Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THANH TOÁN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THANH TOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

dụng và vốn bị chiếm dụng làm sao vừa đảm bảo khả năng thanh tốn của cơng

ty vừa sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhất đối với nguồn vốn bỏ ra, tận dụng

được nguồn vốn chiếm dụng được của nhà cung cấp.

Quan hệ thanh toán với người bán thực chất là việc doanh nghiệp chiếm

dụng vốn của nhà cung cấp nhưng vẫn phải đảm bảo uy tín của cơng ty trong

việc thanh tốn nợ. Tạo uy tín đối với nhà cung cấp giúp cơng ty có được hàng

hố đầu vào với chất lượng tốt, giá cả ổn định nhất là trong tình hình giá cả leo

thang như hiện nay. Hàng hoá đầu vào đảm bảo và ổn định sẽ tạo được lợi thế

cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Trong quan hệ thanh toán với người mua doanh nghiệp phải đảm bảo làm

sao giữ được khách hàng nhưng cũng đồng thời tránh để cho khách hàng chiếm

dụng vốn không đảm bảo nguồn vốn quay vòng trong kinh doanh, giảm hiệu quả

sử dụng vốn.

Quan hệ thanh toán với nhà nước là việc mà các doanh nghiệp phải thực

hiện nghĩa vụ của mình với Ngân sách nhà nước về thuế như: thuế GTGT, thuế

TNDN, thuế mơn bài, phí, lệ phí,… Qua việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách

nhà nước sẽ biết được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay

khơng.

Nhìn chung quan hệ thanh toán với người mua và người bán có ảnh

hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Quản lý tốt quan hệ

thanh toán này sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo tình hình tài chính của doanh

nghiệp luôn ổn định và lành mạnh.

1.1.3. Đặc điểm của hoạt động thanh toán

- Trong các nghiệp vụ thanh tốn doanh nghiệp vừa có thể là chủ nợ, vừa

có thể là chủ thể chịu nợ.

- Các nghiệp vụ thanh tốn có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau

u cầu phải theo dõi chi tiết theo từng đối tượng thanh toán.

- Các nghiệp vụ thanh toán diễn ra một cách thường xuyên, liên tục trong

suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần

có những chính sách, chế độ quản lý chặt chẽ.

8



- Các nghiệp vụ thanh tốn phát sinh ở cả q trình mua vật tư, hàng hố

đầu vào và q trình tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì

nó tham gia vào tồn bộ q trình kinh doanh (mua hàng và bán hàng).

- Việc thanh toán ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp

nên thường có các quy định rất chặt chẽ trong thanh tốn. Vì vậy cần có sự giám

sát, quản lý thường xuyên để các quy tắc được tôn trọng.

1.1.4. Phân loại hoạt động thanh toán trong doanh nghiệp

a. Phân loại theo đối tượng thanh toán

- Thanh toán với nhà cung cấp: Đây là mối quan hệ phát sinh trong quá

trình mua sắm vật tư, tài sản, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ. Thuộc nhóm này bao

gờm các khoản thanh tốn với người bán vật tư, hàng hóa, thanh tốn với người

nhận thầu XDCB, nhận thầu sửa chữa lớn…

- Thanh toán với khách hàng: phát sinh trong q trình tiêu thụ sản phẩm,

hàng hố, lao vụ, dịch vụ ra bên ngoài. Khi khách hàng chấp nhận mua, chấp

nhận thanh toán khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp chuyển giao hoặc doanh

nghiệp đặt trước tiền hàng cho doanh nghiệp sẽ phát sinh quan hệ thanh toán với

người đặt hàng.

- Thanh toán với nhà nước: Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ của

mình với ngân sách nhà nước về thuế và các khoản khác. Các khoản thanh tốn

này có thể khác nhau đối với từng doanh nghiệp, tuy nhiên thông thường, các

khoản thuế phải nộp như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế môn bài, thuế thu

nhập doanh nghiệp, các phí và lệ phí.

- Thanh tốn nội bộ: Là quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, gờm

thanh tốn giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên, giữa doanh nghiệp với

các đơn vị trực thuộc về các khoản phân phối vốn, thu hộ, chi hộ lẫn nhau, mua

bán nội bộ.

- Các quan hệ thanh toán khác: Như quan hệ thanh toán với ngân hàng, các

tổ chức tài chính về các khoản tiền vay, quan hệ về thế chấp, ký cước, ký quỹ…

b. Phân loại theo cơng cụ thanh tốn



9



- Thanh tốn dùng tiền mặt: Thường áp dụng khi khối lượng thanh toán nhỏ

như thanh tốn lương, mua các mặt hàng có giá trị nhỏ. Hình thức thanh tốn

này gờm:

+ Thanh tốn bằng tiền mặt VND

+ Thanh toán bằng tiền mặt ngoại tệ

+ Thanh toán bằng hối phiếu ngân hàng

+ Thanh toán bằng vàng, bạc hay đá quý

Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đờng thời là việc kết thúc

q trình trao đổi, lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh tốn. Sự

vận động của tiền tệ có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của

hàng hố. Tuy nhiên, hình thức này khơng được an toàn nên các doanh nghiệp

đang cố gắng hạn chế tối đa sử dụng hình thức này.

