Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phổ Doppler ĐMTC: bình thường có trở kháng thấp, với phức hợp tâm trương cao, ít nhất cao hơn 40% so với phức hợp tâm thu. Đo chỉ số kháng của ĐMTC cho phép sàng lọc phát hiện sớm những trường hợp thai phụ có nguy cơ cao huyết áp và suy tuần hoàn bánh rau

Phổ Doppler ĐMTC: bình thường có trở kháng thấp, với phức hợp tâm trương cao, ít nhất cao hơn 40% so với phức hợp tâm thu. Đo chỉ số kháng của ĐMTC cho phép sàng lọc phát hiện sớm những trường hợp thai phụ có nguy cơ cao huyết áp và suy tuần hoàn bánh rau

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



Phổ Doppler ĐMTC bất thường: khi ở tuổi thai sau 26 tuần có

khuyết tiền tâm trương (Notch) hoặc có giảm tốc độ dòng tâm trương biểu

hiện tăng chỉ số kháng RI cao trên giá trị đường BPV thứ 95, rối loạn này rõ

nét hơn ở ĐMTC cùng bên với vị trí bánh rau bám.

Giá trị Doppler ĐMTC: thăm dò Doppler ĐMTC trong quý 1 và 2 của

thai kỳ phát hiện những trượng hợp bệnh lý và có thể dự đốn thai CPTTTC

với độ nhạy là 15,4%, độ đặc hiệu cao 93,3%. Sàng lọc này có giá trị hơn ở

thai CPTTTC sớm với độ nhạy 39,2% và độ đặc hiệu 93,1%. Như vậy

Doppler ĐMTC giá trị chẩn đốn âm tính rất cao và giá trị chẩn đốn dương

tính cao hơn ở những trường hợp thai có nguy cơ cao [92].

Chỉ số kháng của ĐMTC: bình thường RI < 0,58, được coi là bất

thường khi chỉ số này trên 0,7 hoặc có dấu hiệu khuyết tiền tâm trương

(Notch). Theo nhiều tác giả khi phối hợp ba kết quả thăm dò Doppler động

mạch tử cung RI, PI, tỷ lệ S/D có giá trị đánh giá nguy cơ thai. Cụ thể nếu 2

trên 3 chỉ số bất thường thì có giá trị chẩn đốn nguy cơ thai CPTTTC với giá

trị tiên đốn dương tính 40%. Thay đổi bất thường về Doppler ĐMTC càng

sớm thì chẩn đốn nguy cơ thai chậm phát triển có độ nhạy càng cao. Cụ thể

Doppler này bất thường ở tuổi thai 24 tuần thì chẩn đốn có độ nhạy 76%, độ

đặc hiệu 95% còn ở tuổi thai 32 tuần thì chẩn đốn có độ nhạy thấp hơn 70%

và độ đặc hiệu cao 97%.

Colenman và cộng sự thấy có liên quan mật thiết giữa chỉ số kháng và dấu

hiệu khuyết tiền tâm trương ĐMTC với nguy cơ xuất hiện và mức độ thai

CPTTTC cụ thể: nếu chỉ số kháng ĐMTC trên 0,7 kết hợp với dấu hiệu khuyết

tiền tâm trương thì thai CPTTTC nặng; Chỉ số kháng trên 0,58 kết hợp với

khuyết tiền tâm trương ĐMTC cả hai bên thì nguy cơ xuất hiện thai CPTTTC

tăng gấp 11,1 lần; Nếu chỉ số kháng trên 0,7 kèm theo khuyết tiền tâm trương thì

thai sẽ có nguy cơ CPTTTC gấp 12,7 lần, còn nhóm thai phụ có chỉ số kháng

nhỏ hơn 0,58 thì nguy cơ thai chậm phát triển thấp chỉ là 5% [91].



