Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

các rễ không phát sinh từ mầm rễ của hạt mà từ những rễ mọc ở mấu của

thân (gọi là mắt) ở những phần ngay sát mặt đất.

* Thân: Cây thuộc thân thảo nhỏ, có nhiều đốt giòn dễ gãy càng lớn

càng cứng, cây dạng đứng hoặc bò. Kích thước thân cao hay thấp, to hay

nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng. Những

giống nhập nội thân thường to, mập, thẳng và giòn, ngược lại những giống

Cúc dại hay giống cổ truyền Việt Nam thân nhỏ mảnh và cong. Thân có

ống tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn đơn

* Lá: Thường là lá đơn khơng có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ

thùy lông chim, phiến lá mềm mỏng có thể to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm

hay nhạt phụ thuộc vào từng giống. Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp

lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng. Trong một chu kì sinh trưởng cây có

từ 30-50 lá trên thân.

* Hoa, Quả: Hoa Cúc chủ yếu có 2 dạng :

+ Dạng lưỡng tính: Trong hoa có cả nhị đực và nhuỵ cái.

+ Dạng đơn tính: Trong hoa chỉ có nhị đực hoặc nhụy cái, đơi khi có

loại vơ tính (khơng có cả nhụy, nhị, hoa này thường ở phía ngồi đầu). Mỗi

hoa gồm rất nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự

đầu trạng mà mỗi đầu trạng là một bơng hoa. Trong thực tế tuỳ theo mục

đích sử dụng mà người ta để một bông trên một cành hay nhiều bông trên

một cành.

Màu sắc của hoa Cúc rất khác nhau, hầu như có tất cả các màu tự

nhiên: Trắng, vàng, đỏ, tím, hồng, nâu, xanh. Trong đó, trên mỗi bơng hoa

có thể có một màu duy nhất, có thể có vài màu riêng biệt hoặc có rất nhiều

màu pha trộn, tạo nên một thế giới màu sắc vô cùng phong phú và đa dạng.

Tuỳ theo cách sắp xếp của cánh hoa mà người ta phân ra thành nhóm

hoa kép (có nhiều vòng hoa sắp xếp trên bơng) và nhóm hoa đơn (chỉ có

một vòng hoa trên bơng). Những cánh hoa nằm ở phía ngồi có màu sắc

đậm hơn, xếp nhiều tầng, sít nhau, chặt hay lỏng tuỳ từng giống, cánh hoa

Khóa luận tốt nghiệp



5



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nơng - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng

học

có nhiều hình dáng khác nhau: cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn, có loại

cánh dài, cuốn ra ngồi hay cuốn vào trong.

Đường kính của bơng hoa phụ thuộc vào giống, giống hoa to có

đường kính 10-12cm, loại trung bình 5-7cm và loại nhỏ 1-2cm.

Hoa có 4-5 nhị đực dính vào nhau làm thành 1 ống bao xung quanh

vòi nhụy, bao phấn nở phía trong theo khe nứt dọc, khi phấn nhị đực chín,

bao phấn nở tung hạt phấn ra ngồi nhưng lúc này nhụy chưa đến tuổi

trưởng thành, chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn vì vậy sự thụ phấn, thụ

tinh khơng thành, dẫn đến quả khơng hạt, muốn có hạt giống phải thụ phấn

nhờ sâu bọ hoặc thụ phấn nhân tạo cho hoa.

Quả bế, đóng, chứa một hạt, quả có chùm lơng do đài tồn tại để phát

tán hạt, có phơi thẳng mà khơng có nội nhũ.

1.1.3. u cầu ngoại cảnh

* Nhiệt độ: Cây hoa cúc có nguồn gốc từ nơi có khí hậu ơn đới nên

nó ưu điều kiện thời tiết mát mẻ hoặc chỉ chịu nóng trung bình, nhiệt độ

thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là 15 – 20 0C. Cúc có thể chịu

được nhiệt độ từ 10 - 350C nhưng nhiệt độ cao trên 35ºC hoặc thấp hơn

10ºC sẽ làm cho cây sinh trưởng phát triển kém. Ban ngày cây cần nhiệt độ

cao hơn để quang hợp còn ban đêm cần nhiệt độ thấp hơn. Nếu nhiệt độ

cao vào ban đêm sẽ thúc đẩy q trình hơ hấp làm tiêu hao lượng lớn chất

dự trữ trong cây.