- Thanh tốn khơng dùng tiền mặt: Hình thức thanh tốn khơng dùng tiền mặt là

xu hướng trong thanh toán hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công

nghệ đang ngày càng phát triển. Hình thức thanh tốn này có nhiều ưu điểm so

với việc dùng tiền mặt.

Thanh tốn khơng dùng tiền mặt là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng

phương tiện lưu thơng và phương tiện thanh tốn khơng trực tiếp bằng tiền mặt mà

thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng

hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh tốn và những người thụ hưởng.

Thanh tốn khơng dùng tiền mặt chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền

kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội

cũng như đối ngoại. Sự phát triển rộng khắp của thanh tốn khơng dùng tiền mặt

hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng

hoá phát triển càng cao, khối lượng hàng hoá trao đổi trong và ngồi nước càng lớn

thì cần có những cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm.

Các hình thức cụ thể của thanh tốn khơng dùng tiền mặt:

+ Ủy nhiệm chi: là một hình thức thanh tốn khá phổ biến trong mơi

trường kinh tế các nước khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Việc chuyển

nợ có uỷ quyền như các doanh nghiệp nhờ Ngân hàng trả lương vào tài khoản

10



của công nhân, việc nộp các loại phí bảo hiểm… cũng là một dịch vụ thanh tốn

mới tương tự như ủy nhiệm nhưng hình thức ln chuyển thơng tin có thể là đĩa

hoặc băng từ hay qua mạng viễn thông.

+ Ủy nhiệm thu: ủy nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân hàng

phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao hay dịch vụ đã cung ứng, thông thường là

các dịch vụ điện, nước, điện thoại. Các loại séc chuyển khoản, bảo chi, định

mức, chuyển tiền do người mua phát hành để trả tiền hàng hoá, dịch vụ.

+ Ngân phiếu thanh toán: Thực chất là một lệnh trả tiền đặc biệt của chủ

sở hữu nào đó, việc trả tiền thực hiện theo đúng chứng từ thanh toán. Là một

loại chứng từ thanh toán do ngân hàng phát hành cho một số khách hàng có tiền

gửi tại ngân hàng của mình. Khi có nhu cầu sử dụng, người chủ ngân phiếu sẽ

ghi rõ người nhận và số tiền được nhận lên tấm ngân phiếu đó, người nhận chỉ

cần đem tấm séc đó đến ngân hàng trong thời gian nhất định sẽ lĩnh được tiền.

+ Thư tín dụng (thanh tốn thơng qua L/C): đối với thanh tốn trong nước

được sử dụng ít, chủ yếu được sử dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh

doanh xuất nhập khẩu hàng hố và dịch vụ. Theo hình thức này, người mua hàng

phải mở một tài khoản tại ngân hàng để đảm bảo thanh tốn cho phía đối tác, khi

bên mua nhận được hàng đúng theo số lượng và chất lượng theo đúng theo hợp

đờng thì ngân hàng sẽ có nghĩa vụ chuyển số tiền trong tài khoản mới được ở

vào tài khoản của người bán tại một ngân hàng đã được xác định trước. Hình

thức này là hình thức thanh tốn phổ biến trong thanh tốn quốc tế, khi mà các

bên tham gia không hiểu rõ về nhau, hình thức này đảm bảo các nghĩa vụ của

các bên tham gia nhờ có ngân hàng làm trung gian.

+ Thanh tốn bằng thẻ tín dụng: Thẻ thanh tốn do ngân hàng phát hành

bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán

khác, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh tốn hay các quầy rút tiền tự

động. Hình thức này mới xuất hiện ở nước ta nên vẫn còn chưa phổ biến rộng rãi.

Việc áp dụng hình thức thanh tốn nào cho phù hợp là tùy thuộc vào điều

kiện và hồn cảnh của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có thể kết hợp nhiều

phương thức thanh toán khác nhau để tạo thuận lợi cho việc lưu thơng hàng hóa.

11



c. Phân loại theo thời hạn thanh toán

- Thanh toán trước: Là hình thức mà người mua sẽ trả tiền trước cho người

bán một thời gian để đảm bảo việc mua hàng. Người bán sẽ có thuận lợi là chắc

chắn bán được hàng và thu được tiền, còn người mua sẽ thiệt thòi hơn khi phải trả

tiền mà chưa nhận được hàng nhưng bù lại họ nhận được một giá thấp hơn những

người mua khác. Trường hợp này cũng được áp dụng khi nguồn hàng là khan

hiếm, để dành được quyền mua người mua sẽ phải trả trước số tiền hàng.

