Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

in vitro trên chồi cúc vàng đã làm tăng đáng kể tỷ lệ xuất hiện biến dị và công

thức xử lý EMS 0.10% cho kết quả rất đáng lưu tâm vì tương tác giữa kiểu

gen và môi trường để tạo ra các biến dị hình thái là một xác suất ngẫu nhiên.

Khi xem xét khả năng sinh trưởng (thông qua các chỉ tiêu hệ số nhân

chồi, chiều cao chồi, số lá) của chồi cúc sau xử lý EMS ở thời điểm 2 tuần

sau cấy chuyển có thể thấy: khả năng sinh trưởng của các công thức sau xử

lý EMS đã giảm hơn so với đối chứng. Trong đó, ngoại trừ cơng thức xử lý

EMS 0.10% có khả năng sinh trưởng thấp hơn một cách có ý nghĩa thống

kê thì các cơng thức còn lại sinh trưởng tương đối đồng đều. Điều này có

được là do cơng thức 0.10% đã xuất hiện nhiều thể biến dị có cấu trúc thân,

lá nhỏ hơn hẳn so với chồi cúc in vitro thông thường. Trong các cơng thức

đã qua xử lý EMS in vitro thì cơng thức xử lý EMS 0.20% khả năng sinh

trưởng ưu thế hơn cả.



Hình 3.1. Chồi cúc biến dị thu được khi xử lý EMS nồng độ 0.10%



Chồi cúc bình thường



Chồi sinh trưởng kém,

Chồi có hiện tượng

lá màu vàng xanh

mọng nước, màu nhạt

Hình 3.2. Biến dị hình thái thu được sau xử lý chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) EMS

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của nồng độ EMS đến khả năng sống, sinh

trưởng và tạo biến dị của chồi cúc invitro 4 tuần sau cấy chuyển



Khóa luận tốt nghiệp



26



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Chỉ tiêu

Tỷ lệ biến Chiều cao

Hệ số

Số lá

dị (%)

(cm)

nhân chồi

Công thức

CT1 (ĐC)

0.00

5.30

5.50

1.73

CT2 (0.05%)

3.33

3.70

4.20

1.43

CT3 (0.10%)

16.67

2.76

3.43

1.37

CT4 (0.15%)

6.67

3.86

4.06

1.48

CT5 (0.20%)

8.33

3.80

4.93

1.45

CT6 (0.25%)

13.33

3.82

4.76

1.60

CT7 (0.30%)

15.00

3.60

4.67

1.52

CV %

4.50

5.60

4.10

LSD0.05

0.84

0.46

0.10

Tương tự như kết quả ở bảng 3.1, xem xét kết quả ở bảng 3.2 có thể

thấy rõ việc xử lý EMS đã ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng sinh trưởng của

chồi cúc in vitro.

Xem xét bảng 3.2 có thể thấy, sau 4 tuần cấy chuyển, tỷ lệ chồi biến

dị khơng có sự thay đổi so với thời điểm 2 tuần sau cấy chuyển (không xuất

hiện các biến dị mới). Hệ số nhân chồi cũng khơng có nhiều thay đổi,

chứng tỏ sau 2 tuần cấy chuyển, các chồi cúc hình thành đã tương đối ổn

định về số lượng, hình thái. Thời gian tiếp theo, các chồi sau xử lý EMS chỉ

tiếp tục sinh trưởng tăng trưởng chiều cao, số lá.

Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy khả năng sinh trưởng tương đối giống

với thời điểm sau 2 tuần cấy chuyển. Cụ thể, các công thức đã qua xử lý

EMS đều có khả năng sinh trưởng kém hơn đối chứng. Trong đó, cơng thức

xử lý EMS 0.10% có chỉ tiêu chiều cao trung bình (2.76cm), số lá trung

bình (3.43), thấp hơn nhiều so với đối chứng và thấp hơn hẳn các công thức

đã qua xử lý do các biến dị có kiểu thân, lá nhỏ ở công thức này xuất hiện

nhiều nhất. Công thức xử lý EMS 0.20% tiếp tục thể hiện sinh trưởng ưu

thế hơn các cơng thức đã qua xử lý EMS còn lại.

