Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4: Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương.

4: Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Những người có hao phí lao động như nhau mặc dù khác về tuổi tác, dân tộc,

giới tính, trình độ... thì được trả lương như nhau. Đây là nguyên tắc rất quan

trọng vì nó đảm bảo được sự cơng bằng, bình đẳng trong trả lương. Điều này

có ý nghĩa khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động rất lớn. .

Nguyên tắc này nhất quán trong từng chủ thể kinh tế, trong từng doanh nghiệp

cũng như từng khu vực hoạt động. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này

còn nhiều hạn chế. Nó phụ thuộc vào sự phát triển và tổ chức quản lý kinh tế

xã hội của từng nước,trong từng thời kỳ khác nhau.

Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau bao hàm ý nghĩa

đối với những cơng việc khác nhau thì cần có sự đánh giá đúng mức và phân

biệt cơng bằng, chính xác trong tính tốn trả lương. Ngun tắc này được thực

hiện nhất quán trong từng chủ thể kinh tế, trong từng doanh nghiệp cũng như

trong từng khu vực hoạt động.

Nguyên tắc 2 : Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương

bình quân

Tiền lương cũng là một trong những khoản mục chi phí cấu thành nên

giá thành sản phẩm. Nếu năng suất lao động tăng chậm hơn tiền lương bình

quân thì đương nhiên chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng và thu nhập

mang lại không đủ bù đắp các khoản chi, sản xuất bị đình trệ.

Thực tế trong các doanh nghiệp cho thấy, nếu tăng tiền lương sẽ dẫn

đến tăng chi phí sản xuất (cụ thể là chi phí về nhân cơng) và ngược laị tăng

năng suất lao động sẽ làm giảm chi phí sản xuất trong từng đơn vị sản phẩm.

Các doanh nghiệp nên quan tâm để thực hiện đúng nguyên tắc này, tránh để

doanh nghiệp lâm vào tình trạng đình trệ, làm ăn khơng có lãi.

Khi xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tiền

lương thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân ta thấy

chúng có mối quan hệ với tốc độ phát triển của khu vực sản xuất tư liệu sản



xuất ( khu vực I ) và khu vực sản xuất vật phẩm tiêu dùng ( khu vực II ). Khu

vực I phải tăng nhanh hơn khu vực II do nhu cầu tái sản xuất mở rộng. Do vậy

tổng sản phẩm xã hội ( khu vực I + khu vực II ) có tốc độ tăng cao hơn tốc độ

tăng của riêng khu vực II. Ta cũng thấy khơng phải tồn bộ phần tiền lương

dùng để chi phí cho tiêu dùng mà tiền lương một phần dùng để tích luỹ. Điều

này cũng chỉ ra rằng muốn tăng tiền lương thì phải tăng năng suất lao động xã

hội với tốc độ tăng cao hơn.

Nguyên tắc 3 : Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những

người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.

Trình độ lành nghề bình quân của mỗi người lao động, điều kiện lao

động và ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân là

khác nhau và điều này có ảnh hưởng đến tiền lương bình qn của người lao

động. Đương nhiên những nghề có tính chất phức tạp và kỹ thuật hoặc có vị

trí mũi nhọn trong nền kinh tế thì được trả lương cao hơn các ngành khác.

Nhưng việc trả lương cao hơn như thế nào để tránh được sự chênh lệch quá

mức góp phần vào sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội là điều cần lưu ý.

Tiền lương trả đúng sức lao động sẽ khuyến khích người lao động làm việc.

Tiền lương trả cao hơn hoặc thấp hơn đều làm giảm năng suất lao động.

1.5. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp.

Các hình thức trả lương được thực hiện qua các chế độ tiền lương. Hiện

nay ở nước ta có hai chế độ tiền lương, đó là chế độ tiền lương cấp bậc và chế

độ tiền lương chức vụ.

Chế độ tiền lương cấp bậc là quy định của nhà nước mà doanh nghiệp

áp dụng trả lương cho người lao động theo chất lượng và điều kiện lao động

khi họ hồn thành một cơng việc nào đó. Trong chế độ tiền lương cấp bậc

gồm có thang lương, bảng lương, hệ số lương và mức lương.



Chế độ tiền lương chức vụ là những quy định của nhà nước áp dụng để

trả lương cho cán bộ và nhân viên thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Dựa trên hai chế độ trả lương có các hình thức trả lương sau :

1.5.1:Chế độ trả lương theo thời gian.

1.5.1.1: Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn.

Là chế độ trả lương mà người lao động nhận được dựa trên cơ sở mức

tiền công đã được xác định cho công việc và số đơn vị thời gian thực tế làm

việc, với điều kiện họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối

thiểu đã được xây dựng trước. Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi

ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng. Trong mỗi thang lương lại tuỳ

theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn mà chia làm nhiều

bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.