32



1.6.3.5. Doppler động mạch chủ

Giống như Doppler OTM, Doppler ĐMC phản ánh trở kháng của bánh

rau và trở kháng của tuần hoàn ngoại biên. Doppler ĐMC liên quan chặt chẽ

với tình trạng nhiễm toan máu của thai và thai có nguy cơ CPTTTC nếu

Doppler ĐMC bất thường.

Thăm dò Doppler ĐMC kỹ thuật khó vì đòi hỏi góc đo phải nhỏ hơn 30

độ, nên Doppler ĐMC ít được ứng dụng trên lâm sàng [73].

1.6.4. Doppler ống tĩnh mạch

1.6.4.1. Phổ Doppler OTM

Doppler OTM dạng sóng xung gồm ba đỉnh: S, D và a

Sinh lý các sóng OTM:

- Sóng S: đại diện cho tâm thất co, phản ánh áp lực buồng tâm thất.

Hình thái của sóng S giống hình cao ngun, đỉnh tròn phẳng. Tất cả các bệnh

tim hoặc bệnh liên quan đến tuần hoàn ngoài tim đều tác động làm thay đổi áp

lực tuần hồn thời kỳ tâm thu vì vậy gây ra những thay đổi về hình thái của

sóng S và phổ Doppler OTM.

- Sóng D: sóng tâm trương, tương ứng với giai đoạn tâm trương mở

van nhĩ thất, máu chảy thụ động về tâm thất phải. Ở thời điểm này áp lực

trong tâm thất phải giảm do máu trong tâm thất phải đã giảm sau thời kỳ tâm

thu và do tâm thất giãn rộng cùng van nhĩ thất mở. Sự chênh lệch áp xuất này

khiến dòng máu chảy thụ động từ OTM vào tim.

- Sóng a: tương ứng với giai đoạn cuối thì tâm trương, đầu tâm thu

của tim, giai đoạn co bóp của tâm nhĩ tống máu xuống tâm thất phải. Sóng

a dương, cường độ thấp hơn nhiều so với sóng S, D, phản ánh hiệu quả hoạt

động của tim.

Bất thường sóng a: sóng a giảm hay mất đi thậm chí đảo ngược chứng

tỏ sự suy giảm về sức bóp cơ tim và van tim, tim khơng đủ lực tống máu để

tạo ra sự chênh lệch về áp xuất. Tuy nhiên, sinh lý ở quý I khi thai còn nhỏ

thì sóng a có thể bằng 0 hoặc đảo ngược [50],[93],[94].



33



Hình 1.6: Các sóng của Doppler OTM. Trích nguồn: [95]

1.6.4.2. Phân tích Doppler OTM

Phân tích định tính hình dạng sóng:

* Dạng sóng Doppler OTM ở thai nhi bình thường, dạng sóng xung

gồm ba đỉnh là S, D, a với dòng chảy dương, xi chiều trong tồn bộ chu kỳ

tim, khơng giống như TMC dưới.

Bình thường ở giai đoạn đầu của thai kỳ, sóng a có thể bằng 0 hoặc đảo

ngược [50], [96]. Nhưng với thai trên 11 tuần, sóng a bằng 0 hoặc đảo ngược

được coi là bất thường, bệnh lý. Ở quý 2 và 3 thai kỳ, dòng chảy trong tâm

nhĩ ln ln thay đổi, sóng a ln ln dương, có vận tốc thấp nhất và cao

hơn khoảng 3 đến 4 lần vận tốc trong TMR.

Bất thường: ở nửa sau thai kỳ, sóng a âm trong trường hợp: thai bị thiếu

oxy, hội chứng truyền máu, mẹ suy tim, tăng huyết áp, tiền sản giật, tăng tiền

gánh làm dãn cơ tim. Do đó, trên thực hành lâm sàng, để áp dụng được dễ dàng

Doppler OTM thì sóng a có thể đánh giá một cách định tính: phân ra ba loại:

sóng a dương, bằng 0 hay đảo ngược (âm) [97].