Bởi vậy, có thể khẳng định, xử lý EMS đã ảnh hưởng lớn tới khả

năng sống, sinh trưởng và tạo biến dị ở chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) in vitro. Xử lý EMS đã làm giảm khả năng sống, bật chồi của chồi

cúc in vitro, đồng thời làm tăng tỷ lệ xuất hiện các biến dị hình thái. Trong

Khóa luận tốt nghiệp



27



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng

học

đó hai cơng thức xử lý 0.10% và 0.20% cần được lưu tâm vì có tỷ lệ biến dị

hình thái cao và khả năng sinh trưởng tương đối khác biệt so với đối chứng

và các công thức đã qua xử lý EMS khác.

3.2. Ảnh hưởng của thời gian xử lý tia cực tím (UV) tới khả năng sống,

sinh trưởng và tạo biến dị của chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) in vitro

Các đoạn thân mang mắt ngủ của chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) in vitro được cấy chuyển vào môi trường nhân nhanh và đem xử

lý tia cực tím (UV) trong các khoảng thời gian 2h, 4h, 6h, 8h. Kết quả theo

dõi, đo đếm các chỉ tiêu cho bởi bảng 3.3 như sau:

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của thời gian xử lý tia cực tím (UV) đến

khả năng sống, sinh trưởng và tạo biến dị của chồi cúc in vitro

sau lần cấy chuyển 1

Chỉ tiêu



Tỷ lệ

sống

(%)



Tỷ lệ

bật

chồi

(%)



Tỷ lệ 2 tuần sau cấy chuyển 4 tuần sau cấy chuyển

Hệ số Chiều

Hệ số

biến

Chiều

Số lá nhân

cao

Số lá nhân

dị

cao (cm)

chồi

(cm)

chồi

(%)



Công thức

CT1 (ĐC) 100.0

100.00 0.00

0

CT2 (2h) 91.67 91.67 0.00

CT3 (4h) 83.33 83.33 1.85

CT4 (6h)

75.00 75.00 5.56

CT5 (8h) 66.67 66.67 7.40

CV %

LSD0.05



1.83



4.87



1.72



3.96



5.73



1.72



1.75

1.60

1.53

1.46

7.20

0.14



4.73

4.66

4.46

4.26

5.10

0.21



1.68

1.56

1.48

1.52

4.80

0.12



3.84

3.60

3.60

3.56

10.7

0.22



5.23

5.40

5.26

5.00

23.2

2.41



1.68

1.56

1.48

1.52

4.80

0.12



Kết quả thu được ở bảng 3.3 cho thấy, xử lý tia cực tím (UV) có ảnh

hưởng tới khả năng sống, sinh trưởng và tạo biến dị của chồi cúc in vitro.

Trong khi công thức đối chứng có 100% mẫu đều sống và bật chồi

thì các cơng thức đã qua xử lý tia UV đều có tỷ lệ sống và bật chồi giảm,

thời gian xử lý tia UV càng lâu thì tỷ lệ sống và bật chồi càng giảm dần.

Trong thí nghiệm, cơng thức có thời gian xử lý dài nhất (8h chiếu tia UV)

có 66.67% số mẫu sống và bật chồi.

Khóa luận tốt nghiệp



28



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Xử lý tia UV cũng làm tăng tần số xuất hiện biến dị của chồi cúc in

vitro. Với thời gian xử lý ngắn nhất ở công thức 2 (chiếu tia UV trong 2h),

chưa thấy xuất hiện biến dị, tức là với thời gian chiếu tia UV ngắn trong lần

cấy chuyển này chỉ ảnh hưởng tới sức sống (tỷ lệ sống và bật chồi giảm)

mà chưa có hiệu lực tạo biến dị hình thái. Các cơng thức còn lại đã qua xử

lý tia UV thì có tỷ lệ biến dị hình thái tăng khi tăng thời gian chiếu tia UV.

Xem xét kết quả 2 thí nghiệm, cũng có thể nhận thấy hiệu lực tạo

biến dị hình thái do xử lý tia UV in vitro thấp hơn khi sử dụng hóa chất

EMS. Bởi lẽ, khi xử lý chồi cúc ở EMS nồng độ 0.30% thì cũng có 65.00%

số mẫu bật chồi nhưng có tới 15.00% số mẫu xuất hiện biến dị hình thái.