Chế độ này chỉ áp dụng ở những nơi khó định mức lao động chính xác,

khó đánh giá cơng việc chính xác, hoặc các cơng việc đòi hỏi chất lượng cao,

các công việc mà năng suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc thiết

bị hay các hoạt động tạm thời, sản xuất thử. Tiền lương trả theo thời gian chủ

yếu áp dụng đối với người làm công tác quản lý, còn đối với cơng nhân sản

xuất chỉ áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc

những công việc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính

xác hoặc vì tính chất của sản xuất nếu trả lương theo sản phẩm sẽ không đảm

bảo được chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực.

Chế độ này có 3 loại tiền lương theo thời gian giản đơn:

Lương tháng: Lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ

sở hợp đồng lao động. Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho

nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên

thuộc các ngành khơng mang tính chất sản xuất. Được tính theo mức lương

cấp bậc, chức vụ của cơng nhân viên chức.



Cơng thức tính:

Tiền lương tháng = Mức lương cấp bậc, chức vụ + Các khoản phụ

cấp

Lương ngày: Lương ngày là tiền lương trả cho người lao động theo

mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Mức lương ngày

được tính bằng cách lấy mức lương tháng chia cho số ngày làm việc trong

tháng theo chế độ. Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho lao

động trực tiếp hưởng lương thời gian,tính lương cho người lao động trong

những ngày hội họp, đi học hoặc làm cơng việc khác.

Cơng thức tính

Lương ngày = Lương tháng/ Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ

Lương giờ : Tính theo lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc

Lương giờ = Lương ngày / Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ

Ưu điểm của chế độ trả lương này là dễ tính, dễ trả lương cho người lao

động.

Nhược điểm là mang nặng tính bình qn, khơng khuyến khích người

lao động tích cực trong cơng việc. Loại tiền lương này không phát huy được

đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó chưa gắn kết được với số

lượng và chất lượng thực tế công việc của công nhân viên chức.

1.5.1.2:Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng .

Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian

và tiền lương khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng và chất lượng đã quy

định. Chế độ trả lương này được áp dụng đối với những công nhân phụ làm

công việc phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị... Ngồi ra còn

áp dụng với cơng nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất có trình đọ cơ

khí hố, tự động hố cao hoặc những cơng việc tuyệt đối phải đảm bảo chất



lượng. Chế độ tiền lương này đã khắc phục được phần nào nhược điểm của

chế độ tiền lương theo thời gian giản đơn.

Tiền lương của người lao động đựoc tính bằng cách lấy lương trả theo

thời gian giản đơn cộng với mức tiền lương nào đó.

Cơng thức tính:

Tiền lương = Tiền lương theo thời gian giản đơn + Tiền thưởng

Ưu điểm của chế độ trả lương theo thời gian có thưởng là khuyến khích

người lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm

chi phí sản xuất.

Nhìn chung hình thức trả lương theo thời gian còn có hạn chế là tiền

lương còn mang tính chất bình qn, nhiều khi khơng phù hợp với kết quả lao

động thực tế của người lao động. Vì vậy chỉ những trường hợp chưa đủ điều

kiện thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm mới phải áp dụng chế độ trả

lương theo thời gian và nên kết hợp với chế độ thưởng để khuyến khích người

lao động hăng hái làm việc.

1.5.2: Hình thức trả lương theo sản phẩm

So với hình thức trả lương theo thời gian thì hình thức trả lương theo

sản phẩm ngày càng chiếm được ưu thế và được sử dụng rộng rãi với nhiều

chế độ linh hoạt bởi vì nó có hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh

1.5.2.1:. Điều kiện áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm

a. Điều kiện đảm bảo tính tốn chính xác đơn giá sản phẩm

+ Phải xây dựng được các mức lao động có căn cứ khoa học, đây là yếu

tố căn bản nhất, có xác định được mức lao động khoa học thì mới xác định

được mức sản lượng giao cho người lao động mới đúng và từ đó mới xác định

chính xác đơn giá sản phẩm.

+ Định mức lao động là căn cứ để trả lương cho người lao động tuỳ

theo mức sản xuất và chất lượng mỗi người đạt được. Qua công tác định mức



mới biết một sản phẩm làm ra tốn bao nhiêu thời gian và cần một trình độ như

thế nào. Vì vậy định mức lao động tốt là điều kiện cần thiết trong việc áp

dụng hình thức trả lương theo sản phẩm.

+ Phân cơng bố trí lao động hợp lý, phù hợp với cấp bậc và công việc.

Cấp bậc công việc xác định mức độ phức tạp của công việc của công nhân.

