Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chuyển đổi các nồng độ dưới đây thành µeq L -1?

Chuyển đổi các nồng độ dưới đây thành µeq L -1?

Tải bản đầy đủ - 0trang

Eq

mass



22.99



39.10



12.15



20.04



35.45



62.01



48.04



18.05



µeq L-1



63.94



39.13



23.86



127.74



11.00



32.41



7.91



6.65



Tính tốn tính dẫn điện, Kc, bằng cách nhân nồng độ trong µeq L-1 với các hệ số

thích hợp trong Bảng 2.5:

Kc = ∑( λi * Ci) = (63.94*0.05) + (39.13*0.074) + (23.86*0.053) + (127.74*0.06)

+ (11.00*0.067) + (32.41*0.071) + (7.91*0.08) + (6.65*0.074)

=19.18 µmho cm-1

So với giá trị đo được, chúng ta có thể tính tốn sự khác biệt độ dẫn điện trong

% như:

%CD = 100(Kc – Km)/Km = 100*(19.18 – 17.2)/17.2 = 11.5%

Các tiêu chuẩnEPAMỹ (xemBảng 2.6) quy định rằng nếu% CDlà> ±30%

chomẫuđãđođộ dẫntrong khoảng5-30µmhocm,chúng phải đượctái phân tích. Kể từ

đó,cho các mẫutrongví dụ này,%CD=11.5%, Chúng ta có thểkết luận rằng cósự

phù hợp giữađovàđộ dẫntính tốn vàkết quả có thểđược chấp nhận làhợp lệ.



2.4. pH, độ dẫn và các anion chính.

2.4.1 Phương pháp.

Độ pH và độ dẫn được xác định ngay trên các mẫu ướt bằng cách sử dụng

phương pháp điện hóa.Các ion chính có thể được xác định trong các mẫu được

lưu giữ.Trong thí nghiệm này, nồng clorua, nitrat và sulfat được xác định bằng

sắc ký ion(IC) tại cùng một thời điểm là độ pH và độ dẫn. Các mẫu được bảo

quản ở 4oC trong tủ lạnh để phân tích cation tiếp theo bằng phép đo phổ hấp thụ

nguyên tử (AAS)



2.4.2 Chuẩn bị dụng cụ.

2.4.2.1 Dụng cụ đựng mẫu.

Chai nhựa Polypropylene ( kích thước từ 150 mL và 1L)

2.4.2.2 Tiến hành thí nghiệm

Lấy một số chai nhựa (150-1000 mL), ghi nhãn và cân khối lượng nó bằng

cân điện tử. Ghi lại khối lượng của chai nhựa rỗng. Trước khi lấy mẫu nước

mưacần phải làm sạchcác chai lấy mẫu. Lấy một số chai nhựa 150 mL đã cân trước

và rửa nhiều lần bằng nước cất. Sau đó đổ đầy nước cất vào các chai đó và đậy nắp

chặt lại, dùng làm mẫu trắng để phân tích. Lưu giữ chúng trong phòng thí nghiệm

giống như các mẫu thí nghiệm.Kết quả phân tích các mẫu trắng đó có thể cho biết

phần nào về cách bạn quản lý mẫu trắng đó, nếu có sự nhiễm bẩn, nhiễm hóa chất

xảy ra, nghĩa là bạn đã bảo quản nó rất cẩu thả.





Mặc dù chai được làm sạch bằng một số hóa chất như axit cromic hoặc

DECON 90 nhưng phải rất cẩn thận vì tránh bị nhiễm chính các hóa chất này vào

mẫu thí nghiệm. Chỉ cần bị nhiễm hóa chất khác với một lượng vết cũng đủ để làm

sai kết quả phân tích.

2.4.3 Lấy mẫu.

2.4.3.1 Dụng cụ lấy mẫu:







Phễu nhựa (đường kính 15-25 cm) và chai, hoặc xơ nhựa.

Bình chưng cất và kẹp.



2.4.3.2 Tiến hành thí nghiệm:

Mục tiêu chính là để có được mộtmẫu đại diện và để tránh bất kỳ sự nhiễm

hóa chất khác cho mẫu. Tìm vị trí lấy mẫu thích hợp: các mẫu phải được lấy ở khu

vực thoáng, ở trên hay ở gần chỗ lấy mẫu khơng được có vật cản trở mưa rơi và

chất gây ô nhiễm cho mẫu (tức là không đặt mẫu dưới, hoặc gần cây, gần các tòa

nhà cao, bên cạnh bức tường, vv…). Địa điểm tốt cho việc đặt lấy mẫu là trên

nóc tòa nhà mái bằng hoặc những nơi quang đãng như cánh đồng.