Trong khi việc xử lý tia UV với thời gian 8h có 66.67% số mẫu bật chồi và

xuất hiện 4 mẫu biến dị (7.40%). Điều này có được có thể là do cơ chế gây

đột biến của 2 tác nhân có bản chất khác nhau. Tia UV chủ yếu gây tác

động tới bộ máy di truyền thông qua các đột biến điểm (sự thay thế, mất,

thêm cặp base nito) và các đột biến điểm này có thể chưa làm thay thế các

bộ ba mã hóa (khơng có sự thay đổi khung đọc mã). Tuy nhiên, việc xuất

hiện các đột biến điểm này hồn tồn có thể là cơ sở để làm tăng tần số

xuất hiện biến dị khi thực hiện cấy chuyển qua nhiều lần, tạo cây in vitro

hoàn chỉnh hoặc trong điều kiện nuôi cấy khác nhau như khi đưa cây ra

điều kiện tự nhiên (do tích lũy tương tác giữa kiểu gen và mơi trường). Do

đó, các chồi cúc sau xử lý tia UV in vitro vẫn là nguồn nguyên liệu quan

trọng cho các thí nghiệm tiếp theo.

Kết quả bảng 3.3 cũng cho thấy, khả năng sinh trưởng của chồi cúc

in vitro đã bị giảm đi khi được xử lý chiếu tia UV. Điều đó được thể hiện

thơng qua việc các công thức đã qua xử lý tia UV đều có chiều cao trung

bình chồi, số lá trung bình và hệ số nhân chồi thấp hơn so với đối chứng.

Ngồi ra, cơng thức có thời gian chiếu tia UV càng lâu thì khả năng sinh

trưởng càng giảm dần, mặc dù sự khác biệt giữa các công thức không thực

sự lớn. Ngoài ra, trong khi các chồi cúc sau xử lý EMS có chiều cao trung

bình và số lá trung bình ở 2 thời điểm theo dõi (2 tuần, 4 tuần sau cấy

Khóa luận tốt nghiệp



29



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

chuyển) có sự khác biệt tương đối lớn thì các chồi cúc sau xử lý tia UV

khơng có sự khác biệt nhiều. Điều này có thể là do, sự tác động của EMS

đến sinh trưởng của chồi cúc in vitro ở giai đoạn đầu tương đối mạnh. Kết

quả là 2 tuần sau cấy chuyển, chồi cúc sau xử lý EMS mới tiếp tục sinh

trưởng thân, lá mạnh.



Hình 3.3. Chồi cúc vàng (Chrysanthemum indicum) sau xử lý

tia UV in vitro 2 tuần sau cấy chuyển



Hình 3.4. Chồi cúc vàng (Chrysanthemum indicum) sau xử lý

tia UV in vitro 4 tuần sau cấy chuyển



Dạng chồi biến dị thân, lá nhỏ,

màu sắc lá nhạt hơn xuất hiện ở

Khóa luận tốt nghiệp



Dạng chồi biến dị tăng chiều cao,

số lá xuất hiện ở công thức 4

30



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng

học

cơng thức 3 (chiếu UV 4h)

(chiếu UV 6h)

Hình 3.5. Biến dị hình thái thu được sau xử lý chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro tia UV

Sau khi đo đếm các chỉ tiêu 4 tuần sau cấy chuyển, các chồi cúc sau

xử lý tia UV in vitro tiếp tục được cấy chuyển sang môi trường nhân nhanh

nhằm tiếp tục xem xét khả năng sinh trưởng và tạo biến dị của các chồi cúc

sau xử lý tia UV in vitro, kết quả thu được ở bảng 3.4 như sau

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của thời gian xử lý tia cực tím (UV) đến

khả năng sống, sinh trưởng và tạo biến dị của chồi cúc in vitro

sau lần cấy chuyển 2

Chỉ tiêu



Công thức

CT1 (ĐC)

CT2 (2h)

CT3 (4h)

CT4 (6h)

CT5 (8h)

CV %

LSD0.05



Tỷ lệ

sống

(%)

100.00

94.44

92.59

94.44

92.59



Tỷ lệ

bật

chồi

(%)

100.0

0

94.44

92.59

94.44

92.59



Tỷ lệ 2 tuần sau cấy chuyển 4 tuần sau cấy chuyển

Hệ số Chiều

Hệ số

biến Chiều

cao

Số lá nhân

cao Số lá nhân

dị

(cm)

chồi

(cm)

chồi

(%)