Trả lương theo sản phẩm phải theo đơn giá trả lương tính theo cấp bậc cơng

việc. Do đó, muốn cho đơn giá trả lương đúng đắn ngồi việc có hệ thống

định mức lao động còn phải xác định đúng đắn cấp bậc công việc.

b. Những điều kiện đảm bảo tái sản xuất liên tục và chất lượng

+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc tốt, kết quả hoàn thành trong ca làm

việc, ngoài sự cố gắng của cơng nhân do trình độ tổ chức nơi làm việc quyết

định. Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc, hạn chế đến mức tối đa thời gian

không làm việc sẽ tạo điều kiện cho người cơng nhân hồn thành vượt mức

quy định

+Mặt hàng sản xuất và công nghệ sản xuất phải ổn định. Điều này giúp

cho công nhân nhanh chóng nâng cao tay nghề và khơng mất nhiều thời gian

đào tạo lại.

+ Phải làm tốt công tác thống kê, nghiệm thu sản phẩm do thu nhập

của công nhân phụ thuộc vào số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành theo

quy định, vì thế để đảm bảo tính chính xác, cơng bằng trong việc trả lương thì

cần phải tổ chức tốt công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm.

+ Cần phải làm tốt công tác giáo dục tư tưởng cho công nhân để họ

nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi khi làm việc hưởng lương theo sản

phẩm. Tránh khuynh hướng chỉ chú ý đến số lượng sản phẩm, lợi ích vật chất

mà bỏ qua việc sử dụng tốt nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và giữ vững

chất lượng sản phẩm.



1.5.2.2: Các chế độ trả lương theo sản phẩm

a.Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân

Chế độ trả lương này được áp dụng rộng rãi đối với người trực tiếp sản

xuất trong quá trình điều kiện q trình lao động của họ mang tính chất độc

lập tương đối, có thể định mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách

riêng biệt.

ĐG= L/Q hoặc ĐG = L x T

Trong đó :

ĐG : Đơn giá sản phẩm

Q : Mức sản lượng

L : Lương theo cấp bậc công việc

T : Mức thời gian ( giờ)

Tiền lương của công nhân nhận được là :

LTT = ĐG x QTT

Trong đó :

LTT : Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân

ĐG : Đơn giá tiền lương một đơn vị sản phẩm

QTT : Số sản phẩm mà công nhân đó làm ra

Ưu điểm : Mối quan hệ tiền lương của công nhân nhận được và kết quả

lao động thể hiện rõ ràng, do đó khuyến khích cơng nhân nâng cao trình độ

chun mơn kỹ thuật, trình độ lành nghề để nâng cao năng suất lao động nằm

nâng cao thu nhập. Chế độ tiền lương này dễ hiểu, người lao động dễ dàng

tính tốn lương của mình sau khi hồn thành nhiệm vụ sản xuất.

Nhược điểm : Tinh thần tập thể kém, cơng nhân ít quan tâm đến sử

dụng tốt máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, có những trường hợp chạy theo

số lượng ít quan tâm đến chất lượng sản phẩm.

b.Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể



Chế độ áp dụng đối với những công việc cần một tập thể công nhân

cùng làm việc

+ Đơn giá :

n



ĐG=



L

i 1



i



n



hoặc ĐG =



Q



L

i 1



i



x T i hoặc ĐG = L x T



Trong đó :

ĐG : Mức thời gian của sản phẩm

L : Lương cấp bậc cơng việc bình qn của cả tổ



Q : Mức sản lượng của cả nhóm

T : Mức thời gian của sản phẩm

n: Số công việc trong tổ



L : Lương cấp bậc của công việc bậc i

i



T



i



: Mức thời gian của công việc bặc i



n



 L : Tổng lương cấp bậc của cả nhóm

i 1



i



+ Tổng số tiền lương của nhóm là :

LTT = ĐG x QTT

Trong đó :

LTT : Tiền lương sản phẩm tập thể của cả nhóm

QTT : Số lượng sản phẩm cá nhân sản xuất trong tháng

ĐG : Đơn giá tính theo sản phẩm tập thể

Ưu điểm : Khuyến khích cơng nhân trong tổ,nhóm nâng cao trách

nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ, đơn giản, dễ hiểu,

dễ áp dụng.

