Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



Nấm Hồng chi là một trong những loại nấm phá gỗ, đặc biệt trên các

cây thuộc bộ đậu (Fabales). Hồng chi phân bố ở khắp nơi trên thế giới, ký

sinh rộng khắp ở các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở cả tre trúc,

dừa, cau, cọ dừa và nho. Có thể mọc trên cây sống lẫn cây đã chết. Có

những loại đa niên, tai nấm phát triển qua nhiều năm và những loại hằng

niên, tai nấm chỉ phát triển qua một mùa (Nguyễn Hữu Đống, 2003).

Nấm Hồng chi thuộc loại thực vật hạ đẳng, thực tế chúng không có

thân, rễ, lá như các cây thượng đẳng khác. Cơ thể của nấm là những sợi

nhỏ màu trắng len lõi trong rơm, rạ, trong thân gỗ hoặc các cơ chất ni

trồng khác. Phần chúng ta thường nhìn thấy được gọi là cây nấm nhưng

thực chất là quả thể nấm. Quả thể nấm tương đương với bông hoa ở cây

thượng đẳng. Trong quả thể có các bào tử, tương đương với các hạt ở cây

thượng đẳng (Nguyễn Lân Dũng, 2007).

Về hình thái bên ngồi, quả thể nấm có cuống dài hoặc ngắn, thường

đính bên, đơi khi đính tâm do q trình liền tán mà thành. Cuống nấm hình

trụ hoặc thanh mảnh (đường kính 0,3 – 0,8cm), hoặc mập khỏe (đường

kính 0,2 – 3,5cm). Quả thể ít phân nhánh, đơi khi uốn khúc cong do biến

dạng trong q trình ni trồng. Lớp vỏ cuống có màu láng đỏ, nâu đỏ, nâu

đen, bóng, khơng có lơng. Mũ nấm dạng thận, gần tròn, đơi khi xòe hình

quạt và có tia rãnh phóng xạ. Màu sắc từ vàng chanh, vàng nghệ, vàng nâu,

đỏ nâu, nâu tím, nhẵn bóng và láng như verni. Khi nấm già quả thể sẫm

màu, trên bề mặt láng một lớp phấn màu đỏ nâu. Kích thước tai nấm biến

động lớn, từ 5 – 12cm, dày 0,8 – 3,3cm. Phần đính cuống thường gồ lên

hoặc lõm. Phần thịt nấm dày từ 0,4 – 2,2cm, có màu vàng kem nâu nhợt

hoặc trắng kem, phân chia lớp trên hoặc lớp dưới, lớp trên có thể thấy rõ

các tia sợi hướng lên, lớp dưới hệ sợi tia xuống đều đặn, tiếp giáp tầng sinh

bào tử.

Tầng sinh sản (bào tầng, phụ tầng - hymennium) là một lớp ống dày

từ 0,2 – 1,8cm, màu kem, nâu nhạt, gồm các ống nhỏ thẳng, miệng gần tròn

Khóa luận tốt nghiệp



5



Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nơng - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng học



có màu trắng nhạt hoặc chanh nhạt, có khoảng 3 – 35 ống trên 1mm. Đảm

đơn bào (Holobasidie) hình trứng khơng màu, dài 16 - 22 m , mang 4 bào

tử đảm (Basidiospoes). Bào tử đảm thường được mô tả dưới dạng trứng

cụt, đơi khi là dạng hình trứng có đầu chóp tròn, nhọn. Kích thước bào tử

rất nhỏ dao động từ 8,0 – 11,5 m hoặc 6 – 7,7 m . Bào tử Hồng chi có hai

lớp vỏ rất cứng, dày 0,7 – 1,2 m . Bào tử có cấu trúc tinh vi và tương đối ổn

định về kích thước ở các điều kiện sinh sống khác nhau. Bào tử có chứa các

thành phần giống như Hồng chi như: polisaccharit, triterpen, acid béo, acid

amin, vitamin và các nguyên tố vi lượng, nhưng hàm lượng cao hơn Linh

chi từ 7 – 20 lần. Số lượng bào tử Hồng chi là rất ít, trung bình thu hoạch

1tấn nấm chỉ thu được 1kg bào tử.

