Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường tối đa

hóa mục tiêu với chi phí bỏ ra thấp nhất. Với các thời kỳ khác nhau của

doanh nghiệp các mục tiêu có thể là khác nhau nhưng doanh nghiệp đều

mong muốn đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội nhất định. Tuy nhiên,

hiệu quả kinh tế thường có ý nghĩa quyết định là mối quan tâm hàng đầu

của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.

Chính vì thế hiệu quả kinh doanh thường bị hiểu đánh đồng hiệu quả

kinh tế nhưng thực chất hiệu quả kinh doanh gồm hai mặt: hiệu quả xã hội

và hiệu quả kinh tế.

- Hiệu quả xã hội: phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội của hoạt

động thương mại là việc cung ứng hàng hóa ngày càng tốt nhằm thỏa mãn

nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội, mở rộng giao lưu kinh tế

giữa các vùng, các nước, là việc giải quyết công ăn việc làm, tăng cường

các khoản phúc lợi xã hội cho người lao động và thúc đẩy sản xuất phát

triển.

- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử

dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được

kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất. Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu

chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả về mặt

kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế được phản

ánh chủ yếu thông qua chỉ tiêu lợi nhuận đạt được từ quá trình sản xuất

kinh doanh.

Từ khái niệm trên ta có cơng thức so sánh sau:



Hiệu quả kinh doanh

đó:



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



=



Kết quả



Trong



Chi phí



14



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



- Kết quả kinh doanh là doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp đạt

được trong kỳ.

- Chi phí là số vốn mà doanh nghiệp ứng trước để đầu tư cho hoạt

động sản xuất kinh doanh đó.

* Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng đối với

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là

điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể mở rộng quy mơ, đầu tư cải tiến

công nghệ và kỹ thuật trong kinh doanh và quản lý nền kinh tế, nâng cao

đời sống vật chất tinh thần của người lao động, từ đó nâng cao vị trí xã hội

và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

Để nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải

quản lý và sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình hoạt động kinh

doanh, trong đó có hiệu quả sử dụng VLĐ.

Hiệu quả sử dụng VLĐ phản ánh tình hình sử dụng VLĐ trong

doanh nghiệp, được thể hiện bằng mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh

doanh với số VLĐ mà doanh nghiệp đã đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh

doanh.

Như trên ta đã biết VLĐ luân chuyển không ngừng lặp đi lặp lại có

tính chất chu kỳ gọi là chu kỳ luân chuyển VLĐ, thời hạn của một chu kỳ

luân chuyển dài hay ngắn, số lượng VLĐ một lần luân chuyển là lớn hay

nhỏ thể hiện khả năng quản lý, sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Do đó,

doanh nghiệp cần có các biện pháp thích hợp để sử dụng VLĐ sao cho có

hiệu quả.



1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



15



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các đối

tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối

tượng lao động chính là VLĐ. Vốn lưu động luôn luân chuyển tham gia và

tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được coi

như là mạch máu của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn cho doanh nghiệp tồn tại

và phát triển thì khơng thể thiếu VLĐ. Vốn lưu động phải được đáp ứng

đầy đủ và liên tục để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường.

Nhưng, nếu có vốn mà sử dụng không hiệu quả cũng là nguyên nhân gây

nên sự thất bại của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần xem xét, phân

tích tình hình sử dụng VLĐ của doanh nghiệp để có biện pháp nâng cao

hiệu quả sử dụng VLĐ. Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản

ánh mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với số VLĐ

mà doanh nghiệp bỏ ra đầu tư trong kỳ. Với việc cụ thể hóa kết quả kinh

doanh và sử dụng VLĐ bằng các chỉ tiêu sát thực, doanh nghiệp sẽ đánh giá

hiệu quả sử dụng VLĐ một cách chính xác và khách quan.

Sau đây chúng ta cùng xem xét một số chỉ tiêu thường xuyên được

sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh tốn

Nhóm chỉ tiêu về khả năng thánh toán phản ánh mối quan hệ tài

chính giữa các khoản có khả năng thánh tốn trong kỳ với các khoản thanh

toán trong kỳ. Gồm các chỉ tiêu sau:

- Hệ số khả năng thanh toán thạm thời

Hệ số khả năng thanh toán tạm thời là mối quan hệ giữa tài sản ngắn

hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán tạm thời thể hiện mức độ

đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản

nợ phải thanh tốn trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có

của mình để thanh tốn bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành

tiền. Trong đó tổng tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng và



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



16



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



sở hữu, chỉ có tài sản ngắn hạn là trong kỳ có khả năng chuyển đổi thành

tiền. Do đó, hệ số thanh toán tạm thời được xác định theo cơng thức:

Khả năng thanh

tốn tạm thời



=



Tài sản ngắn hạn

Tổng số nợ ngắn hạn



- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Tài sản ngắn hạn trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải

chuyển đổi thành tiền. Trong tài sản ngắn hạn hiện có thì vật tư hàng hóa

chưa thể chuyển đổi ngay thành tiền, do đó nó có khả năng thanh tốn kém

nhất. Vì vậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả

nợ ngay, không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hóa và được xác

định theo cơng thức:

Khả năng thanh

toán nhanh



TSNH – Hàng tồn kho

=



Tổng nợ ngắn hạn



Cũng cần thấy rằng: số tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được

xác định là: tiền cộng với tiền tương đương. Được gọi là tiền tương đương

là các khoản có thể chuyển đổi thành một lượng tiền biết trước ( thương

phiếu, các loại chứng khoán ngắn hạn).

