Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Năm 2010 công ty đạt doanh thu 51,75trđ với 24,64 vòng quay. Nếu số vòng quay vốn lưu động vẫn như năm 2009 thì số vốn lưu động cần có là: 51,75: 24,08= 2,15trđ.

Năm 2010 công ty đạt doanh thu 51,75trđ với 24,64 vòng quay. Nếu số vòng quay vốn lưu động vẫn như năm 2009 thì số vốn lưu động cần có là: 51,75: 24,08= 2,15trđ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Theo phần khái quá cơ cấu vốn và tình hình sử dụng VLĐ ở trên ta

đã biết doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động chủ yếu do vốn bằng tiền, dự

trữ và hàng tồn kho, các khoản phải thu, TSNH khác có tăng trong năm

2010 nhưng giá trị lại nhỏ hơn nhiều so với giá trị của VLĐ sử dụng cho

hàng dự trữ và tồn kho. Như vậy ta không thể kết luận được chi nhánh công

ty Vinh Hạnh sử dụng VLĐ phù hợp và hiệu quả hay chưa. Do đó, ta đi

phân tích khả năng thanh tốn của cơng ty. Khả năng thanh tốn được tính

theo các cơng thức sau:

+ Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số thanh toán

hiện hành



=



TSNH

Nợ NH



+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh



Hệ số thanh toán nhanh



=



TSHH – Hàng tồn kho

Nợ NH



+ Hệ số khả năng thanh tốn tức thời



Hệ só khả năng

thanh tốn tức

thời



=



Tiền và các khoản

tương đương tiền

Nợ NH



Bảng 9: Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Chỉ tiêu



Năm 2009



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



Năm 2010



Năm 2010/2009



64



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



TT

Giá trị



Tỷ

lệ(%)



1



Hệ số thanh

toán hiện hành



0,9221



0,9586



0,0365



27,65



2



Hệ số thanh

toán nhanh



0,9210



0,9574



0,0364



27,57



3



Hệ số khả năng

thanh toán tứ

thời



0,4886



0,5477



0,0591



44,77



( Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)

Theo bảng 9 cho ta thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp trong

ngắn hạn là khá khả quan vì hệ số thanh tốn trong ngắn hạn của doanh

nghiệp >1 nhưng khả năng thanh tốn của doanh nghiệp lại khơng được tốt

vì cả 3 hệ số thánh toán trên đều < 1. Song bên cạnh đó thì hệ số thanh tốn

của năm 2010 lại cao hơn hệ số thanh toán của năm 2009. Năm 2009 hệ số

thanh toán hiện hành là 0,9221 năm 2010 là 0,9586 tăng 0,0365; hệ số

thanh toán nhanh năm 2009 là 0,9210 và năm 2010 hệ số thanh toán nhanh

0,9574 tăng 0,0364 ;hệ số thanh toán tức thời năm 2009 là 0,4886 và hệ số

thanh toán tức thời năm 2010 là 0,5477 tăng 0,0591. Điều này đồng nghĩa

với việc doanh nghiệp sử dụng VLĐ cho vốn bằng tiền quá nhiều và đầu tư

nhiều vào dự trữ hàng hóa tồn kho làm cho khả năng sử dụng VLĐ kém

phát triển. Để cải thiện hệ số thanh tốn doanh nghiệp có thể chuyển đổi

một số tài sản lưu động sang hình thức đầu tư khác như: trái phiếu, tín

phiếu pho bạc, cổ phiếu,… Các khoản đầu tư đầu tư này không chỉ có ích

về tính thanh khoản mà chúng còn mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho

công ty đầu tư hiệu quả. Thị trường tài chính phát triển còn là kênh huy

động vốn đắc lực khi công ty tham gia thị trường. Tuy nhiên, việc duy trì



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



65



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



lượng tiền mặt quá lớn trong công ty sẽ làm cho hiệu quả đầu tư thấp do

tính khơng sinh lời của chúng, song nếu chúng q thấp sẽ khiến cơng ty

gặp khó khăn trong thanh tốn bị động về tài chính, bỏ nỡ nhiều cơ hội kinh

doanh. Vì vậy việc giữ tiền mặt lại bao nhiêu trong doanh nghiệp cũng cần

xem xét và lập kế hoạch cụ thể.