1.3. Nhu cầu sinh thái của nấm Hồng chi

1.3.1. Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của nấm Hồng chi thay đổi qua

các giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của

hệ sợi nấm là 20 – 300C (tối thích là 23 – 270C). Đối với quá trình hình thành

và phát triển quả thể, nhiệt độ thích hợp là 22 – 28 0C (tối thích là 24 – 260C).

Việc tạo ra sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ “sốc nhiệt” giữa giai đoạn ni sợi

và giai đoạn hình thành quả thể là một trong những biện pháp nhằm tạo quả

thể to, đồng đều, năng suất cao.

1.3.2. Yêu cầu về độ ẩm khơng khí

Hồng chi u cầu độ ẩm khơng khí tương đối cao. Giai đoạn ươm

sợi, yêu cầu độ ẩm khơng khí từ 65 – 70%, giai đoạn phát triển của quả thể

u cầu độ ẩm khơng khí cao hơn từ 80 – 95%. Như vậy để nuôi trồng nấm

Hồng chi u cầu độ ẩm khơng khí tương đối cao.

1.3.3. Yêu cầu về độ ẩm cơ chất

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, Hồng chi yêu cầu một lượng

nước nhất định, lượng nước cần phần lớn được hấp thụ từ trong cơ chất và

một phần nhỏ được hấp thụ từ bên ngồi trong q trình hình thành quả thể

(tưới bổ sung). Các thí nghiệm của Van Griensven cho thấy, để được 1kg nấm,

Khóa luận tốt nghiệp



6



Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



trong cơ chất sẽ mất đi 220g chất khơ và 900ml nước, trong đó chỉ có khoảng

35 – 40% chất khô tham gia vào việc tạo thành quả thể nấm, phần còn lại sẽ bị

chuyển hóa để tạo năng lượng cho các hoạt động sống khác, từ đó cho thấy

nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hòa tan các chất dinh

dưỡng, tạo cơ sở cho hệ sợi nấm hấp thu dinh dưỡng từ cơ chất một cách dễ

dàng. Độ ẩm cơ chất thích hợp cho sự phát triển của sợi nấm là 60 – 70%.

1.3.4. Yêu cầu về ánh sáng

Nấm Hồng chi không có khả năng quang hợp như cây xanh và chúng

sống được là nhờ năng lượng phân hủy từ cellulose của cơ chất. Do đó, về

cơ bản chúng khơng cần ánh sáng. Nhưng trong quá trình sinh trưởng và

phát triển, nấm Hồng chi vẫn yêu cầu một lượng ánh sáng nhất định. Giai

đoạn nuôi sợi dù ở điều kiện tối hay sáng, hay chỉ có ánh sáng tán xạ, sợi

nấm Hồng chi vẫn phát triển bình thường. Đến giai đoạn phát triển của quả

thể thì cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng đủ đọc được sách trong nhà nuôi),

cường độ ánh sáng khoảng 250 – 1000lux để kích thích sự phát triển của

quả thể, cường độ ánh sáng phải cân đối từ mọi phía để đảm bảo cho quả

thể phát triển cân đối. Nếu thiếu ánh sáng trong giai đoạn phát triển của quả

thể sẽ ảnh hưởng đến mức độ xòe tán, cuống nấm sẽ kéo dài, làm tăng thời

gian nuôi trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Do vậy khi ni trồng

nấm Hồng chi cần có chế độ chiếu sáng phù hợp.

1.3.5. u cầu về độ thống khí

Do nấm là cơ thể sống nên trong hoạt động sống của chúng, q trình

hơ hấp vẫn diễn ra và đóng một vai trò rất quan trọng. Vì vậy, trong q trình

sinh trưởng và phát triển của nấm độ thống khí có ảnh hưởng rất lớn.

Trong giai đoạn nuôi sợi yêu cầu khơng khí của nấm Hồng chi là

lượng lớn CO2 nhưng khi hình thành quả thể thì nồng độ CO2 lại phải giảm.

Nồng độ CO2 trong khơng khí khơng được vượt q 0,1%, sự thơng thống

còn có ý nghĩa lớn đối với việc hạn chế sự gia tăng nhiệt độ của nhà

ni trồng.