Trong thanh toán bù trừ như một lĩnh vực. Nên đặt điểm lấy mẫu trên mặt đất

khoảng 1 m.Lấy chai nhựa đựng mẫu khoảng 150-1000 mL, trút hết nước ra và lắc



nóđể loại bỏ những giọt nước còn sót lại. Đặt một phễu nhựa vào miệng chai rồi để

nó vào vị trí lấy mẫu đã chọn trước. Có thể phải sử dụng đến bình chưng cất và

kẹp, hoặc một số phương pháp khác để giữ chai và phễu không bị đổ theo gió. Nếu

khơng có phễu, có thể dùng xơ để hứng mẫu, sau đó chuyển mẫu vào chai

nhựa.Phải ghi chú chính xác ngày và giờ lấy mẫu ở đó cũng như ngày và giờ di

chuyển mẫu vào chai nhựa. Tốt nhất, bạn nên đặt dụng cụ lấy mẫu trước khi mưa

và mang nó vào trong nhà ngay sau khi hết mưa, nhưng khơng phải lúc nào cũng

làm được điều đó.Trong những trận mưa to, chai nhựa lấy mẫu có thể đầy rất

nhanh. Trong trường hợp đó, khơng được để nước mưa tràn ra ngồi mà phải thay

chai khác,lúc đó phải ghi lại chính xác thời gian lấy mẫu của mỗi chai.Trong cơn

mưa phùn nhẹ, bạn có thể phải lấy mẫu trong nhiều đợt mưa để lấy đủ khối lượng

mẫu phân tích (ít nhất là 100 mL). Nhớ phải ghi chú vị trí và thời gian lấy mẫu

cũng như bất kì đặc điểm nào giúp bạn giải thích cho kết quả phân tích mẫu (ví dụ

như xem xét đặc điểm các yếu tố khí tượng trong thời gian lấy mẫu dựa vào các bài

báo ở địa phương hay trên truyền hình; quan sát hình ảnh của các vụ cháy rừng gần

đó, nguồn gây ơ nhiễm bất kỳ ở gần đó; sự hiện diện của côn trùng hoặc phân chim

trong mẫu, sự hiện diện của các hạt bụi trong mẫu, vv…). Bạn có thể sử dụng các

chai lấy mẫu lớn hơn (1 hoặc 2L) và tăng thời gian lấy mẫu lên (1 ngày, 1 tuần,

vv…) nếu bạn đang thực hiện các cuộc khảo sát sự lắng đọng lâu dài chứ không

phải là nghiên cứu từng đợt mưa riêng lẻ. Nếu bạn đang sử dụng dụng cụ chuyên

dụng tự động để thu mẫu nước mưa thì phải tìm hiểu cách sử dụng nó cho đúng.

Tốt nhất, bạn nên mang ngay các mẫu thu thập được vào phòng thí nghiệm

để phân tích độ pH và độ dẫn điện. Nếu điều này là không thể, phải để chai lấy

mẫu trong tủ lạnh của bạn cho đến khi bạn có thể mang nó đến phòng thí

nghiệm (dùng mẫu giữ trong tủ lạnh sử dụng cho thực phẩm là không tốt nếu bạn

đang thực hiện một dự án nghiên cứu chất gây ô nhiễm hữu cơ trong nước

mưa). Phải đảm bảo các mẫu của bạn được dán nhãn một cách rõ ràng mà không bị

nhầm lẫn với các mẫu của các bạn khác.

Trước khi thực hiện bất kỳ phân tích nào, phải cân những chai mẫu nước

mưa bằng cân điện tử. Từ sự chênh lệch khối lượng giữa chai có nước mưa và chai

rỗng sẽ tính tốn được khối lượng mẫu nước mưa.

2.4.4. Độ dẫn điện.



2.4.4.1. Hóa chất và dụng cụ.

Máy đo độ dẫn điện

Potassium chloride









2.4.4.2. Quy trình thí nghiệm.

Chuẩn bị một giải pháp chuẩn để hiệu chuẩn máy đo độ dẫn điện như sau:







Cân chính xác 5.1 g KCl và pha với 1L nước tinh khiết trong bình định mức

thể tích 1L.

Pha 10mL dung dịch này với 1L nước tinh khiết trong bình định mức 1L.

Đây là tiêu chuẩn làm việc của bạn trong đó có độ dẫn điện 100µmho cm-1.



