Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I : Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu

Chương I : Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.2.2.Đặc điểm của trái phiếu

• Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ -con nợ giữa nhà phát hành và người mua

TP:Trái chủ có quyển đòi các khoản thanh tốn như cam kết về khối lượng và thời

hạn ,song không có quyển can thiệp vào những vấn đề của bên phát hành

• Thu nhập của TP: là tiền lãi,là khoản thu cố định,không phụ thuộc vào kết quả

kinh doanh của cơng ty.

• Trái phiếu là chứng khốn nợ,vì vậy khi cơng ty bị giải thể hoặc phá sản thì cơng

ty phải có nghĩa vụ thanh tốn cho các trái chủ trước ,sau đó mới đến các cổ đơng.

• Mệnh giá lớn :Ở VN, mệnh giá của trái phiếu được ấn định là 100.000 VNĐ và

các mệnh giá khác là bội số của 100.000 VNĐ.

=>Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu

1.3.Phân loại trái phiếu

1.3.1.Căn cứ vào chủ thể phát hành

• Trái phiếu của Chính phủ: là TP do Chính phủ phát hành để huy động tiền nhàn

rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính

phủ. Chính phủ là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường. Vì vậy, TPCP

được coi là loại chứng khốn có ít rủi ro nhất.

• Trái phiếu của doanh nghiệp: là những TP do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ

phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. TPDN có

nhiều loại và rất đa dạng.

• Trái phiếu chính quyền địa phương: là loại TP đầu tư có kỳ hạn từ 01 năm trở lên

do ủy ban nhân dân cấp tỉnh uỷ quyền cho Kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tài

chính, tín dụng trên địa bàn phát hành, nhằm huy động vốn cho các dự án, cơng

trình thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách địa phương, đã ghi trong kế hoạch

nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm.

1.3.2.Căn cử vào lợi tức trái phiếu

• Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại TP mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ

phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.

• Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): là loại TP mà lợi tức được trả

trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo

một lãi suất tham chiếu.

• Trái phiếu có lãi suất bằng không: là loại TP mà người mua không nhận được lãi,

nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả

bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.



1.3.3.Căn cứ vào phương thức trả gốc và lãi

• Coupon: là loại TP mà lãi được trả đều đặn theo kì,tiền gốc được thanh tốn vào

ngày đáo hạn.

• Consol : là loại TP mà lãi được trả đều đặn theo kì ,tiền gốc khơng trả.

• Zerocoupon (Discount bond): là loại trái phiếu mà người nắm giữ nó khơng được

trả lãi (coupon) định kì, thay vào đó TP lãi suất 0 được bán ở mức giá chiết khấu.

• Niên kim cố định :là loại TP mà tiền lãi và gốc của trái phiếu được hoàn trả bằng

những khoản tiền bằng nhau đều đặn theo kí.

• Hồn trả cố định :là loại TP mà tiền gốc được trả bằng nhau,đều đặn theo kì,tiền

lãi được xác định dựa trên số dư nợ gốc.

• Thanh tốn gốc và lãi khi đáo hạn: là loại TP mà tiền lãi và gốc được thanh tốn

mơt lần khi đáo hạn.

1.3.4.Căn cứ vào hình thức trái phiếu

• Trái phiếu vơ danh: là loại TP không ghi tên của người mua vào trong sổ sách của

người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.

• Trái phiếu ghi danh: là loại TP có ghi tên của người mua vào trong sổ sách của

người phát hành.

1.3.5.Căn cứ vào tính chất trái phiếu

• Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại TP của cơng ty cổ phần mà trái chủ được

quyền chuyển sang cổ phiếu của cơng ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời

gian và tỷ lệ khi mua TP.

• Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: là loại TP có kèm theo phiếu cho phép trái chủ

được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của cơng ty.

• Trái phiếu có thể mua lại: là loại TP cho phép nhà phát hành được quyền mua lại

một phần hay toàn bộ trước khi TP đến hạn thanh toán

1.3.6. Căn cứ theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành

• Trái phiếu bảo đảm: là loại TP mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm

vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh tốn, thì

trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn

nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:

o Trái phiếu có tài sản cầm cố: là loại TP bảo đảm bằng việc người phát hành

cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá

trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các TP phát hành để đảm bảo

quyền lợi cho trái chủ.



o Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: là loại TP được bảo đảm

bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ

chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.

• Trái phiếu không bảo đảm: là loại TP phát hành khơng có tài sản làm vật bảo đảm

mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.