Khóa luận tốt nghiệp



7



Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



1.3.6. Yêu cầu về độ pH cơ chất

Hồng chi có thể sinh trưởng và phát triển được trong mơi trường cơ

chất nuôi trồng từ axit yếu đến hơi kiềm. Độ pH thích hợp nhất cho nấm

sinh trưởng, phát triển là từ 5,5 – 7,0.

1.3.7. Yêu cầu về dinh dưỡng

Hồng chi có khả năng phát triển tốt trên rất nhiều các loại nguyên

liệu khác nhau như: Mùn cưa, bã mía, cây gỗ… Chính nhờ hệ men

celluloza rất mạnh có trong sợi nấm Hồng chi mà chúng có thể sử dụng

nguồn hydratcacbon có trong các loại nguyên liệu trên. Nó sẽ chuyển

chúng từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu để sợi nấm hấp thụ được.

Vào thời kỳ ươm sợi, nếu cung cấp thêm 1 lượng đạm vừa phải

(0,1% canxi nitrat) thì sẽ giúp nấm phát triển mạnh hơn. Hồng chi cũng cần

một số vitamin nhóm B để sợi nấm phát triển mạnh hơn. Ngồi các nguồn

dinh dưỡng nói trên, để hệ sợi nấm phát triển tốt có thể cung cấp thêm Ca,

Mg, P2O5, K2O và cả nguyên tố vi lượng Fe, mặc dù chỉ với lượng rất nhỏ.

Do đó khi trồng Hồng chi người ta có thể thêm bột nhẹ (CaCO3) hoặc thạch

cao ((CaSO4).2H2O) hoặc thêm 1 lượng nhỏ KH2PO4 để bổ sung lân và kali

(Đinh Xuân Linh, 2008).

1.4. Đặc điểm biến dưỡng của nấm Hồng chi

Nấm chủ yếu sống dị dưỡng, lấy thức ăn từ các nguồn hữu cơ (động

vật hoặc thực vật). Nấm có hệ men (enzyme) phân giải tương đối mạnh,

giúp chúng ta có thể sử dụng các dạng thức ăn phức tạp. Dựa theo các dinh

dưỡng của nấm, có thể chia thành 3 nhóm:

- Hoạt sinh: Thức ăn là xác bã thực vật hay động vật. Ở nhóm nấm

này, chúng có khả năng biến đổi những chất khó phân hủy thành những

chất đơn giản, dễ hấp thu, nhờ hệ men ngoại bào.

- Ký sinh: Chủ yếu các loài nấm gây bệnh, chúng sống bám vào

thành cơ thể sinh vật khác để hút thức ăn của sinh vật chủ.



Khóa luận tốt nghiệp



8



Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



- Cộng sinh: Lấy thức ăn từ cơ thể sinh vật chủ nhưng không làm tổn

hại sinh vật chủ, ngược lại còn giúp cho chúng phát triển tốt hơn (như nấm

Tuber hay Bolesus cộng sinh với cây thông sồi…).

1.5. Đặc tính biệt dược của nấm Hồng chi

Theo Hiroshi Hikino (Nhật Bản), Hồng chi là một trong những vị

thuốc bổ quan trọng nhất trong Đông y. Các thầy thuốc đã dùng Hồng chi

trong việc chữa trị các chứng mệt mỏi, suy nhược, tiểu đường, các chứng

bệnh về gan và nhiều chứng bệnh thuộc sức đề kháng của cơ thể con người.

Kết quả phân tích về thành phần các chất kết hợp với nghiên cứu lâm

sàng đã ghi nhận tác dụng biệt dược của các thành phần có trong Hồng chi:

Alcaloide có tác dụng trợ tim; polysaccharid b-D-glucan, ganoderan A, B,

C, D - 6 có tác dụng chống ung thư, tăng tính miễn dịch; hạ đường huyết;

tăng tổng hợp protein, tăng chuyển hoá acid nucleic; chống rối loạn miễn

dịch và chống cao huyết áp, làm mạnh gan, cô lập và diệt các tế bào ung

thư; Steroid (Ganodosteron; Lanosporeic acid A; Lonosterol) có tác dụng

giải độc gan; ức chế sinh tổng hợp cholesterol; triterpenoid: Ganodermic

acid Mf, T - O; ganodermic acid R; ganodermic acid B,D,F,H,K,S,Y...;