- Hệ số thanh toán lãi vay

Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là

lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán

hàng. So sánh giữa nguồn dùng để trả lãi với lãi vay phải trả sẽ cho chúng

ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay đến mức độ nào.



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



17



Trường Đại Học KTQD



Hệ số thanh toán lãi

vay



Chuyên đề tốt nghiệp



Lợi nhuận trước thuế

và lãi vay



=



Lãi vay phải trả



Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng

vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ. Nói cách khác, hệ số thanh tốn lãi vay

cho chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tới mức độ nào và đem lại

một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả khơng.

- Hệ số khả năng thanh tốn tức thời

Hệ số khả năng thanh

toán tức thời



=



Tiền và chứng khoán

ngắn hạn

Nợ ngắn hạn



1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về đảm nhiệm vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động doanh nghiệp cần sử dụng để

đạt được một đồng doanh thu.

- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động được xác định bằng cơng thức

sau:

Hệ số đảm nhiệm

VLĐ



=



Vốn lưu động bình quân

trong kỳ

Doanh thu thuần



- Vốn lưu động tính theo phương pháp giản đơn



VLĐ bình quân =



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



VLĐ đầu năm + VLĐ cuối kỳ



18



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



2

Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động càng nhỏ tức là hiệu quả sử dụng

vốn lưu động càng cao và ngược lại.

1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn lưu động

* Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm VLĐ được biểu hiện trước hết ở tốc

độ luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu động

luân chuyển càng nhanh thì hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp càng

cao và ngược lại.

Tốc độ luân chuyển VLĐ được thể hiện qua hai chỉ tiêu là số lần

luân chuyển ( số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển ( số ngày của một vòng

quay vốn).

Số lần luân chuyển VLĐ thể hiện số vòng quay VLĐ được thực hiện

trong một thời kỳ nhất định( thường tính trong một năm), được xác định

theo cơng thức sau:

M

L



=



V



n



Trong đó:

+ L: số lần ln chuyển ( số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.

+ M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.

+ V n : vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ.

Kỳ luân chuyển vốn lưu động là số ngày bình quân cần thiết để vốn

lưu động thực hiện được một vòng trong kỳ.



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



19



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Công thức như sau:

K =



n

L



Hoặc



K = nx



Vn

M



Trong đó:

+ K : chu kỳ luân chuyển vốn lưu động.

+ n : số ngày trong kỳ( một năm 360 ngày, một quý 90 ngày,

một tháng 30 ngày).

Vòng quay VLĐ càng nhanh thì chu kỳ ln chuyển VLĐ càng rút

ngắn, hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.

Số VLĐ bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình qn

số học, từ VLĐ trong từng q hoặc tháng. Cơng thức tính như sau:



Vnd + Vnc



Vn



Vn



=



=



2



Vq1 + Vq 2 + Vq 3 + Vq 4



4



Hay



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



20



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



Vdq1



Vl



2



+ Vcq1 + Vcq 2 + Vcq 3 +



=



Vcq 4

2



4



Trong đó:

+ Vnd : số VLĐ đầu năm.

+ Vnc : số VLĐ cuối năm.

+ Vq1 , Vq 2 , Vq 3 , Vq 4 : Vống lưu động bình quân các quý I, II, III, IV.

+ Vdq1 : Vốn lưu động đầu quý I.

+ Vcq1 , Vcq 2 , Vcq 3 , Vcq 4 : vốn lưu động cuối quý I, II, III, IV.

Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển

Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện

bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối.

- Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên

doanh nghiệp có thể tiết kiệm một số VLĐ để sử dụng vào cơng việc khác.

Nói một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi ( hoặc lớn hơn

báo cáo) song do tăng tốc độ ln chuyển nên doanh nghiệp cần vốn ít hơn.

Cơng thức tính như sau:



VTK=



M0

n



x



K1



-



Vn 0



Trong đó:

+ n: số ngày trong kỳ.

+ VTK : vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.

+ Vn 0 : vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo.



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



21



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



+ K1 : kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.

+ M 0 : tổng mức luân chuyển vốn năm báo cáo

- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên

doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần

tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động.

Cơng thức xác định như sau:



Vktg



=



M1

n



x



(



K1



-



K0 )



Trong đó:

+ Vktg : Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.