* Phân tích định lượng về Doppler OTM

Số đo sinh lý phổ Doppler OTM

- Vận tốc đỉnh trung bình của OTM tăng từ 65cm/s lúc 18 tuần, lên tới

75cm/s lúc đủ tháng [98].



34



- Các chỉ số: S/a, (S-a)/S được phát triển dựa trên vận tốc đỉnh trong

thời kỳ tâm thu và trong thời kỳ nhĩ co. Các chỉ số này thay đổi theo tuổi thai

và phản ảnh đúng tình trạng tiền gánh của tâm thất phải [51].

- Vận tốc trung bình (Vm) (Time averaged mean velocity) tính theo giá

trị trung bình về thời gian có tốc độ trung bình dòng máu các chỉ số này giảm

theo tuổi thai.

- Thời gian trung bình có tốc độ tối đa (TAMX) (Time Averaged

Maximum Velocity): giảm theo tuổi thai.

- Chỉ số xung tĩnh mạch (PIV) (Pulsatility Index for Veins).

PIV = S-a/TAMX

- Chỉ số kháng RI: (S-a)/S

- Chỉ số tâm thu / tâm trương: S/D.

- Chỉ số OTM (DVI)

Chỉ số OTM= S-a/D

- Chỉ số tưới máu (PFI) (Perfusion index)

PFI = TAMX/S

- Vận tốc dòng máu tương ứng đỉnh tâm thu (S): 0,33 ± 0,11 mét / giây

- Vận tốc trung bình V: 0,24 ± 0,09 mét/ giây.

- Vận tốc tối đa trong thời gian co tâm nhĩ (a): 0,15 ± 0,09 mét/ giây

- Tỉ lệ tâm thu/ tâm trương (S/D): 2,5 ± 0,01.

- Chỉ số xung PI: 0,67 ± 0,21.

- Chỉ số trở kháng RI: 0,64 ± 0,11

Bất thường Doppler OTM:

- Khi sóng D thấp hơn nhiều so với sóng S chứng tỏ sức đàn hồi của tim

giảm, biểu hiện có chênh lệch về áp suất trong tim với tuần hồn ngoại vi.

- Sóng a giảm hoặc mất, giá trị âm chứng tỏ giảm áp lực tâm nhĩ, lượng

máu về tâm nhĩ phải khơng có, khơng nhiều và khơng liên tục. Sóng a đảo

ngược thường kèm theo thay đổi tốc độ và chênh nhiều giữa sóng S và sóng D,

mất cân bằng dòng chảy giữa dòng tâm thu và dòng tâm trương.

- Tăng chỉ số xung IP chủ yếu sẽ ảnh hưởng đến dòng chảy trong thời



35



kỳ tâm nhĩ co, do sóng a thay đổi giảm xuống bằng 0 hoặc đảo ngược [98].

1.6.4.3. Những yếu tố liên quan và ảnh hưởng đến thăm dò Doppler OTM

- Sự co giãn của OTM có liên quan đến tốc độ dòng máu.

- Vị trí thăm dò: đường vào, ở giữa OTM và đường ra, tuy nhiên sự

khác biệt không nhiều.

- Tác động của các yếu tố: thần kinh, thuốc co giãn.

- Thai thiếu oxy làm giãn OTM nên liên quan đến khẩu kính của ống.

- Hoạt động của tim thai làm thay đổi áp xuất tim thai và mạch máu

ngoại vi.

- Các chất alpha andrenergic (gây co mạch) và beta andrenergic (làm

giãn mạch) có tác dụng làm thay đổi khẩu kính của các OTM, vì vậy ảnh

hưởng đến dòng máu qua OTM. Tuy nhiên, tác giả Kiserud và tác giả

Adeagbo không nghĩ đến tác động của andrenergic mà cho rằng bản chất

OTM thường co lại nhưng dưới tác động của nitric oxide và prostaglandine

làm giãn ra [96].