ganodermadiol; ganosporelacton A, B; lucidon có tác dụng ức chế sinh tổng

hợp cholesterol; ức chế giải phóng histamin của cơ thể, giúp giảm nhẹ các

dị ứng, đẩy mạnh sự hấp thụ ôxy; hạ huyết áp, ức chế ACE, chống khối u;

tăng sự hoạt động của gan; nucleosid: Adenosin dẫn suất có tác dụng ức

chế kết dính tiểu cầu, thư giãn cơ, giảm đau; protein: Lingzhi – 8 có tác dụng

chống dị ứng phổ rộng, điều chỉnh hệ thống miễn dịch; acid béo (Oleic acid) có

tác dụng ức chế giải phóng histamin; acid ganoderic có tác dụng chống dị

ứng và chống viêm.

Ngoài ra trong thành phần của nấm Hồng chi có khoảng 40 ngun

tố khống, trong đó phải kể đến germanium. Germanium có liên quan chặt

chẽ với hiệu quả lưu thơng khí huyết, tăng cường chuyển vận oxy vào mơ



Khóa luận tốt nghiệp



9



Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



giúp các tế bào hấp thu oxy tốt hơn, đặc biệt là giảm bớt đau đớn cho người

bệnh bị ung thư ở giai đoạn cuối (Đỗ Tất Lợi, 2003).

Hiện nay, Hồng chi được dùng làm giảm huyết áp, kích thích sự làm

việc của gan, tẩy máu giúp cơ thể chống lại các chứng lao lực quá độ và

giải độc, khắc phục được tác hại của hóa trị liệu và xạ trị trong điều trị ung

thư. Gần đây người ta còn tìm thấy tác dụng với ung thư tử cung, khoang

miệng, ung thư đại tràng, ung thư gan, đặc biệt khi kết hợp với hóa trị liệu.

Vì vậy Hồng chi đã và đang được khai thác, nuôi trồng, chế biến thành các

sản phẩm công nghệ cao với quy mô công nghiệp và sản lượng lớn. Mỗi

năm trên thế giới tiêu thụ hàng trăm tấn Hồng chi dưới dạng thực phẩm

hoặc dược phẩm nhờ khả năng nâng cao tính miễn dịch của cơ thể.

1.6. Tình hình sản xuất, tiêu thụ nấm Hồng chi trên thê

giới và Việt Nam

1.6.1. Trên thế giới

Trên thế giới, việc nuôi trồng nấm Hồng chi đã được ghi nhận đầu tiên

vào năm 1621, nhưng mãi đến 300 năm sau (1936), trường Đại học Nông

nghiệp Tokyo - Nhật Bản mới nuôi trồng đại trà thành công nấm Hồng chi.

Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và Zenzaburo Kasai,

giáo sư của khoa Nông nghiệp, trường Đại học Tokyo đã thành công trong

việc nhân giống nấm Hồng chi. Năm 1986, Nhật Bản đã nuôi trồng thành

công nấm Hồng chi trên môi trường nhân tạo.

Hiện nay, các nước trên thế giới tập trung nghiên cứu và sản xuất các

loại nấm ăn nói chung, nấm Hồng chi nói riêng ở quy mô công nghiệp. Khu

vực châu Âu và Bắc Mỹ áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong nuôi trồng

nấm, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đến khâu thu hái, bảo quản, đóng gói (sử

dụng robot trong các khâu ni trồng, chăm sóc và thu hái nấm). Khu vực

Châu Á, việc ni trồng nấm còn mang tính chất thủ cơng, qui mơ nhỏ (hộ

gia đình, trang trại ni trồng nấm), song chiếm tới 70% tổng sản lượng nấm



Khóa luận tốt nghiệp



10 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



ăn trên tồn thế giới hàng năm. Các nước có sản lượng nấm lớn trên thế giới

là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan.

Nhật Bản tuy là nước đưa ra kỹ thuật nuôi trồng nấm đầu tiên và có

tốc độ tăng trưởng nhanh qua các năm (trong thời gian 16 năm, sản lượng

nấm tăng 40 lần, từ 5 tấn năm 1979 tăng lên 200 tấn năm 1995), song vẫn

đứng sau Trung Quốc về sản lượng.

