

trong khi dó, với trái phiếu, DN chỉ phải trả vốn gốc một lần vào kỳ đáo hạn

và trả lãi theo ky hạn 6 tháng hoặc 1 năm một lần, và do dó có thể tận dụng

được vốn để kinh doanh với chu kỳ dài hơn. Bên cạnh dó, Ngân hàng Nhà

nước đã nâng hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay đầu tư kinh doanh bất

động sản và chứng khoán của các ngân hàng lên mức 250%. Các động thái này

khiến cho việc vay vốn NH của các DN thuộc các ngành nghề kể trên rât khó

khăn. Do dó, trong thời gian tới phát hành TP sẽ trở thành kênh huy động vốn

hiệu quả đối với các DN kể trên.

o Mặc dù trên thị trường sơ cấp có nhiều đợt phát hành TPDN diễn ra thành

công, trên thị trường TPDN thứ cấp hầu như khơng có nhu cầu mua bán, ngoại

trừ một số trái phiếu của các DN lớn như Vinashin, EVN, Lilama, BIDV,

FPT…



o Nguyên nhân chính:

 Nhà đầu tư thường xác định phương án nắm giữ tới khi đến hạn.

 Việc xác định giá TPDN trong giao dịch mua bán lại gặp nhiều khó

khăn do thanh khoản hạn chế, khơng có tiêu chuẩn làm căn cứ tính giá.



1.5.Giai đoạn 9 tháng đầu năm 2011

• Trái phiếu Chính phủ:

o Tổng số tiền huy động thành công qua kênh phát hành TP trong 9 tháng đầu

năm, theo thống kê sơ bộ, đạt hơn 93.814 tỷ đồng, tương đương 51,1% kế

hoạch huy động của cả năm 2011. Trong đó, bao gồm khoảng 54.892 tỷ đồng

TPCP và 38.922 tỷ đồng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành.

o Trong tình hình tiếp tục thắt chặt tiền tệ, cắt giảm đầu tư công trong suốt quý

3, việc huy động và giải ngân vốn, theo chủ trương của Chính phủ, được tiến

hành rà sốt và giảm tốc, chỉ ưu tiên cho các dự án thiết yếu. Kế hoạch phát

hành trái phiếu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) năm nay được điều

chỉnh giảm từ 45.000 tỷ xuống 35.000 tỷ, trong khi đã thực hiện phát hành

được khoảng 29.575 tỷ đồng tính đến ngày 10/10/2011, và Kho bạc Nhà nước

cũng đã phát hành thành công khoảng 54.942 tỷ đồng trong kế hoạch phát hành

90.000 tỷ đồng trái phiếu Kho bạc cho cả năm.

o Tổng giá trị giao dịch trên thị trường TPCP thứ cấp trong 9 tháng đầu năm đạt

khoảng 61.496 tỷ đồng, ứng với xấp xỉ 549 triệu đơn vị trái phiếu được giao

dịch. Trong đó, giao dịch TP Kho bạc chiếm 49,7% về khối lượng và 48,5% về

giá trị. Đáng chú ý, giá trị giao dịch trong quý 3 chiếm tới 43,6%, trong khi

quý 2 chiếm 36%. Tình hình giao dịch của TP đã tiếp tục phản ánh rõ nét diễn

biến lãi suất trên thị trường. Chủ trương hạ mặt bằng lãi suất chung của Chính

phủ đã khiến giá trị giao dịch TP tăng đột biến trong tháng 6 và tháng 7. Cụ



thể, 95 triệu đơn vị TP đã được chuyển nhượng trong tháng 6, tương ứng với

14.699 tỷ đồng, chiếm gần 24% tổng giá trị giao dịch của cả 3 quý; các con số

tương ứng của tháng 7 là 111 triệu đơn vị TP, 11.415 tỷ đồng và 18,5% tổng giá

trị.

• Trái phiếu doanh nghiệp :

o Sáu tháng đầu năm nay, thị trường TPDN gần như tê liêt.Từ chính sách thắt

chặt tiền tệ của Chính phủ, thị trường TPDN khơng có đợt phát hành nào thành

cơng, trừ một số giao dịch dưới hình thức bảo lãnh phát hành, thỏa thuận tín

dụng.

o Quý I/2011, do lạm phát tăng cao, cộng với một số tín hiệu bất ổn vĩ mô khác

làm cho lãi suất tăng. Cùng với đó là việc Ngân hàng Nhà nước cơng bố khống

chế trần tăng trưởng dư nợ của các NHTM trong năm 2011 là 20%, việc đầu tư

trái phiếu DN của các NHTM sẽ được tính vào dư nợ tín dụng.Trong bối cảnh

đó, các NHTM - nhà đầu tư chính vào trái phiếu DN, đã phải giữ thái độ thận

trọng với các đợt phát hành của DN. Nhà đầu tư rất kén DN phát hành, bởi

ngoài lý do đồng vốn hạn vốn hạn hẹp, họ không muốn đầu tư dàn trải trong

bối cảnh rủi ro quá lớn.

o DN phát hành trái phiếu có nhiều nhà đầu tư tham gia, song tính thanh khoản

khơng cao. Có thể kể đến trái phiếu của BIDV, EVN... Còn trên thị trường sơ

cấp, chưa có nhiều giao dịch chuẩn hóa theo đúng thơng lệ thị trường. Tại thị

trường thứ cấp, nhiều sản phẩm chưa được chuẩn hóa và chưa có cơ sở tham

chiếu đáng tin cậy để xác định giá.