1.4.Rủi ro trái phiếu

1.4.1.Rủi ro lãi suất

• Lãi suất là yếu tố thường xuyên biến động ,phản ánh những thay đổi về tương

quan cung-cầu vốn tiền tệ,tín dụng trên thị trường tài chính.Rủi ro lãi suất là rủi ro

chính mà nhà đầu tư phải chịu khi đầu tư TP.

• Giá của một loại TP sẽ có xu hướng đi ngược lại lãi suất trên thị trường:Khi lãi

suất tăng sẽ khiến lãi suất cũ của TP trở nên kém hấp dẫn hơn,giá TP giảm.TP có

thời hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn và ngược lại.

1.4.2.Rủi ro lạm phát

• Lạm phát gây nên sự thay đổi giá trị, sức mua của tiền tệ. Với các nhà đầu tư TP

khi lạm phát càng cao, lãi suất thực của TP càng giảm, do vậy làm giảm giá trị của

trái phiếu.

• Ngay cả trái phiếu có lãi suất thả nổi khi lãi suất không phản ánh hết lạm phát thì

cũng sẽ phải chịu rủi ro lạm phát. Lạm phát càng cao thì rủi ro đầu tư TP càng

cao.Vì vậy trong bối cảnh lạm phát cao để đảm bảo lãi suất thực dương thì lợi suất

TP phải tăng.

1.4.3.Rủi ro thanh khoản

• Rủi ro thanh khoản là rủi ro về khả năng chuyển đổi TP thành tiền mặt trên thị

trường, bao gồm cả yếu tố thời gian và giá cả chuyển đổi. Để tăng tính thanh

khoản cho TP, nhà đầu tư buộc phải tăng mức chiết khấu TP do đó giá TP bị đẩy

xuống, lúc này nhà đầu tư đã phải gánh chịu thiệt hại về giá trị. Khoản thiệt hại

này sẽ lớn khi thị thị trường thiếu tính thanh khoản và đặc biệt là trong điều kiện

chưa có đội ngũ tạo lập thị trường làm cho nhà đầu khó tìm được người mua TP và

khó có thể bán được với mức giá tốt nhất.

1.4.4.Rủi ro tín dụng

• Là rủi ro về khả năng thanh toán, khi tổ chức phát hành TP khơng đủ khả năng tài

chính để hoàn trả đầy đủ, đúng hạn vốn gốc và lãi như đã cam kết với trái chủ.

• Trái phiếu Chính phủ thường được coi là khơng có rủi ro về khả năng thanh tốn

vì Chính phủ có thể tăng thuế hay in thêm tiền để chi trả lãi và vốn gốc khi đến

hạn. Một trường hợp hiếm thấy khi Chính phủ khơng thể thanh tốn được nợ là

cuộc khủng hoảng đồng Rúp của Chính phủ Nga năm 1998.



• Ngược lại với TPCP, đối với TP cơng ty thì đây là loại rủi ro đáng ngại nhất. Khi

công ty phát hành bị phá sản đe dọa nhà tư bị thiệt hại một phần hoặc toàn bộ số

tiền đã mua TP. Rủi ro tài chính của trái phiếu cơng ty gắn liền với hệ số tín nhiệm

của cơng ty, hệ số tín nhiệm càng cao thì trái phiếu càng được đánh giá an tồn.

Ngồi ra còn có các loại rủi ro khác như rủi ro tỉ giá,rủi ro thị trường….

2.Tổng quan về thị trường trái phiếu ở Việt Nam

2.1.Khái niệm

Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường tài chính,thực hiện mua bán,trao

đổi,giao dịch các loại TP.

2.2.Đặc điểm của thị trường trái phiếu

TTTP là nơi mua bán,trao đổi và giao dịch các cơng cụ nợ trung&dài hạn

• Tại thị trường này ,nguồn vốn được huy động có chi phí rẻ hơn thị trường cổ phiếu

• Trái phiếu có độ an tồn khá cao

• TTTP thường gắn với thị trường giao dịch do TP thường có thời hạn xác định.Tuy

quy mơ của thị trường là rất lớn,song hàng hóa trên thị trường thay đổi liên tục,TP

mới phát hành sẽ thay thế cho TP đáo hạn và q trình đó diễn ra liên tục

TTTP có quy mơ rất lớn

• TTTP thường có quy mơ lớn gấp nhiều lần thị trường cổ phiếu

• TTTP thường xuyên giao dịch với khối lượng và giá trị lớn.Đây là đặc điểm quan

trọng khi các thanh viên tham gia thị trường chủ yếu là các trung gian tài chính.Do