- Thanh toán ngay: Ngay khi bên bán giao hàng cho bên mua thì bên mua

có nghĩa vụ thanh tốn tiền hàng cho bên bán. Hình thức này được áp dụng khi

các đối tác chưa tin tưởng vào nhau, hay khi mua những mặt hàng có số lượng

nhỏ, người mua sẽ trả tiền ngay.

- Thanh toán sau: Tức người mua sau khi đã nhận hàng đầy đủ, một thời

gian sau, theo thỏa thuận mới chuyển trả số tiền hàng cho bên bán. Hình thức

này áp dụng khi các bên tham gia đã là đối tác quen thuộc của nhau. Việc thanh

toán sau sẽ làm cho người bán bị chiếm dụng vốn, nhưng bù lại họ có thể bán

được nhiều hàng hóa hơn và có thể thu được một khoản chi phí tài chính qua giá

bán sản phẩm.

1.2. Một số vấn đề về kế toán thanh toán tại doanh nghiệp.

1.2.1. Khái niệm kế toán thanh toán

Kế toán thanh toán là việc lập và luân chuyển chứng từ kế toán, xây dựng

hệ thống sổ sách kế toán, phản ánh nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ thống sổ

kế toán chi tiết, sổ tổng hợp để hỗ trợ cho việc theo dõi tình hình phát sinh các

nghiệp vụ thanh tốn, định kì lập báo cáo theo quy định.

1.2.2. Vai trò, nhiệm vụ cuả kế tốn thanh tốn

a. Vai trò của kế tốn thanh tốn

Kế toán thanh toán là một phần hành kế toán khá quan trọng trong tồn bộ

cơng tác kế tốn của một doanh nghiệp, liên quan đến các khoản nợ phải thu và

các khoản nợ phải trả. Việc quản lý công nợ tốt khơng chỉ là u cầu mà còn là

vấn đề cần thiết ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Tùy vào đặc điểm, loại hình sản xuất kinh doanh, quy mơ, ngành nghề kinh

doanh, trìnhđộ quản lý trong doanh nghiệp và trình độ đội ngũ kế toán để tổ

12



chức bộ máy kế toán cho phù hợp. Tổ chức cơng tác kế tốn thanh tốn góp

phần rất lớn trong việc lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp.

b. Nhiệm vụ của kế tốn thanh tốn

Để có được những thơng tin chính xác kịp thời tình hình thanh tốn với

người mua người bán trong doanh nghiệp thì kế tốn đóng vai trò rất quan trọng.

Để làm tốt chức năng thông tin và kiểm tra của mình kế tốn thực hiện các

nhiệm vụ sau:

Kế tốn phải tổ chức ghi chép nhằm theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu,

phải trả chi tiết theo từng đối tượng, từng khoản nợ, từng thời gian, đơn đốc việc

thanh tốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn.

Đối với những khách nợ có quan hệ mua bán thường xuyên hoặc có số dư

nợ lớn thì định kỳ hoặc cuối niên độ kế toán, kế toán cần tiến hành kiểm tra, đối

chiếu từng khoản nợ phát sinh, số đã thanh toán và số còn nợ. Nếu cần có thể

u cầu khách hàng xác nhận nợ bằng văn bản.

Giám sát việc thực hiện chế độ thanh tốn cơng nợ và tình hình chấp hành

kỷ luật thanh tốn.

Tổng hợp cung cấp thơng tin kịp thời về tình hình cơng nợ từng loại cho

quản lý đê có biện pháp xử lý.

Kế tốn cần tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán chi tiết, sổ

tổng hợp để phản ánh công nợ phải thu và phải trả. Đờng thời kế tốn cũng xây

dựng các ngun tắc, quy trình kế tốn chi tiết, kế tốn tổng hợp thanh toán với

người bán, người mua sao cho khoa học hợp lý phù hợp với đặc điểm của doanh

nghiệp mà vẫn đảm bảo tuân thủ quy định và chế độ.

1.2.3. Yêu cầu quản lý và nguyên tắc hạch toán các nghiệp vụ thanh toán

* Yêu cầu quản lý đối với các nghiệp vụ thanh toán

+ Đối với nghiệp vụ thanh toán các khoản phải thu:

- Nợ phải thu được hạch toán chi tiết theo từng đối tượng phải thu, theo

từng nội dung phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán. Đối tượng phải thu

là các khách hàng có quan hệ thanh tốn với doanh nghiệp về sản phẩm, hàng

hóa, nhận cung cấp dịch vụ.

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THANH TOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x