0.00



2.76



5.03



0.00

2.78

8.33

4.63



1.92



2.67

4.74 1.76

2.36

4.70 1.68

2.80

4.90 1.78

2.46

4.68 1.72

5.40

5.10 4.80

0.22

0.26 0.12

Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng, tạo biến dị



4.73



5.50



1.92



4.46 5.26 1.76

4.63 5.13 1.68

4.70 5.53 1.78

4.43 5.23 1.72

5.30 6.10 4.80

0.42 0.31 0.12

của các chồi cúc



sau xử lý tia UV sau lần cấy chuyển 2 (bảng 3.4) đã có sự sai khác đáng kể

so với lần cấy chuyển 1 (bảng 3.3) cụ thể như sau:

Các mẫu sống và bật chồi sau xử lý tia UV đã sinh trưởng trên môi

trường nhân nhanh được 4 tuần mới tiếp tục cấy chuyển sang môi trường

mới nên ở lần cấy chuyển này, các công thức sau xử lý tia UV có tỷ lệ sống

và bật chồi thấp hơn đối chứng nhưng đều có hơn 90% số mẫu sống và bật

chồi. Ngồi ra, khơng có sự khác biệt q lớn giữa các công thức.

Tương tự kết quả thu được ở lần cấy chuyển 1, các công thức đã qua

xử lý tia UV đều có sinh trưởng (chiều cao, số lá) thấp hơn so với đối

chứng. Tuy nhiên, một kết quả thú vị là các chồi biến dị có khả năng sinh

Khóa luận tốt nghiệp



31



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

trưởng thân lá mạnh thu được ở công thức 4 (xử lý UV 6h) sau khi được

cấy chuyển đã sinh trưởng tương đối tốt. Điều này dẫn tới chiều cao trung

bình và số lá trung bình của cơng thức 4 chiếm ưu thế hơn hẳn so với các

cơng thức đã qua xử lý tia UV.

Ngồi ra, các biến dị ở công thức 4 (chiếu tia UV 6h) cũng có khả

năng sinh trưởng tốt ở mơi trường mới nên tỷ lệ biến dị hình thái của cơng

thức này cũng cao hơn các cơng thức còn lại.

Bởi vậy, có thể khẳng định việc xử lý tia UV đã làm thay đổi khả

năng sinh trưởng của chồi cúc vàng (Chrysanthemum indicum) in vitro.

Thời gian xử lý tia UV kéo dài đã làm giảm khả năng sống, bật chồi, sinh

trưởng tăng chiều cao, số lá; đồng thời lại làm tăng tỷ lệ biến dị hình thái

của chồi cúc in vitro. Sau 2 lần cấy chuyển, các chồi biến dị thu được ở

công thức 4 (chiếu tia UV 6h) rất đáng được quan tâm vì có sự sinh trưởng

thân, lá tương đối khác biệt so với đối chứng thông thường.

3.3. Khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) sau xử lý EMS in vitro

Các chồi ngọn (1,5 – 2 cm) thu được từ các chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro sau xử lý EMS in vitro (thu được từ nội

dung 1) được cắt và cấy chuyển vào môi trường ra rễ. Mặc dù, 2 tuần sau

cấy chuyển, công thức đối chứng đã ra rễ tương đối tốt nhưng các công

thức đã qua xử lý EMS ra rễ kém hoặc chưa ra rễ. Kết quả theo dõi đo đếm

các chỉ tiêu theo dõi cho bởi bảng 3.5 (đo đếm vào thời điểm 3 tuần sau cấy

chuyển) như sau:

Bảng 3.5. Khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) sau xử lý EMS in vitro

Chỉ tiêu

Công thức

CT1 (ĐC)

CT2 (0.05%)

CT3 (0.1%)



Tỷ lệ

sống

(%)

100.00

100.00

100.00



Khóa luận tốt nghiệp



Tỷ lệ

biến dị

(%)

0.00

4.33

14.47

32



Chiều

cao

(cm)

3.86

3.43

2.86



Số lá

5.76

4.63

4.23



Số rễ

4.23

3.60

2.20



Chiều

dài rễ

(cm)

2.23

1.33

0.96



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

học

CT4 (0.15%)

100.00

7.67

3.40

CT5 (0.20%)

100.00

8.33

3.47

CT6 (0.25%)

100.00

11.33

3.38

CT7 (0.30%)

100.00

13.20

3.42

CV%

6.20

LSD0.05

0.31



Khoa Nông

4.60

4.73

4.58

4.62

6.40

0.64



3.30

3.50

3.13

3.43

4.60

0.37



1.67

1.30

1.67

1.33

7.30

0.64



Đối chứng

Công thức 3 (0.10%)

Cơng thức 6 (0.25%)