* Ánh sáng: Cúc là loại cây trồng ngắn ngày ưa sáng và lạnh nên

quang chu kỳ ảnh hưởng rất lớn đến sự phân hóa mầm hoa và chất lượng

hoa cúc. Hầu hết các giống hoa cúc thuộc loại cây cần ánh sáng ngày dài

trên 13 giờ, còn trong thời gian trỗ hoa, cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ

10 -11 giờ và nhiệt độ không khí thấp trên dưới 20ºC. Thời gian chiếu sáng

dài cây cúc sinh trưởng mạnh, cây cao, hoa to và đẹp. Bởi vậy cúc rất thích

hợp với thời tiết thu đơng. Hiện nay, một số giống cúc mới nhập nội có thể

ra hoa trong điều kiện ngày dài điển hình là CN 93, CN 98, CN01, tím hè,

Khóa luận tốt nghiệp



6



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nơng

học

… rất thích hợp trồng vào vụ hè, do đó có thể sản xuất cúc quanh năm thay

vì chỉ trồng vào mùa đông như trước đây.

* Ẩm độ: Ẩm độ đất từ 60 – 70%, độ ẩm không khí 55 – 60% thuận

lợi cho cúc sinh trưởng. Nếu độ ẩm trên 80% cây sinh trưởng mạnh nhưng

lá dễ mắc phải một số bệnh nấm. Đặc biệt vào thời kỳ thu hoạch hoa cúc

cần thời tiết khơ ráo, thống mát, nếu độ ẩm khơng khí q cao làm cho

nước đọng trên các tuyến mật gây thối hoa và sâu bệnh phát sinh phát triển,

cây dễ bị đổ non, chất lượng hoa giảm sút, khó khăn trong việc thu hoạch.

* Dinh dưỡng: Đối với cây hoa nói chung và hoa cúc nói riêng phân

bón phải đảm bảo đầy đủ, cân đối. Nếu thiếu phân cây sẽ còi cọc, hoa nhỏ,

dễ bị sâu bệnh phá hoại nhưng nếu bón thừa phân cây sẽ vống cao, dễ bị

đổ, khả năng chống chịu kém. Các loại phân mà cúc cần bao gồm: phân vô

cơ như phân đạm, lân, kali; phân hữu cơ như phân bắc, phân chuồng, phân

vi sinh,… và các loại phân vi lượng như Cu, Fe, Zn, Mn…

1.1.4. Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam

* Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới

Hiện nay ngành sản xuất hoa nói chung và sản xuất hoa cúc nói riêng

trên thế giới đang phát triển mạnh và mang tính thương mại cao. Đến đầu

thế kỷ 18, cây hoa cúc là cây hoa quan trọng nhất đối với Trung Quốc, Nhật

Bản. Ở Hà Lan, cúc là cây quan trọng thứ hai sau hoa hồng. Hàng năm kim

ngạch giao lưu buôn bán hoa cúc trên thị trường thế giới ước đạt tới 1.5 tỷ

USD (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2003).

Hoa cúc là một trong năm loại hoa cắt cành phổ biến trên thế giới.

Cây cúc thu hút người tiêu dùng ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh,

tím, đỏ, hồng, da cam,… Khơng những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa rất

đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hàng

hóa quanh năm đã khiến cho hoa cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng

thứ hai trên thị trường thế giới (sau hoa hồng).

Trong các nước Châu Âu, Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu thế giới

về sản xuất và xuất khẩu hoa nhằm phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn

Khóa luận tốt nghiệp



7



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

với hơn 80 nước trên thế giới bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và

trang trí. Trong đó, diện tích trồng hoa cúc của Hà Lan chiếm 30% tổng diện

tích trồng hoa tươi. Trung bình 1 năm 7 tỷ bó hoa tươi và 600 triệu chậu hoa

cảnh các loại với tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỷ USD/năm.

Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa có thể xem như là một phần trong

nền kinh tế Mỹ, chiếm khoảng 10 tỷ USD. Ở Mỹ các loại hoa truyền thống

là cúc, cẩm chướng và hoa hồng. Hiện nay, một lượng lớn hoa cắt được

nhập khẩu vào Mỹ từ các nước Trung và Nam Mỹ, Hà Lan, các nước vùng

biển Caribe. Theo tổ chức sáng kiến thương mại Anh, năm 2007, Colombia

là nước xuất khẩu hoa lớn thứ hai thế giới sau Hà Lan với kim ngạch xuất

khẩu 700 triệu USD, 85% hoa của Colombia được xuất khẩu cho thị trường

Châu Âu với các loại hoa chính là cúc, hoa hồng, cẩm chướng.