Hàn Quốc là đất nước nổi tiếng với nấm Hồng chi (Ganoderma

lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu về hàng triệu USD. Ở Đài Loan, theo báo

cáo của Peng (1990) và Hseu (1992), Đài Loan đã ni trồng tới hơn 10

lồi Ganoderma khác nhau. Doanh thu hàng năm từ các chế phẩm chống

ung thư điều chế từ Hồng chi ở Đài Loan đạt trên 350 triệu USD.

Ở Đông Nam Á, nuôi trồng nấm Hồng chi mới được chú trọng trong

vài thập kỷ gần đây, đặc biệt nuôi trồng nấm Hồng chi ngắn ngày trên các

phế thải giàu chất xơ, thậm chí cho thu hoạch quả thể chỉ sau 40 ngày.

Hiện nay, việc nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nuôi trồng nấm Hồng chi,

nghiên cứu đặc tính biệt dược của Hồng chi khơng còn giới hạn trong phạm vi

một số nước mà đã mang tính chất tồn cầu. Đến nay đã có khoảng 250 bài

báo cáo của các nhà khoa học trên toàn thế giới được cơng bố liên quan đến

dược tính và lâm sàng của Hồng chi. Tháng 7 năm 1994 hội nghị “Nấm học”

tại Vancouver - Canada đã nhất trí thành lập viện nghiên cứu quốc tế về Linh

chi đặt trụ sở tại New York, Hoa Kỳ (Deepalakshmi cs, 2011).

1.6.2. Ở Việt Nam

Ở nước ta, nấm dược liệu cũng đã được biết đến từ lâu. Từ xa xưa, Hải

Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác đã đề cập đến việc sử dụng Linh chi làm

thuốc. Theo Lê Quý Đôn, “nấm Linh chi là nguồn sản vật quý hiếm của núi

rừng Đại Nam”. Song trong thực tế, việc nghiên cứu và phát triển các loại

nấm ăn, nấm dược liệu ở nước ta mới được bắt đầu từ những năm 1970.

Năm 1978, viện Dược liệu – Hà Nội đã tiến hành nuôi trồng thành

công nấm Hồng chi (giống của Trung Quốc). Năm 1997, các nhà khoa học

Khóa luận tốt nghiệp



11 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên đã chọn được giống nấm Hồng chi mọc hoang

ở rừng núi Lâm Đồng để nhân giống và đưa vào sản xuất, đạt kết quả khả quan

tại trại trồng nấm Hồng chi của xí nghiệp Dược phẩm Trung ương.

Năm 1986, Thành phố Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm Thành

phố Hồ Chí Minh. Ngồi ra còn một số đơn vị như: Cơng ty nấm Thanh

Bình (Thái Bình), xí nghiệp nấm (thuộc Tổng cơng ty rau quả Vegetexco)...

Một số đơn vị có nhập khẩu nấm: Unimex Hà Nội, Liên hiệp các Xí nghiệp

thực phẩm vi sinh Hà Nội (Công ty nấm Hà Nội), xí nghiệp nấm thành phố

Hồ Chí Minh, xí nghiệp đặc sản rừng số 1 nay là Công ty mây tre đan Hà

Nội... Năm 1991 – 1993 Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường triển khai

dự án sản xuất nấm theo công nghệ Đài Loan (Nguyễn Hữu Đống, 2000).

Đến thập niên 90, nuôi trồng Hồng chi mới thực sự bùng nổ tại thành

phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên sản lượng hàng năm mới đạt khoảng 10 - 15

tấn/năm (Cổ Đức Trọng, 2008).

* Về nuôi trồng

Người nuôi trồng nấm Hồng chi đầu tiên ở Việt Nam là kỹ sư

Nguyễn Thanh, ông đã đưa được nấm Hồng chi chuẩn từ Trung Quốc về

Việt Nam. Nhờ đó vào cuối năm 1978 dưới sự hướng dẫn của giáo sư Trịnh

Tam Kiệt lần đầu tiên nấm Hồng chi Trung Quốc đã ra quả thể trong phòng

thí nghiệm, nhưng mãi đến năm 1987 sau khi kỹ sư Nguyễn Thanh, TS.

Nguyễn Thiện Tịch cùng với thạc sĩ Cổ Đức Trọng đi tìm Hồng chi mọc

hoang ở vùng rừng núi tỉnh Lâm Đồng để tìm nguồn giống ban đầu thì

Hồng chi mới thực sự được đưa vào nghiên cứu trồng trọt và sản xuất.