Hình 3.6. Khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng sau xử lý

EMS in vitro 2 tuần sau cấy chuyển



Công thức 3 (0.10%)

Công thức 5 (0,20%)

Đối chứng

Hình 3.7. Khả năng tạo cây hồn chỉnh của chồi cúc vàng sau xử lý

EMS in vitro 3 tuần sau cấy chuyển

Các chồi ngọn (1,5 – 2 cm) thu được từ các chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro sau xử lý EMS được cắt và cấy chuyển

vào mơi trường ra rễ nên các chồi này có sức sống tương đối tốt. Ở tất cả

các công thức, các chồi đều sống và tiếp tục phát triển (ra rễ) để tạo cây in

vitro hoàn chỉnh.

Tỷ lệ biến dị thu được ở thí nghiệm này tương tự như nội dung 1, các

công thức đã qua xử lý EMS đều xuất hiện các thể biến dị. Trong đó, tỷ lệ

biến dị thu được cao nhất ở công thức 3 (xử lý EMS 0.10%) với 14.47%

mẫu có hình thái sai khác so với đối chứng, đây là các biến dị có kiểu sinh

trưởng thân, lá kém hơn hẳn đối chứng và các cơng thức còn lại.

Kết quả bảng 3.5 cho thấy, việc xử lý EMS đã ảnh hưởng rất rõ tới khả

năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng (Chrysanthemum indicum) in

Khóa luận tốt nghiệp



33



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

vitro. Các chồi cúc sau xử lý EMS đã chậm ra rễ hơn rất nhiều so với đối

chứng. Trong khi ở công thức đối chứng, chồi cúc đã ra 1 – 3 rễ/chồi, rễ dài

1.0 – 1.5 cm thì các cơng thức đã qua xử lý EMS mới bắt đầu hình thành rễ và

3 tuần sau cấy chuyển mới hình thành rễ đủ điều kiện tạo cây in vitro hồn

chỉnh. Các cơng thức đã qua xử lý EMS đều có khả năng sinh trưởng (chiều

cao, số lá) và khả năng ra rễ (chiều dài rễ, số rễ) thấp hơn so với đối chứng.

Khả năng sinh trưởng (chiều cao, số lá trung bình) của các công thức

đã qua xử lý EMS đều thấp hơn đối chứng. Trong đó, cơng thức xử lý EMS

0.10% có tỷ lệ các biến dị hình thái lớn đã có các chỉ tiêu này thấp hơn hẳn

đối chứng và các công thức còn lại. Trong khi các cơng thức khác có chiều

cao trung bình trên 3.30 cm thì cơng thức xử lý EMS 0.10% chiều cao

trung bình chồi chỉ đạt 2.86 cm. Tương tự, trong khi các cơng thức khác có

số lá trung bình trên 4.50 thì cơng thức xử lý EMS 0.10% chỉ đạt số lá

trung bình là 4.23.

Các biến dị thu được ở công thức xử lý EMS 0.10% cũng có khả

năng ra rễ kém hơn hẳn so với đối chứng và các cơng thức còn lại. Kết quả

là, trung bình số rễ của cơng thức 0.10% là 2.20, các cơng thức còn lại đều

có số rễ trung bình hơn 3.10 (cơng thức đối chứng có số rễ trung bình là

4.23). Chiều dài rễ trung bình của cơng thức 0.10% là 0.96cm, trong khi

các cơng thức còn lại đều có chiều dài rễ trung bình hơn 1.30 cm (chiều dài

rễ trung bình của cơng thức đối chứng là 2.23cm)

Có thể nói, việc xử lý EMS đã ảnh hưởng lớn tới khả năng tạo cây in

vitro hoàn chỉnh của chồi cúc vàng (Chrysanthemum indicum) in vitro,

trước hết là làm chồi cúc chậm ra rễ, tiếp theo là sinh trưởng chiều cao, số

lá giảm xuống. Tiếp đó, các cơng thức đã qua xử lý EMS cũng có số rễ

trung bình và chiều dài rễ trung bình kém hơn hẳn so với đối chứng. Trong

đó, cơng thức xử lý EMS 0.10% với 14.47% số mẫu xuất hiện biến dị kiểu

sinh trưởng thân, lá kém dẫn tới cũng là cơng thức có khả năng tạo cây in

vitro của công thức này là thấp nhất (chiều cao, số lá, số rễ, chiều dài rễ).