- Độ nhớt của máu: phụ thuộc vào tính chất của huyết thanh và nồng

độ hồng cầu trong máu. Máu có dung tích hồng cầu tăng (hematocrit cao) thì

tốc độ máu chảy qua OTM càng cao.

- Sợi cơ trơn của OTM rất nhạy cảm với những thay đổi nồng độ oxy

và độ nhớt của máu. OTM có thể tăng 60% đường kính đầu vào và giãn nở

toàn bộ ống và tạo ra một dạng sóng đặc trưng của dòng máu khi qua OTM

[95]. Thực tế lâm sàng khi thai thiếu O2 thì đường kính toàn bộ của OTM tăng

lên khoảng 60% nên lượng máu cung cấp cho thai cũng tăng lên [99].

- Sự chênh lệch áp suất giữa TMR và của tĩnh mạch chủ dưới càng

nhiều thì càng tăng tốc độ dòng máu qua OTM và qua gan [100], [101]. Tuy

nhiên, ở áp suất TMR từ 1 - 4 mmHg thì dòng máu qua OTM sẽ được ưu tiên

tăng cao hơn so với tốc độ dòng máu vào gan. Hiện tượng ưu tiên tốc độ tuần

hoàn vào OTM cũng xảy ra khi độ nhớt của máu tăng [67], [102].

1.6.4.4 Các nghiên cứu về Doppler OTM trên thai thường và thai CPTTTC

*Nghiên cứu về các sóng và chỉ số liên quan: đánh giá dạng sóng



36



Doppler OTM đã được các tác giả nghiên cứu hơn 20 năm và các nghiên cứu

đều tập trung phân tích mơ tả hình ảnh, dạng sóng của phổ Doppler OTM thời

kỳ tâm nhĩ thu là sóng a và tỷ lệ khi sóng a kết hợp với sóng S, D, tốc độ

trung bình và tỷ lệ S / D đều thấy rằng đây là các chỉ số của Doppler OTM

không phụ thuộc vào tuổi thai [102]. Năm 2014, Turan và cộng sự đã tiến

hành nghiên cứu phổ Doppler OTM trên 902 trường hợp đơn thai có cấu trúc

hình thái học bình thường ở tuổi thai từ 11 đến 38 tuần. Đo các chỉ số Doppler

thai: chỉ số xung của OTM, tính tỷ lệ giữa các vận tốc sóng (S / v, S / D, v / D,

S / a, v / a và D / a, và tính theo phương trình hồi quy, xác định độ lệch trung

bình và độ lệch chuẩn theo mỗi tuần tuổi thai). Kết quả cho thấy tốc độ các

sóng S, D tăng tỷ lệ thuận với tuổi thai nên các tỷ lệ S / v, S / D và v / D cũng

tăng dần. Dòng chảy trong tâm nhĩ thay đổi tăng theo tuổi thai do đó chỉ số S /

a, D / a, v / a sẽ giảm dần. Tuổi thai từ 17 đến 18 tuần, có sự giảm đáng kể giá

trị và độ lệch chuẩn của chỉ số xung PI và tỷ lệ S / a, v / a và D/ a. Do đó, kết

quả đo các sóng Doppler OTM được chia ra theo 2 khoảng tuổi thai riêng biệt:

khoảng 1 từ thai 11 đến 17 tuần; khoảng 2 từ 18 đến 38 tuần. Các bất thường

vận tốc và các tỷ lệ các sóng của OTM có giá trị dự báo những bất thường về

tim mạch thai [46], [103].

Kessler nghiên cứu sinh lý Doppler OTM trên 160 trường hợp thai bình

thường, tuổi thai từ 21 cho tới 39 tuần với tổng 547 lần đo, trung bình mỗi

thai nhi được siêu âm đánh giá 5 đến 6 lần. Kết quả vận tốc các sóng Doppler

OTM : tốc độ tối đa trung bình theo thời gian (TAMX) là 50 cm/s ở thai 21

tuần, tăng lên 60 cm/s ở tuần 32 và giữ nguyên cho đến khi thai đủ tháng.