Ở Châu Á, Nhật Bản dẫn đầu về sản xuất và tiêu thụ hoa cúc. Hàng

năm, Nhật Bản tiêu thụ khoảng 4.000 triệu Euro để phục vụ nhu cầu hoa

trồng (Jo Wijnads, 2005). Người dân Nhật Bản yêu thích hoa cúc và hoa

cúc trở thành loài hoa quan trọng nhất tại Nhật Bản chiếm tới 36% sản

phẩm nông nghiệp. Mỗi năm sản xuất khoảng hơn 200 triệu cành hoa phục

vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3

tổng diện tích trồng hoa. Năm 2008, diện tích trồng hoa cúc ở Nhật Bản là

16.800 ha, giá trị sản lượng đạt 2.599 triệu USD. Tuy vậy, hàng năm Nhật

Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan và một số nước trên

thế giới như Trung Quốc, Đài Loan, Colombia,….

Tại Trung Quốc, ngành sản xuất hoa phát triển mạnh trong 15 năm

gần đây với diện tích hằng năm tăng 24%, giá trị sản lượng tăng 38,8%.

Năm 2006, diện tích hoa Trung Quốc đạt 722.000 ha với giá trị sản lượng

55,62 tỷ nhân dân tệ. Hoa cúc là 1 trong 10 loại hoa cắt quan trọng sau hoa

hồng và cẩm chướng, chiếm khoảng 20% tổng số hoa cắt trên thị trường

bán buôn ở Bắc Kinh và Cơn Minh. Vùng sản xuất hoa cúc chính là Quảng

Đông, Thượng Hải, Bắc Kinh bao gồm các giống ra hoa mùa Hè, Thu,

Khóa luận tốt nghiệp



8



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Đông sớm và Xuân muộn với các loại cúc đơn với các màu được ưa

chuộng như đỏ, vàng, trắng .

* Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hoa cúc được trồng rộng rãi ở một số thành phố lớn như

Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận như

Vĩnh Phúc , Hưng Yên, Hải Dương……Nếu xét về cơ cấu chủng loại cho

tất cả các loại hoa thì trước những năm 1997 diện tích hoa hồng nhiều nhất

chiếm đến 31% nhưng từ 1998 trở lại đây diện tích hoa cúc đã vượt lên

chiếm 42%, trong khi đó hoa hồng chỉ còn 29,4%. Riêng ở Hà Nội tổng giá

trị sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41,3 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hàng

năm khoảng 10% .

Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2006, diện tích trồng hoa

cây cảnh của nước ta khoảng trên 13.000 ha. Trong đó diện tích trồng hoa

cúc chiếm 25 – 30%, chỉ đứng thứ hai sau hoa hồng.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong thời gian từ

17/12/2006 đến 16/1/2007, lượng hoa xuất khẩu của Việt nam đạt gần 2,6

triệu cành với kim ngạch 500 nghìn USD. Số lượng doanh nghiệp tham gia

xuất khẩu hoa trong thời gian này gồm 5 doanh nghiệp. Trong đó, cơng ty

TNHH Agrivina là doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất, chiếm

tới 95% tổng kim ngạch xuất khẩu hoa cắt cành của Việt Nam. Cụ thể trong

khoảng 2,5 triệu cành hoa với các chủng loại hoa Cúc, cẩm chướng, hồng,

địa lan, lily, đồng tiền mà doanh nghiệp này xuất khẩu thì hoa cúc vẫn

chiếm ưu thế xuất khẩu nhiều nhất với 1,5 triệu cành (chiếm 61% tổng

lượng hoa xuất khẩu của doanh nghiệp).

Theo chương trình phát triển sản xuất hoa của Bộ Nơng nghiệp và

Phát triển Nông thôn, đến năm 2010 Việt Nam sẽ xuất khẩu 1 tỷ cành hoa

các loại trong đó hoa hồng, hoa cúc và phong lan chiếm 85%. Theo chương

trình này, diện tích trồng hoa của cả nước sẽ đạt 8000ha cho sản lượng 4,5

triệu cành/lượng hoa .

Khóa luận tốt nghiệp



9



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước cũng như trên thế giới

đòi hỏi các nhà sản xuất hoa Việt Nam phải có kế hoạch đầu tư và phát

triển một cách thích hợp, đặc biệt là trong công tác chọn tạo giống và nhân

giống…công nghệ đóng gói và bảo quản để nâng cao năng suất chất lượng.