Qua phân tích ở trên ta thấy tình hình thanh tốn của cơng ty còn gặp

nhiều khó khăn. Do đó để cân đối lại khả năng thanh tốn các nhà quản trị

tài chính cơng ty cần theo dõi thường xun các khoản nợ đến hạn, đồng

thời có chính sách đầu tư ngắn hạn hợp lý sao cho có thể chuyển đổi các tài

sản lưu động thành tiền một cách nhanh nhất, sẵn sàng đáp ứng các khoản

nợ đến hạn của cơng ty. Thay vì chỉ vay trong ngắn hạn để tài trợ cho các

nhu cầu về VLĐ doanh nghiệp có thể bổ sung bằng nguồn vay dài hạn từ

các tổ chức trung gian tài chính hoặc thơng qua thị trường chứng khoán

bằng cách phát hành cổ phiếu. Đồng thời kết hợp với chính sách kế hoạch

hóa nguồn tiền mặt, tích cực thu hổi các khoản phải thu.

2.2.3.6 Tốc độ chu chuyển VLĐ là tiền mặt

Tốc độ chu chuyển vốn lưu động bằng tiền mặt được tính theo cơng

thức

Vòng quay tiền

mặt



=



Doanh thu thuần

Vốn bằng tiền



Dựa vào cơng thức vòng quay tiền mặt ta có bảng sau:

Bảng 10: Vòng quay tiền mặt

Đơn vị tính: triệu đồng( Có làm tròn)

TT



Chỉ tiêu



Năm 2009



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



Năm 2010



So sánh

Giá trị



Tỷ lệ



66



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



1



Doanh thu

thuần



45,75



51,75



6



113,11



2



Vốn bằng

tiền



21.236



33.627



12.390



158,35



3



Vòng quay

tiền mặt



0,0022



0,0015



- 0,0007



68,18



( Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)

Vì doanh nghiệp khơng đầu tư vào tài chính ngắn hạn do đó trong có

cấu vốn lưu động của doanh nghiệp các khoản đầu tư tài chính khơng có.

Điều này cũng là điều thường gặp ở các doanh nghiệp Việt Nam khi thị

trường tài chính chưa thật hấp dẫn với họ. Nhưng trong thời gian tới thị

trường tài chính sơi động sẽ là kênh huy động vốn, thị trường đầu tư mà các

doanh nghiệp cần hướng tới.

Thông qua số liệu bảng 10 cho ta thấy năm 2010 doanh nghiệp đã

điều chỉnh vốn bằng tiền tăng so với năm 2009 là 12.390trđ để tăng khả

năng thanh toán đầu tư nhưng tốc độ tăng tiền mặt lơn hơn tốc độ tăng

doanh thu do đó vòng quay tiền mặt của doanh nghiệp năm 2010 giảm so

với năm 2009 một con số khả nhỏ 0,0007trđ tương ứng giảm 31,82%. Điều

này cho thấy thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra đến khi thu tiền là

khá dài. Khoảng thời gian càng dài sẽ làm cho chi phí vốn lưu động tăng,

làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Đây là một vấn

đề doanh nghiệp cần có biệt pháp khắc phục để tăng vòng quay tiền mặt,

giảm thời gian một vòng quay tiền mặt từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn

lưu động. Để giảm một vòng quay tiền mặt doanh nghiệp cần đẩy nhanh

quá trình tiêu thụ hàng hóa đồng thời quản lý chặt chẽ tài chính cung cấp

cho khách hàng, tăng cường thu hồi các khoản phải thu, giảm chi phí các

khâu trung gian.



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



67



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



2.2.3.7 Tốc độ chu chuyển VLĐ trong hàng dự trữ, tồn kho

Được xác định thông qua các công thức sau:

+ Vòng quay hàng tồn kho



+ Số ngày vòng quay hàng

tồn kho

=



=



Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình qn



360

Vòng quay hàng tồn kho



Bảng 11: VLĐ trong hàng dự trữ, tồn kho

Đơn vị tính: triệu đồng( có làm tròn số)

TT



Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



1



Giá vốn hàng

bán



41,86



2



Dự trữ tồn kho

bình quân



3

4



So sánh

Giá trị



Tỷ lệ (%)



45,88



4,02



109,60



29,61



38,72



9,11



130,77



Vòng quay bình

qn ( vòng)



1,41



1,18



-0,23



83,69



Ngày chu

chuyển ( ngày)



255



305



50



119,61



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



68



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



(Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)

Theo số liệu trên ta thấy hàng dự trữ tồn kho năm 2010 tăng so với

năm 2009 là 9,11trđ tương ứng với tăng 30,77%, vòng quay hàng dự trữ tồn

kho năm 2010 là 1,18 vòng giảm 0, 23 vòng so với năm 2009. Số ngày

luân chuyển hàng dự trữ tồn kho năm 2010 tăng so với năm 2009 là 50

ngày. Điều này cho thấy tốc độ tiêu thụ hàng của chi nhánh công ty Vinh

Hạnh không được tốt lắm. Doanh nghiệp cần có biện pháp đẩy nhanh tốc

độ tiêu hàng hóa, tăng vòng quay hàng dự trữ tồn kho, làm giảm số ngày

chu chuyển hàng hóa.