Đến năm 1988, xí nghiệp dược phẩm Trung ương 24 đã nghiên cứu

các dạng thành phẩm, cùng sự khảo sát về dược lý của giáo sư Bùi Chí

Hiếu tại viện y học thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát về lão khoa lâm

sàng của giáo sư Nguyễn Thiện Thành tại bệnh viện Thống Nhất, đã đưa ra

những kết luận bước đầu rất quan trọng về giá trị của Hồng chi Việt Nam từ

năm 1996 (Đàm Nhuận, 1996).

Khóa luận tốt nghiệp



12 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng học



* Ở Thanh Hóa

Trong những năm gần đây tỉnh Thanh Hóa xuất hiện một số trang

trại và nhiều hộ gia đình ni trồng nấm Hồng chi đạt hiệu quả kinh tế cao,

Song thực tế cho thấy các trang trại và nhiều hộ nông dân cũng mới sản

suất trên nguyên liệu mùn cưa chưa thử nghiệm sản suất trên gỗ keo lai.

Hàng năm Thanh Hóa đã tổ chức dạy nghề cho hàng chục ngàn lao

động theo 3 cấp trình độ: cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề. Đặc biệt đã

tập trung dạy nghề cho lao động chính sách, dân tộc thiểu số, lao động

nơng thơn, lao động bị thu hồi đất để xây dựng các khu kinh tế, cơng trình

cơng cộng, khu đơ thị, khu cơng nghiệp…

Kết quả dậy nghề đã góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của

tỉnh đến hết năm 2016 đạt 58%, lao động qua đào tạo nghề đạt 42,9 %.

Hàng năm đã giải quyết việc làm cho gần 50.000 lao động, góp phần hạ tỷ

lệ lao động thiếu việc làm ở khu vực nông thôn. Do được đào tạo miễn phí,

lại có chương trình tun truyền rộng khắp của trung tâm dạy nghề tỉnh nên

nhiều hộ dân đã nhận thức được lợi ích của việc tham gia các lớp dạy nghề.

Sau thành công của các đợt tập huấn trồng nấm từ năm 2007 đến nay trung

tâm dạy nghề, hội phụ nữ tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Trung tâm

nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học Thanh Hóa tiếp tục

mở thêm 50 lớp dạy nghề cho trên 1.500 người, giúp nông dân tiếp cận với

mô hình sản xuất mới. Đến nay, mơ hình sản xuất nấm đã phát triển ở hầu

khắp các huyện trong tỉnh. Ở một số huyện như Nga sơn, Đông Sơn, Thọ

Xuân, Ngọc Lặc, Như Thanh, Thành phố Thanh Hóa...

Về thị trường tiêu thụ của sản phẩm nấm Hồng chi hiện nay trên địa

bàn tỉnh mới có một số ít trang trại, hộ nông dân sản suất được nấm Hồng

chi nên nguồn cung không đủ nhiều người phải mua ở các tỉnh khác như ở

Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội... Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các gia

đình đầu tư trồng nấm đều đã và đang thoát nghèo, vươn lên làm giàu.

“Làm nấm phải có quyết tâm cao và sự kiên nhẫn” - đó là câu nói của

Khóa luận tốt nghiệp



13 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



những người dân rút ra sau gần 10 năm bám trụ với nghề, vì nếu khơng có

2 yếu tố đó thì mơ hình trồng nấm này đã khơng tồn tại cho đến ngày nay.

1.7. Tình hình sản xuất và khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa

1.7.1 Tình hình sản xuất keo lai tại tỉnh Thanh Hóa

Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về

số lượng và chất lượng. Trước tình hình đó, nhiều cơ quan lâm nghiệp, tổ

chức cá nhân và người dân nhiều địa phương đã đẩy mạnh kinh doanh rừng

trồng. Việc trồng rừng đã góp phần đáng kể nâng cao tỷ lệ che phủ đất

trống đồi núi trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều việc

làm cho người dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở

vùng sâu vùng xa.

Hiện tại việc trồng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang

là nhu cầu thực tiễn cấp thiết, với nhiều thành phần kinh tế tham gia. Theo

số liệu thống kê năm 2014 toàn tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất lâm

nghiệp 626.576,1 ha. Với các dòng keo lai BV 16, BV 32 năng suất trung

bình đạt 20-25m3/ha/năm, Các dòng TB03, TB05, TB 06, TB12, AH1, AH7

năng suất có thể đạt từ 30-35 m3/ha/năm.