Tuy nhiên, 3 tuần sau cấy chuyển các công thức đều đã ra rễ, tạo cây

in vitro hồn chỉnh. Vì vậy, đây hồn tồn có thể trở thành các dòng cúc sau

xử lý EMS để đem thích ứng trong điều kiện vườn ươm, vườn trồng nhằm

Khóa luận tốt nghiệp



34



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

đánh giá tiếp các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và sàng lọc các biến dị

phục vụ công tác chọn, tạo giống.

3.4. Khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) in vitro sau xử lý tia UV

Các chồi ngọn (1,5 – 2 cm) thu được từ các chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro sau xử lý UV (thu được từ nội dung 2)

được cắt và cấy chuyển vào môi trường ra rễ. Kết quả theo dõi đo đếm các

chỉ tiêu theo dõi cho bởi bảng 3.6 (đo đếm vào thời điểm 2 tuần sau cấy

chuyển) như sau:

Bảng 3.6. Khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro sau xử lý tia UV

Chỉ tiêu

Công thức

CT1 (ĐC)

CT2 (2h)

CT3 (4h)

CT4 (6h)

CT5 (8h)

CV%

LSD0.05



Tỷ lệ



Tỷ lệ



Chiều



sống



biến dị



cao



(%)

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00



(%)

0.00

2.11

3.23

8.66

2.45



(cm)

5.53

5.53

4.50

5.23

4.22

2.90

0.26



Chiều

Số lá Số rễ

6.46

5.53

5.43

6.33

5.44

3.10

0.34



5.53

5.43

5.36

5.73

5.40

2.40

0.24



dài rễ

(cm/rễ)

3.30

3.10

2.70

3.23

3.02

2.70

0.15



CT2

CT3

CT4

CT5

UV2h

UV4h

UV6h

UV8h

Hình 3.8. Khả năng tạo cây hồn chỉnh của chồi cúc vàng in vitro sau

xử lý tia UV 2 tuần sau cấy chuyển



Đối chứng



Khóa luận tốt nghiệp



35



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Các chồi ngọn (1,5 – 2 cm) thu được từ các chồi cúc vàng

(Chrysanthemum indicum) in vitro sau xử lý UV được cắt và cấy chuyển

vào môi trường ra rễ nên các chồi này có sức sống tương đối tốt. Ở tất cả

các công thức, các chồi đều sống và tiếp tục phát triển (ra rễ) để tạo cây in

vitro hồn chỉnh.

Tỷ lệ biến dị thu được ở thí nghiệm này tương tự như nội dung 2, các

công thức đã qua xử lý UV đều xuất hiện các thể biến dị. Trong đó, tỷ lệ

biến dị thu được cao nhất ở công thức 4 (xử lý UV6h) với 8.66% mẫu có

hình thái sai khác so với đối chứng, đây là các biến dị có kiểu sinh trưởng

thân, lá tốt hơn hẳn đối chứng và các cơng thức còn lại. Điều này đã làm

cho các chỉ tiêu theo dõi (chiều cao, số lá, chiều dài rễ, số rễ) ở công thức

này ưu thế hơn hẳn các cơng thức còn lại.

Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy, ngoại trừ công thức 4 (xử lý UV6h) thì

tất cả các cơng thức đã qua xử lý tia UV đều có khả năng sinh trưởng

(chiều cao, số lá) thấp hơn đối chứng. Tương tự với các chỉ tiêu về khả

năng ra rễ (chiều dài rễ, số rễ), các công thức đã qua xử lý tia UV đều thấp

hơn so với đối chứng, mặc dù giữa các công thức đã qua xử lý tia UV

không có sự khác biệt rõ rệt. Điều này chứng tỏ việc xử lý tia UV đã làm

giảm khả năng tạo cây hoàn chỉnh của chồi cúc vàng (Chrysanthemum

indicum) in vitro.

Riêng công thức 4 (xử lý UV6h) với 8.66% số mẫu có đặc điểm sinh

trưởng thân, lá đồng thời khả năng ra rễ cũng tương đối tốt là kết quả rất

đáng lưu tâm. Các thể biến dị này nếu được đem thích nghi ngồi điều kiện

vườn ươm và vườn trồng cần được đặc biệt chú ý vì qua 2 lần cấy chuyển ở

môi trường nhân nhanh và trong điều kiện môi trường ra rễ đều thể hiện

khả năng sinh trưởng ưu việt hơn hẳn.



Khóa luận tốt nghiệp



36



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×