Năm 2010 chi nhánh cơng ty tăng lượng dự trữ hàng hóa vừa là cơ

hội vừa là thách thức đối với doanh nghiệp. Nếu thời gian tới nhu cầu thị

trường tăng, doanh nghiệp sẽ bán được hết lượng hàng hóa dự trữ thu được

doanh thu cao, hiệu quả sử dụng VLĐ cao. Ngược lại, nếu nhu cầu thị

trường giảm và có những thơng tin bất lợi ảnh hưởng tới việc tiêu thụ của

doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với tình trạng thua lỗ, hàng

hóa bị ứ đọng lâu ngày khơng bán được lại làm chi phí bảo quản tăng, lãi

vay tăng gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Do đó, doanh nghiệp cần phân tích xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa

ra quyết định đầu tư cho hàng hóa dự trữ, tồn kho.

2.2.3.8 Tốc độ chu chuyển VLĐ trong các khoản phải thu

Được xác định theo cơng thức sau:

+ Vòng quay các khoản

phải thu



DTT

=



+ Kỳ thu tiền bình quân =



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



Các khoản phải thu bình

quân



360



69



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Vòng quay các khoản

phải thu



Bảng 12: Kỳ thu tiền bình quân và các khoản phải thu

Đơn vị tính: triệu đồng( có làm tròn)

So sánh

TT



Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



1



DTT



45,75



2



Các khoản phải thu

bình quân



3



4



Giá trị



Tỷ lệ

(%)



51,75



6



113,11



23,43



34,37



10,94



146,69



Vòng quay khoản

phải thu ( vòng)



1,95



1,50



-0,45



76,92



Kỳ thu tiền bình

qn ( ngày)



184,62



240



55,38



129,99



( Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



70



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tình hình thu hồi công nợ

của công ty. Theo số liệu bảng 12 cho thấy, tình hình thu hồi nợ của cơng ty

nhìn chung là khơng tốt, cụ thể vòng quay của cơng ty năm 2010 thấp hơn

so với năm 2009 là 0,54 vòng tương ứng với giảm 76,92%. Điều này chứng

tỏ công tác thu hồi nợ của công ty năm 2010 chưa được tốt. Công ty cần

chú trọng hơn nữa việc thu hồi các khoản phải thu tránh tình trạng ứ đọng

vốn thanh toán làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Kỳ thu tiền bình quân là một chỉ tiêu đo thời gian của vòng quay các

khoản phải thu nên khi vòng quay các khoản phải thu giảm thì số ngày

bình quân trên một vòng quay sẽ tăng. Do đó mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữ

kỳ thu tiền bình quân với vòng quay các khoản phải thu nên năm 2010 vòng

quay các khoản phải thu thu giảm cho nên kỳ thu tiền bình quân tăng. Năm

2010 kỳ thu tiền bình quân tăng 55,38 ngày so với năm 2009 tương ứng

tăng 29,99%. Việc kéo dài kỳ thu tiền bình quân sẽ làm vốn lưu động của

doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng tăng. Hiện nay, để thu hồi được

một khoản phải thu bình quân doanh nghiệp phải mất một khoảng thời gian

thương đối lớn là 240 ngày, Đây là một điều không tốt, doanh nghiệp cần

nhanh chóng có các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thu hồi công nợ như:

nghiên cứu kỹ khả năng thanh toán của khách hàng trước khi ký kết hợp

đồng, khuyến khích khách hàng thanh tốn đúng hẹn bằng các phương pháp

chiết khấu giảm giá nhằm thu hồi các khoản nợ phải thu, giảm tình trạng

vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng trong kinh doanh.

2.2.3.9 Tốc độ chu chuyển VLĐ trong các khoản phải trả

Được xác định theo cơng thức:

Vòng quay các khoản

phải trả



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



DTT

= Các khoản phải trả bình

quân



71



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



360

Kỳ trả tiền bình qn



=



Vòng quay các khoản

phải trả



Bảng 13: Vòng quay các khoản phải trả và kỳ trả tiền bình qn

Đơn vị tính: triệu đồng( có làm tròn số)

So sánh

TT



Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



1



DTT



45,75



51,75



2



Các khoản

phải trả bình

qn



12,35



3



Vòng quay

khoản phải

trả ( vòng)



4



Kỳ thu tiền

bình qn

( ngày)



Giá trị



Tỷ lệ

(%)



17,86



5,51



144,62



3,7



2,90



- 0,8



78,38



97,30



124,14



26,84



127,62



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



72



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



(Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)

Ngày nay, trong kinh doanh khơng thể tránh khỏi tình trạng các

doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau. Năm 2009 và 2010 các khoản phải

trả của chi nhánh công ty TNHH DV đầu tư Vinh Hạnh tương đối lớn, các

khoản phải trả trung bình năm 2009 là 12,35 trđ và năm 2010 là 17,86 trđ.