đó TTTP thường được tổ chức theo mơ hình OTC:

o Phương thức giao dịch: chủ yếu là thỏa thuận

o Các thức và thời gian thanh toán: hêt sức linh hoạt

2.3.Các chủ thể tham gia

Chủ thế tham gia TTTP rất đa dạng:

o

o

o

o

o



Nhà phát hành:Chính phủ,DN,chính quyển địa phương,…

Tổ chức tài chính:NH,cơng ty bảo hiểm,quỹ đầu tư,…

Các nhà đầu tư : Cá nhân,hộ gia đình,DN,…

Nhà tạo lập thị trường

Cơ quan quản lý thị trường



Ở Việt Nam, về đối tượng tham gia thị trường: bên cạnh 4 NHTM lớn còn có một số ngân

hàng nước ngồi và các cơng ty chứng khốn vẫn là thành viên thường xuyên của thị



trường nhiều năm qua. Năm 2010 có thêm sự tham gia mạnh mẽ của khối NHTM cổ

phần, nhất là các ngân hàng có quy mơ vốn và tài sản lớn.

2.4.Vai trò của thị trường trái phiếu

Sự tạo lập và phát triển TTTP có ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của thị

trường tài chính cũng như nền kinh tế của mỗi qc gia

2.4.1.Đối với nền kinh tế

• TTTP là kênh huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả,là một bộ phận của thị

trường vốn trung-dài hạn,thực hiện cơ chế chuyển vốn từ nhà đầu tư sang nhà phát

hành qua đó thể hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn

trung –dài hạn cho nền kinh tế

• TTTP phát triển là cho thị trường vốn hoàn thiện và đa dạng hơn

• TTTP giúp Chính phủ thực thi có hiệu quả chức năng điều hành kinh tế vĩ

mơ.Thơng qua việc phát hành trái phiếu và đầu tư vốn,TPCP giúp nâng cao hiệu

quả của việc phân phối và tái phân phối nguồn lực tài chính,định hướng hoạt động

đầu tư trong nền kinh tế

• TTTP Chính phủ cũng giúp Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ .NHTW thưc

hiện việc mua bán ngắn hạn TTCP để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở:

o Khi muốn giảm cung tiền:NHTW thực hiện hoạt động bán trái phiếu

o Khi muốn tăng cung tiền: NHTW thực hiện hoạt động mua trái phiếu



2.4.2.Đối với nhà phát hành

• Với Chính phủ:

o Đáp ứng nhu cầu về vốn của Chính phủ

o Thúc đẩy phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khốn

o Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư

o Giúp Việt Nam hội nhập thị trường vốn quốc tế tốt hơn

• Với Doanh nghiệp

o Giúp DN tiếp cận với nguồn vốn ổn định,dễ dàng,dài hạn hơn so với việc đi

vay tín dụng từ NH và các TCTD khác

o Giúp DN hạn chế việc bị thao túng,chia sẻ lợi tức,không phái chịu áp lực

chia sẻ quyển quản lý cũng như sự pha loãng khi phát hành cổ phiếu

o Khi DN phát hành trái phiếu thị không bị quản lý về quy mơ (miễn là DN

có dự án đầu tư hợp lý ,có tính khả thi và có khả năng hồn trả gốc và lãi

cho người nắm giữ trái phiếu)

o Chi phí sử dụng vốn khi phát hành trái phiếu thấp hơn cổ phiếu vì đặc

điểm của trái phiếu



2.4.3.Đối với nhà đầu tư

• Đa dạng hóa các sản phẩm tài chính ,cung cấp nhiều lựa chọn cho các nhà đầu

tư,giúp nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu tư

• Giúp nhà đầu tư có những khoản thu cố định :do đặc điểm của trái phiếu là tính

ổn định và ít rủi ro hơn cổ phiếu, ln có thời hạn nhất định, khi đáo hạn trái

chủ nhận được phần vốn góp ban đầu của mình. Thu nhập lúc này chủ yếu là

tiền lãi, đây là khoản thu cố định

2.5.Phân loại thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

2.5.1.Thị trường sơ cấp

• Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các TP mới phát hành. Trên thị trường

này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu

mua các TP mới phát hành.

• Vai trò của thị trường sơ cấp:

o Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy

động qua việc phát hành chứng khốn

o Thực hiện q trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhà

rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền san dạng vốn dài hạn.