Tương tự, vận tốc tâm thu (S) tăng từ 59 cm /giây ở tuần 21 lên 71 cm / giây

ở tuần 31 và ổn định cho đến hết thai kỳ. Vận tốc cuối tâm trương (D) tăng

liên tục từ 31 cm / giây ở 21 tuần đến 43cm/ giây ở tuần 40. Chỉ số xung PI

giảm từ 0,57 ở 21 tuần xuống còn 0,44 ở tuần thứ 40 [104].

Năm 2017, Nguyễn Thị Hồng và Lê Hoàng, nghiên cứu về đặc điểm phổ

Doppler OTM ở 460 thai nhi Việt Nam, tuổi thai từ 22 đến 37 tuần, kết quả cho



37



thấy vận tốc sóng S của phổ Doppler OTM tăng dần theo tuổi thai và có mối

tương quan chặt chẽ với tuổi thai theo hàm số bậc 2: Y = 1,996 x- 0,22x 2 +0,83

với hệ số tương quan R là 0,83. Từ cơng thức này tác giả đã tính ra các giá trị

sinh lý theo và lập đường BPV số 5, 50, 90, 95 theo tuổi thai [95]. Để đánh giá

chỉ số xung của Doppler OTM ở thai nhi bình thường, tác giả Nguyễn Thị Hồng

cũng đã tiến hành nghiên cứu trên 330 thai bình thường, kết quả cho thấy chỉ số

xung PI của Doppler OTM thay đổi giảm dần theo tuổi thai và có mối tương

quan với tuổi thai theo phương trình bậc 3: Y= 0,053x – 3,033E- 5x3 [105].

Bahlmanm và cộng sự khi nghiên cứu phổ sóng Doppler OTM trên 696

phụ nữ mang thai cũng thấy có tăng đáng kể vận tốc sóng S từ 48 cm / s lên

65,8 cm / s từ thai 14 đến 41 tuần. Như vậy, tăng vận tốc cuối thì tâm trương

(sóng D) 35,5cm/s đến 50,7cm/s và tăng tốc độ thì nhĩ co (sóng a) từ 11,2

cm/s đến 35 cm/s, cũng như vận tốc trung bình từ 30 cm/s đến 48,3 cm/s.

Đồng thời, một số chỉ số giảm đáng kể khi tuổi thai tăng lên như chỉ số kháng

RI [(S-a) / S] từ 0,77 đến 0,47, chỉ số xung [(S -a) /TAMMS] từ 1,21 đến

0,67, chỉ số OTM [(S-a) / D] từ 0,89 đến 0,54, S/a thay đổi từ 4,5 đến 1,99, tỉ

số a / S tăng đáng kể từ 0,23 đến 0,53. Tỉ số S / D không thay đổi và khơng

phụ thuộc vào tuổi thai [106].

Theo các tác giả, có nhiều cách để đánh giá lưu lượng tuần hoàn máu

trong OTM và có thể dùng các chỉ số khác nhau như chỉ số xung cho tĩnh mạch

PIV [(S-a)/TAMX] [106], [107]; chỉ số OTM (DIV) được xác định là [(S-a)/ D]

hoặc chỉ số kháng RI [(S-a)/S] [94] và chỉ số dòng chảy PFI (TAMX /S) [104],

[107].

* Nghiên cứu giá trị của Doppler OTM

Chẩn đoán thai bất thường: các bất thường phổ Doppler OTM bao gồm

giảm hoặc mất sóng a, sóng a đảo ngược, tăng chỉ số xung, tăng tỷ lệ S/a và bất

thường vận tốc, chênh nhiều giữa tốc độ sóng S và D sẽ liên quan đến một số

bệnh lý:



38



Với tuổi Thai ≤ 18 tuần:

- Lệch bội NST: khoảng 80% trường hợp Down có bất thường dạng sóng

Doppler OTM, nguy cơ sảy thai tăng.