Qua bảng trên ta thấy chi nhánh đang chiếm dụng vốn khá lớn của đơn vị

khác. Kỳ trả tiền càng dài chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn của

doanh nghiệp khác càng nhiều. Năm 2009 kỳ thu tiền bình quân là 97,30

ngày. Năm 2010 tăng lên 124,14 ngày tương ứng tăng 26,84 ngày với tỷ lệ

tăng 27,62%. Có thể việc sử dụng vốn của công ty khác sẽ giúp cho chi

nhánh công ty giải quyết việc thiếu vốn kinh doanh nhưng việc chiếm dụng

vốn lâu của công ty sẽ làm ảnh hưởng tới mối quan hệ của công ty với các

đối tác và sẽ làm cơng ty phải trả một khoản chi phí nhất định. Do đó, để

giứ uy tín với đổi tác và giảm các khoản chi phí lãi vay, hoặc chịu giá cao

khi nợ vốn doanh nghiệp cần tính tốn dung hòa giữa vốn vay ngắn hạn và

vốn vay dài hạn để đầu tư kinh doanh, dự trữ hàng hóa.

2.2.3.10 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng VLĐ

Đây là nhóm chỉ tiêu mà bất kỳ nhà đầu tư nào đều quan tâm. Vì khi

bỏ tiền ra đầu tư các nhà đầu tư đều mong muốn số vốn mình bỏ ra sẽ sử

dụng hiệu quả đem lại lợi nhuận cao.

Bảng 14: Khả năng sinh lời của VLĐ

Đơn vị tính: triệu đồng( có làm tròn số)

TT



Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



1



Tổng doanh thu



45,75



2



Lợi nhuận sau thuế



2,3



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



So sánh

Giá trị



Tỷ lệ



51,75



6



113,11



3,5



1,2



152,17



73



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



3



Giá vốn hàng bán



41,86



45,88



4,02



109,60



4



VLĐ bình quân



1,9



2,1



0,2



110,53



5



Hệ số doanh thu trên

VLĐ



24,08



24,64



0,56



102,33



6



Hiệu suất sử dụng

VLĐ



0,24



0,25



0,01



104,17



(Nguồn: Phòng tài chính kế tốn)

Thơng qua số liệu bảng 14 ta thấy hệ số doanh thu trên VLĐ của

doanh nghiệp là tương đối khả quan. Năm 2009 hệ số doanh thu trên VLĐ

đạt 24,08trđ và năm 2010 tăng lên 0,56trđ tương ứng tăng 2,33%. Con số

này cho thấy doanh thu bán hàng của doanh nghiệp là khá cao so với VLĐ

nhưng hệ số sinh lời lại thấp. Hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp

năm 2009 là 0,24trđ năm 2010 mặc dù có tăng nhưng tăng không đáng kể

tăng 0,01trđ tương ứng với tỷ lệ tăng 4,17%. Điều này cho thấy chi phí kinh

doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Nó đã làm giảm hiệu suất sử dụng vốn

lưu động của doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc làm giảm lợi nhuận thu về.

Để khắc phục điều này doanh nghiệp cần chấn chỉnh lại việc tổ chức

quản lý sử dụng vốn sao cho tiết kiệm và hiệu quả. Giảm các khâu mua bán

trung gian trong khả năng có thể, tổ chức lại khâu mua bán cho phù hợp,

tìm kiếm các nguồn hàng tìm kiếm các nguồn hàng sao cho chi phí là nhỏ

nhất đồng thời đảm bảo chất lượng.

2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong năm 2009 và năm 2010

Sau khi phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động tại chi

nhánh Công ty TNHH DV đầu tư Vinh Hạnh em thấy năm 2010 Công ty đã

đạt được những thành tự và những khó khăn cần giải quyết sau:

2.2.4.1 Kết quả đạt được



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



74



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Năm 2010 công ty đạt doanh thu 51,75trđ với 24,64 vòng quay. Nếu số vòng quay vốn lưu động vẫn như năm 2009 thì số vốn lưu động cần có là: 51,75: 24,08= 2,15trđ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×