Nhược điểm : Sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định

tiền lương của họ, do đó khơng khuyến khích cá nhân nâng cao năng suất cá

nhân. Mặt khác phân phối tiền lương chưa tính đến tình hình thực tế của công



nhân về các mặt sức khoẻ, thái độ lao động... nên chưa thực hiện đầy đủ

nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động.

c.Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp

Chế độ trả lương này áp dụng đối với những công nhân phụ mà công

việc của họ ảnh hưởng nhiều đến kết quả sản xuất của những cơng nhân tính

lương theo lương sản phẩm

Đơn giá được tính như sau :

L



ĐG= M .Q

Trong đó :

ĐG : Đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp

M : Số máy phục vụ cùng loại

Q : Mức sản lượng của cơng nhân chính

L : Lương cấp bậc của công nhân phụ

Thu nhập của công nhân phụ là :

LGT = ĐG x Q

Trong đó :

LGT : Lương của cơng nhân hưởng lương theo sản phẩm gián tiếp

ĐG : Đơn gía tính theo sản phẩm gián tiếp

Q : Sản phẩm của cơng nhân chính sản xuất được

Ưu điểm : Do tiền lương của công nhân phục vụ lệ thuộc vào mức sản

xuất của các cơng nhân chính mà anh ta phục vụ, do đó đòi hỏi cơng nhân

phải có trách nhiệm và tìm cách phục vụ tốt cho người cơng nhân chính hồn

thành cơng việc.

Nhược điểm : Tiền lương của công nhân phụ phụ thuộc vào sản lượng

của công nhân chính nên nó phụ thuộc vào trình độ lành nghề thái độ làm việc



của cơng nhân chính. Chính vì vậy chế độ tiền lương này khơng đánh giá

chính xác năng lực của cơng nhân phụ.

d.Chế độ trả lương khốn

Chế độ tiền lương này áp dụng cho những công việc nếu làm riêng từng

chi tiết, từng bộ phận công việc theo thời gian thì khơng có lợi về mặt kinh tế

và thời gian khơng đảm bảo, đồng thời cơng việc đòi hỏi một tập hợp nhiều

loại công việc khác nhau theo yêu cầu hoàn thành đúng thời hạn. Chế độ tiền

lương này áp dụng chủ yếu trong xây dựng cơ bản và một số cơng việc trong

nơng nghiệp. Nó được áp dụng chủ yếu cho cá nhận hoặc tập thể.

Ưu điểm : Người lao động biết trước được số lượng tiền sẽ nhận được

khi hồn thành cơng việc, kích thích người lao động hăng say làm việc hoàn

thành trước thời hạn.

Nhược điểm : Phải tính tốn đơn giá hết sức chặt chẽ và tỷ mỉ để xây

dựng đơn giá lương chính xác cho người lao động.

e.Chế độ tiền lương theo sản phẩm có thưởng

Thực chất của chế độ tiền lương này là sự kết hợp các chế độ trả lương

kể trên với các hình thức tiền thưởng. Khi áp dụng chế độ này, phần tiền

lương được tính theo đơn giá cố định còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức hồn

thành và vượt mức các chỉ tiêu.

Tiền lương trả theo chế độ này được tính theo cơng thức :

L th  L 



L (mh)

100



Trong đó :

L : Lương trả theo sản phẩm với đơn giá cố định

m : % tiền thưởng cho 1% hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thưởng

h : % hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thưởng



Yêu cầu cơ bản khi áp dụng chế độ tiền lương này quy định đúng các

chỉ tiêu, điều kiện thưởng, tỷ lệ thưởng bình qn. Tỷ lệ thưởng bình qn

khơng phải là bình qn hố cho mọi người trong doanh nghiệp mà nó xác

định tỷ lệ thường nói chung cho doanh nghiệp về tiền lương.

Ưu điểm : Khuyến khích người lao động hồn thành vượt mức chỉ tiêu

được giao

Nhược điểm : Xác định tỷ lệ thưởng tương đối phức tạp

1.6. Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý trả lương cho người lao

động trong doanh nghiệp.

Hồn thiện cơng tác quản lý trả lương cho người lao động trong doanh

nghiệp là xuất phát từ những đòi hỏi tất yếu khách quan, những yêu cầu tự

thân chứ không phải là công việc đặt ra của bộ phận quản trị nhân lực bởi:

Hồn thiện cơng tác quản lý trả lương cho người lao động trong doanh

nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả

cao cũng như tác động một cách tích cực tới đạo đức của người lao động.

Quản lý trả lương hợp lý là cơ sở cho sự công bằng của người lao động đồng

thời tạo động lực thúc đẩy người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị

của họ đối với doanh nghiệp thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp

cho doanh nghiệp.

Để người cơng nhân gắn bó với cơng việc, và doanh nghiệp phát huy

hết sáng tạo , đề cao tinh thần thách nhiệm của họ trong sản xuất, tiết kiệm

nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp phải có phương

pháp quản lí và phân phối quỹ tiền lương nói riêng và quỹ tài chính nói

chung sao cho có hiệu quả. Đồng thời ln tạo sự công bằng đối với người

lao động trong vấn đề trả lương, điều đó dẫn đến sự cần thiết phải hồn thiện

công tác quản lý trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4: Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x