Cây keo lai là loại cây lâm nghiệp có giá trị cao, được nhiều người

dân tin tưởng, lựa chọn là giống cây phát triển kinh tế. Keo lai là tên gọi

của giống lai tự nhiên giữa keo lá tràm và keo tai tượng. Các đặc tính

của keo lai đều thể hiện tính trung gian giữa 2 lồi keo bố mẹ. Cây keo

lai hơn keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn

và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn, độ thẳng thân và chiều cao dưới

cành đều tốt hơn keo bố mẹ. Cây keo lai rất dễ sống, đặc biệt là sống ở

khu vực đồi núi, vùng sườn dốc hay có gió mà cây lâm nghiệp khác khơng

trồng được. Cây có thể cao đến 25-30 mét, đường kính lên đến 60-80cm.

Cây keo ln là nguồn thu nhập chính những năm trước, gần như tất

cả diện tích rừng của tỉnh đều được trồng bằng giống cây bản địa. Nhưng

từ năm 2012, qua học tập, tiếp thu kiến thức khoa học-kỹ thuật các hộ

Khóa luận tốt nghiệp



14 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông học



nông dân trong tỉnh đã mạnh dạn mua giống keo lai về trồng. Kết quả bước

đầu cho thấy cây keo lai lớn nhanh, cùng một thời gian nhưng kích thước

của giống keo lai lớn hơn gấp 2 lần so với giống cây bản địa, do đó thời

gian qua thu hoạch dự kiến được rút ngắn, sinh khối tăng.

Từ hiệu quả mà cây keo đã và đang đem lại, tỉnh Thanh Hóa xem đây

là cây trồng chủ đạo để phát triển kinh tế đồi rừng nhằm xóa đói, giảm nghèo

cho bà con nhân dân. Theo đó, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo các huyện Như

Thanh, Tỉnh Gia, Ngọc Lặc, Hà Trung… thực hiện nhiều giải pháp để mở

rộng diện tích và nâng cao năng suất, hiệu quả của cây keo trên địa bàn như:

Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển kinh tế đồi,

rừng, trong đó tập trung trồng cây keo thơng qua hoạt động của các ban,

ngành, đồn thể; thành lập các ban phát triển rừng cấp xã, cấp thôn và triển

khai nhiều hoạt động hỗ trợ phát triển rừng giúp người dân yên tâm sản xuất;

hỗ trợ các hộ dân vay vốn với lãi suất thấp để mở rộng sản xuất. Cùng với

đó, huyện chú trọng lồng ghép nhiều chương trình, dự án hỗ trợ nhân dân

trồng và đầu tư chăm sóc rừng theo hướng thâm canh, chuyển giao khoa học,

kỹ thuật cho nhân dân... Nhờ thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp,

nên số hộ tham gia phát triển kinh tế đồi rừng, đặc biệt là trồng keo lai ngày

một tăng lên.

1.7.2. Tình hình khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa

Theo sở nơng nghiệp và phát triển nơng thơn tính đến nay trên địa

bàn tỉnh có trên 90 ngàn héc ta rừng nguyên liệu giấy ở nhiều độ tuổi từ các

chương trình trồng rừng. Keo lai là một trong các loài cây chủ lực cung cấp

gỗ nguyên liệu giấy. Tỷ trọng gỗ 0,542, hàm lượng xenlulô 45,36%, tổng

các chất sản xuất bột giấy 95,2%, hiệu suất bột giấy 52,8%, độ nhớt của bột

36,6, độ chịu gấp, chịu đập cao hơn hoặc trung gian của 2 loài keo bố mẹ.

Tất nhiên, những cây keo nhỏ mới được bán dùng làm nguyên liệu gỗ. Gỗ

keo lai to, tròn là nguyên liệu sử dụng để sản xuất đồ nội thất xuất khẩu.

Với đường kính từ 17-18cm trở lên có giá cao hơn hẳn so với giá nguyên

Khóa luận tốt nghiệp



15 Phạm Thị Ngọc Anh - D - CNSH 4A



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×