Đọc sách hướng dẫn về máy đo độ dẫn điện và biết được sự hoạt động của thiết bị.

Sử dụng máy đo độ dẫn điện và tiến hành đo lường như sau:













Đặt dung dịch chuẩn làm việc KCl trong một cái beacher nhỏ

Đặt tế bào dẫn điện vào trong dung dịch sao cho đầu dẫn điện cách đáy

beaker xấp xỉ khoảng 1.5 cm và đảm bảo rằng nó khơng được chạm vào

xung quanh cốc

Điều chỉnh độ dẫn điện đến 100pmhocm-1

Rửa sạch đầu dẫn với nước tinh khiết và thực hiện đo các mẫu theo cùng

một cách như trên



Bạn không cần phải điều chỉnh đồng hồ giữa các mẫu nhưng bạn phải rửa sạch đầu

dẫn mỗi lần đọc.Và thực hiện tương tự với mẫu trắng. Những mẫu này có độ dẫn

khơng cao hơn nước tinh khiết. Ln luôn đo độ dẫn trước khi đo độ pH. Sự rò rĩ

điện từ điện cực pH cóa thể là gây ra sự thay đổi đáng kể đối với độ dẫn điện của

độ tinh khiết cao, độ dẫn điện thấp và mẫu. Bảo quản điện cực bằng cách ngâm

chúng vào trong nước của phòng thí nghiệm

2.4.5. pH.

2.4.5.1. Hóa chất và dụng cụ.





Dung dịch đệm , pH 4 và 7.



Máy đo pH , tốt nhất là với sự kết hợp điện cực pH và theo dõi nhiệt độ

bên ngoài.

Máy khuấy từ và thanh khuấy.









2.4.5.2. Quy trình thí nghiệm.

Tốt nhất là nên đo độ pH ngay lập tức sau khi lấy mẫu, nhưng điều này có lẽ

khó thực hiện trong thực tế. Sử dụng máy đo pH và điện cực như sau:









Đầu tiên hiệu chỉnh điện cực pH kết hợp với đồng hồ sử dụng một

trong hai điểm hiệu chuẩn vơi dung dịch đệm với pH 7 và 4. Một kĩ sư

hoặc một kĩ thuật viên sẽ hướng dẫn cho bạn cách điều chỉnh máy đo

pH, nếu khơng có thể theo sự chỉ dẫn của sách. Sau khi điều chỉnh,

ngâm điện cực pH vào trong mẫu nước mưa và bắt đầu đo lường

Ngoài ra, bạncó thể đặt một khuấytừ thanh trong dung dịch và khuấy

đều trong15 giây trên một máy khuấy từ. Sau khi biến khuấy tắt, cho

phép độ pH ổn định (khoảng2 phút) trước khi đọc.



Bạn có thể chú ý rằng trong một số dung dịch giá trị pH bị lệch. Trong trường

hợp này, cho phép người đọc ổn định trước khi ghi giá trị pH, nếu đọc không ổn

định và hiệu suất điện cực đạt yêu câu , ghi lại giá trị pH đạt được sau 5 phút và

báo cáo điều này. Độ lệch có thể là do sự thay đổi hóa học xảy ra trong mẫu và

k hơng do lỗi của điện cực. Bạn có thể đo hiệu suất của điện cực bằng cách đo

pH của dung dịch axit loãng (vd như HCl hoặc H2SO4) tại pH bằng 4 , ghi

nhận pH và thời gian phản ứng ( Giá trị pH lấy 2 số thập phân). Rửa điện cực

với nước trong phòng thí nghiệm và lau khơ giữa mỗi lần đọc.Khi đọc, đặt điện

cực vào dung dịch kiểm tra, đảm bảo rằng nó khơng chạm vào thành của

beaker.Khi khơng sử dụng, đặt điện cực trong nước của phòng thí nghiệm hoặc

dung dịch đệm. Điện cực mới nên được làm sạch bằng dung dịch axit

yếu(0.01M) và giữ trong dung dịch đệm pH bằng 4 . Nếu điện cực đáp ứng

chậm, làm mới nó bằng các hướng dẫn trong phụ lục 11

2.4.6 Các Anion chính (Chloride, Nitrate, Sulfate).

2.4.6.1. Hóa chất và dụng cụ.

- Ion sắc ký (ví dụ: như Shimadzu) được trang bị có độ dẫn.

- Anion tách cột (vídụ: Shim-gói IC-Al).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chuyển đổi các nồng độ dưới đây thành µeq L -1?

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×