+ M 1 : tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch

+ K 0 : kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạch

* Tốc độ chu chuyển vốn lưu động là tiền mặt

Tiền mặt là một khoản mục của cơ cấu VLĐ. Việc sử dụng tiền mặt

hiệu quả có ảnh hưởng khơng nhỏ đến hiệu quả sử dụng VLĐ.

Vòng quay tiền mặt là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ tiển

ra đầu tư mua hàng và kết thúc là khi doanh nghiệp bán được hàng và thu

được tiền mặt từ các khoản phải thu và được xác định bằng cơng sau:

Doanh thu thuần

Vòng quay

tiền mặt



=



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



Vốn bằng

tiền



+



Các khoản đầu tư tài chính

ngắn hạn



22



Trường Đại Học KTQD



Chun đề tốt nghiệp



Vòng quay tiền mặt càng ngắn tức là tiền mặt mà doanh nghiệp đầu

tư vào kinh doanh sẽ cho một hiệu quả cao hơn từ đó sẽ tăng hiệu quả sử

dụng VLĐ của doanh nghiệp. Đây là điều mà các doanh nghiệp đều mong

muốn. Để làm được điều này doanh nghiệp phải tăng khả năng quản lý tài

chính, giám sát chặt chẽ các khoản phải thu, giảm chi phí các khâu trung

gian và tăng chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Việc chiếm dụng vốn của

đơn vị khác là điều mà doanh nghiệp khơng nên q lạm dụng vì nó còn

liên quan đến chi phí lãi vay, uy tín của doanh ngiệp với đối tác, nhà cung

cấp và khách hàng.

* Tốc độ chu chuyển VLĐ trong hàng hóa dự trữ, tồn kho

Trong VLĐ của doanh nghiệp thương mại thì vốn hàng hóa dự trữ,

tồn kho chiếm tỷ lệ lớn. Hàng dự trữ, tồn kho là hàng hóa có thể bán ra để

tạo ra doanh thu. Do vậy nó có tác động trực tiếp đến tốc chu chuyển VLĐ

ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ. Tốc độ lưu chuyển hàng hóa dự trữ,

tồn kho cho ta biết số hàng hóa bình qn được bán ra trong kỳ.

Tốc độ lưu chuyển hàng dự trữ, tồn kho được xác định bằng cơng

thức sau:



Vòng quay dự trữ,

tồn kho



=



Giá vốn hàng bán

Tồn kho bình quân trong kỳ



Trong đó:

Tồn kho bình qn

=

trong kỳ



Giá trị tồn đầu kỳ + Giá trị tồn cuối kỳ

2



Chỉ tiêu này cho ta biết trong kỳ kinh doanh hàng hóa dự trữ, tồn

kho quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu vòng quay hàng dự trữ, tồn kho nói



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



23



Trường Đại Học KTQD



Chuyên đề tốt nghiệp



lên hệ số đổi mới hàng dự trữ. Chỉ tiêu này càng tăng tức là hàng hóa chu

chuyển càng nhanh, doanh nghiệp bán được nhiều hàng doanh thu tăng.

Số ngày chu

=

chuyển



Hàng dự trữ, tồn

kho bình quân



x



Số ngày trong

kỳ phân tích



Doanh thu bán hàng trong kỳ theo giá vốn



Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để hàng hóa dự trữ, tồn kho

quay được một vòng. Chỉ tiêu hàng hóa dự trữ, tồn kho có quan hệ tỷ lệ

nghịch với số ngày chu chuyển hàng dự trữ, tồn kho. Vòng quay hàng dự

trữ, tồn kho tăng thì số ngày chu chuyển hàng dự trữ, tồn kho giảm và

ngược lại.

Phương pháp phân tích các chỉ tiêu này là so sánh giữa kỳ báo cáo

này với kỳ báo cáo trước để thấy được sự tăng giảm. Sau đó phân tích các

nhân tố ảnh hưởng bằng phương pháp thay thế liên hồn hoặc chênh lệch.

Sau đó là tính tốn mức tiết kiệm hoặc lãng phí vốn bán hàng dự trữ trong

kỳ báo cáo.

* Tốc độ chu chuyển VLĐ trong các khoản phải thu

Nợ phải thu là những khoản tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp hiện

bị các doanh nghiệp khác hoặc cá nhân chiếm dụng một cách hợp pháp

hoặc bất hợp pháp mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi.

Trong doanh nghiệp thương mại hiện nay, tình trạng các khoản nợ

phải thu thường rất cao chiếm tỷ trọng đáng kể trong nguồn VLĐ. Tình

trạng nợ phải thu để lâu sẽ gây ứ đọng vốn của doanh nghiệp làm doanh

nghiệp khó khăn trong các khoản thanh tốn đảm bảo cho hoạt động sản

xuất được diễn ra bình thường. Doanh nghiệp cần sát sao trong vấn đề đánh

giá các khoản nợ phải thu, các khách hàng nợ.

Để đánh giá tình trạng nợ phải thu ta có cơng thức sau:



Sinh Viên: Phạm Thị Trang



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×