• Đặc điểm của thị trường sơ cấp :

o Thị trường sơ cấp là nơi mà các TP đem lại vốn cho người phát hành. Là

trhị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa

cho thị trường giao dịch. Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ

cấp làm tăng vốn đầu tư.



o Những người bán TP trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho

bạc, Ngân hàng Nhà nước, cơng ty phát hành, tập đồn bảo lãnh phát

hành,...

o Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất

định, trong thời gian hạn định.



2.5.2.Thị trường thứ cấp

• Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị

trường sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền nhượng quyền sở hữu trái

phiếu. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát

hành.

• Đặc điểm thị trường thứ cấp:

o Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu

thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ khơng thuộc

về nhà phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những

người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái

phiếu trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị

trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.

o Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá

trái phiếu trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định.

o Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có

thể mua và bán các chứng khốn nhiều lần trên thị trường thứ cấp.

2.5.3.Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

• Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường

thứ cấp vì nó là nơi cung cấp hàng hóa cho thị trường thứ cấp.

• Việc mua bán trên thị trường thứ cấp đã tạo tính thanh khoản cao cho TP,tạo tính

hấp dẫn đối với nhà đầu tư.Nhớ đó mà các nhà phát hành TP có thể bán được TP

trên thị trường sơ cấp và huy động được nguồn vốn lớn theo nhu cầu.

Chương II : Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam

hiện nay

1.Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay

1.1.Giai đoạn năm 2006 đến giữa năm 2007

Đây là một giai đoạn khá thuận lợi cho sự phát triển của thị trường TP Việt Nam.Trước

thời cơ gia nhập WTO 7/11/2006 ,bên cạnh những thách thức trước mắt như cạnh tranh



quốc tế hay những rằng buộc về pháp lý,TTTP Việt Nam cũng đón nhận cơ hội vơ cùng

q giá để có thế huy động nguồn vốn lớn với chi phí rẻ

• Trái phiếu Chính phủ :

o Chỉ tính riêng TPCP do Kho bạc Nhà nước phát hành, năm 2006 và 6

tháng đầu năm 2007 thông qua gần 30 phiên đấu thầu TPCP tại HASTC, đã

huy động được 12.695 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước. Trong đó, lãi suất

trúng thầu có xu hướng giảm dần từ mức bình quân 8,75%/năm vào đầu

năm 2006 xuống 7,00%/năm trong một số phiên vào tháng 8/2007 làm

giảm đáng kể gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc huy động vốn

cho đầu tư phát triển, góp phần bình ổn lãi suất cho vay của ngân hàng, từ

đó góp phần bình ổn kinh tế vĩ mơ.

o Tuy nhiên bên cạnh đó TPCP giai đoạn này vẫn có một sổ hạn chế nhất

định : Năm 2006, kế hoạch phát hành đề ra là 15.500 tỷ đồng nhưng cả năm

chỉ thực hiện được khoảng 10.500 tỷ đồng bằng 68%. Lãi suất trần thấp nên

một số phiên đấu thầu đã không huy động đủ 100% khối lượng gọi thầu. Sự

đơn điệu về kỳ hạn TP đã không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà

đầu tư TP trong thời gian qua.Chủ yếu là kỳ hạn 5 năm, các loại kỳ hạn

khác như (2 năm; 3 năm; 7 năm; 10 năm và 15 năm...) chưa được duy trì

đều đặn.

• Trái phiếu doanh nghiệp:

o Số lượng doanh nghiệp và Cơ cấu TPDN trong TTTP Việt Nam vẫn còn

hạn chế: Cho tới 2007, mới chỉ có 10 doanh nghiệp phát hành TP, gồm :

PetroVietnam,Tổng công ty cao su, Vinashin, EVN, Lilama, Vietnam Steel

Corperation, Vilexim, Tổng Công ty cổ phần xây dựng điện Việt nam, Tổng

công ty Sông Đà và Vinaconex. Tất cả các công ty này đều là những đơn vị

đầu ngành hoặc các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa.

o Dư nợ TPDN/GDP mới chiếm khoảng 2%. Nhưng Doanh số từ phát

hành TP có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Từ 300 tỷ VND do Tổng cơng ty Dầu

khí phát hành năm 2003 đã lên đến hơn 6.600 tỷ VND tháng 3 năm 2007,

đặc biệt năm 2006 đạt hơn 8.800 tỷ VND, trong đó EVN phát hành 6 đợt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I : Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×