o Thời gian qua, DN Việt Nam dường như chỉ quan tâm đến việc phát hành làm

sao càng nhiều càng tốt, lãi suất càng thấp càng tốt, chứ khơng quan tâm có

bao nhiêu nhà đầu tư, cơ cấu nhà đầu tư ra sao khi mua trái phiếu. Điều này trái

ngược hẳn với DN nước ngoài. Ở các nước, khi DN giao cho tổ chức phát hành

thì khơng những chỉ giao khối lượng phát hành mà còn đặt ra chỉ tiêu về cấu

trúc nhà đầu tư. Ví dụ: 50% nhà đầu tư nước ngoài, 50% nhà đầu tư trong

nước; bao nhiêu nhà đầu tư các nhân, tổ chức…

2.Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

2.1.Nguyên nhân kém phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam

• Quy mô nhỏ,thanh khoản thấp: Thị trường trái phiếu Việt Nam quy mơ vẫn còn

nhỏ, hàng hóa chủ yếu vẫn là TPCP; TPDN cũng rất ít, chủ yếu vẫn là các cơng ty,

tập đồn nhà nước và một số các tập đồn lớn. Do đó thị trường chưa thu hút nhà

đầu tư, số lượng nhà đầu tư ít khiến cho thị trường kém thanh khoản.Ngồi ra phí

giao dịch cao cũng là ngun nhân làm giảm tính thanh khoản của trái phiếu

• Thiếu tổ chức định mức tín nhiệm chuyên nghiệp:Tổ chức định mức tín nhiệm là

vơ cùng quan trọng đối với cả thị trường và nhà đầu tư vì nó đưa ra các đánh giá,

phân tích về các nhà phát hành trái phiếu trên thị trường kể cả chính phủ. Từ đó,























nhà đầu tư có cái nhìn tổng thể và khách quan về các đối tượng này. Tuy vậy,Việt

Nam chưa có tổ chức ĐMTN nào hoạt động chuyên nghiệp,đáp ứng các chuẩn

mực quốc tế.

Thiếu đội ngũ các nhà tạo lập thị trường :Nhà tạo lập thị trường đóng vai trò là

người mô giới và tự doanh trái phiếu và thu lợi nhuận từ hoạt động này. Họ sẵn

sàng thực hiện giao dịch mua và bán chứng khoán với các mức giá và số lượng đã

niêm yết từ đó giúp tăng tính thanh khoản cho thị trường và giúp thị trường sôi

động hơn. Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam có thể nói là chưa có đội ngũ nhà tạo lập

thị trường.

Chưa xác định được đường cong lãi suất chuẩn : Đường cong lãi suất chuẩn là đồ

thị phản ánh mối quan hệ giữa lãi suất và kỳ hạn của một công cụ nợ (cùng mức

tín dụng và chất lượng), có vai trò quan trọng trong việc tạo lãi suất tham chiếu

cho hoạt động phát hành, giao dịch và đầu tư trên TTTP, cung cấp thông tin phục

vụ công tác quản lý và điều hành thị trường đồng thời tăng tính minh bạch và

thanh khoản cho thị trường giao dịch.Lãi suất nói chung và lãi suất TPCP ở Việt

Nam chưa thực sự trở thành chuẩn mực để các tổ chức tài chính tham chiếu do nó

còn mang nặng ý chí chủ quan của cơ quan điều hành chính sách thơng qua cơ chế

lãi suất trần, chưa linh hoạt theo cung cầu thị trường mà còn cứng nhắc.

Tính cạnh tranh thấp :TP chưa được ưa chuộng như các hình thức đầu tư khác như

tiền gửi tiết kiệm, kì phiếu,bất động sản…do lãi suất TP thấp, không thay đổi linh

hoạt theo thị trường (nhiều lúc lãi suất thực âm);cơ chế mua bán, giao dịch khó

khăn;tính thanh khoản thấp…

Nhận thức của doanh nghiệp :Các DN chưa nhận thức đầy đủ về ưu điểm và tầm

quan trọng của việc huy động vốn thông qua TTTP

Công bố thông tin chưa đầy đủ :Ngay cả trên TTCK, việc công bố thông tin cũng

chưa rõ ràng, kịp thời; hiện tại chưa có cơ chế quy định rõ ràng về việc phải cơng

khai thơng tin

Hệ thống pháp lý chưa hồn chỉnh :Do là nước đang phát triển, thị trường còn non

trẻ và đang trong q trình hồn thiện hệ thống pháp luật nên hệ thống văn bản

pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chưa đồng bộ, cơ chế hoạt động

chưa thật hoàn chỉnh.



2.2. Định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

• Ưu tiên phát triển thị trường trái phiếu nội tệ.:Phát triển thị trường TPCP, nâng

cao tính thanh khoản, mở rộng quy mơ thị trường, xây dựng đường cong lãi suất

chuẩn làm nền tảng cho lãi suất cho TPDN cũng như các công cụ nợ khác. Chỉ khi

nào thị trường TPCP phát triển khi đó mới có thể khuyến khích sự tham gia của

các nhà đầu tư đối với thị trường TPDN, tạo động lực cho thị trường TPDN phát

triển. Chú trọng phát triển thị trường TPDN nhằm tạo thêm kênh huy động vốn

cho doanh nghiệp

• Phát triển hệ thống định mức tín nhiệm trong nước:Tăng cường tính minh bạch

thơng tin, bắt buộc các doanh nghiệp phát hành TP phải định mức tín nhiệm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×