Như vậy, có thể thấy hoa cúc là một loại hoa có tiềm năng phát triển

rất lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển ngành sản

xuất hoa của nước ta nói riêng và của thế giới nói chung.

1.2. Phương pháp xử lý đột biến in vitro bằng Ethyl Methane

Sunfonate (EMS) và tia cực tím (UV)

1.2.1. Đột biến và phương phương pháp xử lý đột biến in vitro



 Một số khái niệm về biến dị, đột biến

Các nhà di truyền học phân biệt 2 dạng biến dị là biến dị di truyền và

biến dị không di truyền (thường biến).

Biến dị khơng di truyền: đó là những biến đổi liên quan tới kiểu hình,

khơng liên quan tới vật chất di truyền. Những biến đổi này gọi là các

thường biến.

Biến dị di truyền: đó là những biến đổi có liên quan tới vật chất di

truyền của cơ thể. Có thể phân ra 2 nhóm sau: Biến dị đột biến – những

biến đổi có tính chất hố học vật liệu di truyền, và biến dị tái tổ hợp – là

những tổ hợp sắp xếp gen mới mà đời con thu được khác với bố mẹ do sự

phân ly độc lập và sự trao đổi chéo của các gen.



 Phân loại các dạng đột biến

Đột biến là những biến đổi có tính chất hố học vật liệu di truyền,

xảy ra do tác động của các yếu tố môi trường và bên trong tế bào; theo đặc

điểm biến đổi của kiểu gen có thể phân biệt 4 kiểu đột biến sau:

Đột biến gen (đột biến điểm): Là những biến đổi về thành phần bazơ

của ADN, làm biến đổi các cấu trúc của gen, dẫn tới chức năng của chúng

bị biến đổi.



Khóa luận tốt nghiệp



10



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Trường Đai học Nông - Lâm Bắc Giang

Khoa Nông

học

Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể: Là những biến đổi liên quan tới

những đoạn khác nhau trên nhiễm sắc thể, có thể quan sát thấy dưới kính

hiển vi (bao gồm những biến đổi như: mất đoạn, thêm đoạn, đảo đoạn,

chuyển đoạn).

Biến đổi về số lượng nhiễm sắc thể: bao gồm thay đổi số lượng của

cả bộ nhiễm sắc thể - các dạng đa bội thể; thay đổi số lượng ở các đôi

nhiễm sắc thể riêng rẽ - các dạng lệch bội.

Đột biến gen ở tế bào chất: đó là những biến đổi trên ADN của các

bào quan như ty thể, lạp thể, hay ở các episom, plasmid (ở vi khuẩn).

(Nguyễn Hồng Minh, 1999)

 Vai trò của đột biến trong cơng tác chọn tạo giống cây trồng

Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, nhiều phương

pháp chọn tạo giống đã và đang được quan tâm phát triển. Bằng các

phương pháp truyền thống như lai tạo hay chọn lọc, có thể tạo ra một số

giống cây năng suất cao, ổn định nhưng cần ít nhất 6 -10 thế hệ. Trong khi

đó chọn giống bằng phương pháp đột biến nhân tạo (đột biến thực nghiệm)

chỉ cần 3 - 6 thế hệ (Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 1997). Đồng thời sử

dụng phương pháp này có thể giải quyết những vấn đề mà nhiều phương

pháp khác không thể thực hiện được như: biến dị tự nhiên về một đặc tính

mong muốn khơng có sẵn trong nguồn vật liệu di truyền; khi có sẵn một

gen cần thiết song do mối liên kết chặt chẽ với các gen khác làm cho gen

đó khơng sử dụng được; khi tạo đặc tính mong muốn khơng thể thực hiện

bằng phương pháp lai; khi muốn thay đổi một hoặc một số tính trạng riêng

biệt nhằm khắc phục nhược điểm của giống mà khơng làm thay đổi những

tính trạng khác của giống. (Cox, RI., 1987)

Với các phương pháp đột biến thực nghiệm, sử dụng các tác nhân lý

hóa gây đột biến đã làm tăng sự sai khác di truyền trong quần thể. Việc xử

lý đột biến thực nghiệm có thể tạo ra những đột biến mang tính nhảy vọt

đáng kể. Do đó có thể tạo ra giống mới khác xa giống cũ. (Nguyễn Xuân

Linh và cộng sự, 1998)

Khóa luận tốt nghiệp



11



Phùng Minh Hiền CNSH - 4A



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×