- Dị tật tim bẩm sinh: dị tật động mạch phổi, tim mạch, dãn tĩnh mạch Galen.

- U quái vùng cùng cụt.

- Hội chứng truyền máu trong song thai cùng trứng một bánh rau, hai

buồng ối, bất thường Doppler OTM ở thai nhận máu.

- Thai phụ đái đường có tăng chỉ số xung PI.

- Thai CPTTTC: bất thường OTM có giá trị dự báo nguy cơ tử vong thai,

sơ sinh và biến chứng chu sinh.

Tuổi thai > 18 tuần:

- Về giá trị của Doppler OTM các tác giả đều thống nhất với những

thai sau 18 tuần (quý II thai kỳ trở đi), Doppler OTM có giá trị tiên

đoán các bất thường thai.

- Chỉ số Doppler OTM, thường dùng là chỉ số xung PI càng tăng thì

tiên lượng thai nguy cơ càng không tốt.

- Thời gian cân bằng thể tích nghĩa là sóng S và sóng D lệch nhau

càng nhiều thì nguy cơ thai càng cao.

- Sóng a là sóng tương ứng thời kỳ nhĩ thu nếu giảm hoặc mất hay đảo

ngược tiên lượng thai càng nặng [108], [109], [110].



39



Hình 1.7: Phổ Doppler OTM bất thường với sóng a âm [95]

* Các nghiên cứu về giá trị phổ Doppler OTM trên thai CPTTTC

Hecher và cộng sự nghiên cứu Doppler tĩnh mạch ở thai chậm phát

triển trong tử cung thấy rất có giá trị trong tiên lượng tình trạng sơ sinh.

Nếu phổ Doppler OTM bình thường thì chứng tỏ thai vẫn có khả năng bù

trừ, điều chỉnh tuần hồn đến khi xuất hiện dòng chảy bất thường của

Doppler OTM như sóng a mất hoặc đảo ngược thì thai đã bị suy và mất bù

và có rối loạn huyết động trầm trọng, thai có nguy cơ chết lưu và kết quả sơ

sinh sẽ rất xấu [110].

Trong một nghiên cứu khác khi so sánh giá trị chẩn đoán suy thai giữa

thăm dò Doppler hệ động mạch thai với Doppler OTM trên 108 trường hợp

thai nghén có nguy cơ cao ở tuổi thai sau 23 tuần, Hecher và cộng sự thấy

Doppler các kết quả Doppler OTM có thể có giá trị hơn trong thời điểm cuối

và đầu quý 3 thai kỳ [111].

Các nghiên cứu về thai CPTTTC đã chứng minh trong TMC dưới nếu có

dòng chảy ngược lại khi tâm nhĩ thu thì sẽ có hiện tượng rối loạn, giảm chức

năng của tim thai vì có sự chênh áp lực giữa tim và hệ thống tĩnh mạch trung

tâm, tâm nhĩ phải có áp lực cao hơn. Tiếp theo dãn và đảo ngược bất thường

vận tốc dòng máu trong TMC dưới dẫn đến dãn và giảm tốc độ sóng a của

OTM, làm tăng tỷ số S/a [111]. Tăng chỉ số xung Doppler OTM hay gặp hơn

và xuất hiện sớm hơn bất thường phổ Doppler TMR [113]. Sự xuất hiện của

các rối loạn đi kèm với bất thường nhịp tim và liên quan đến toan máu của thai

nhi. Ở giai đoạn này, có thể quan sát thấy tốc độ tuần hoàn mạch vành cao hơn

bình thường và nếu thai nhi khơng được lấy ra, thì nguy cơ thai chết trong tử

cung có thể xảy ra trong vòng vài ngày [114]. Trong một nhóm 37 thai có bất

thường phổ Doppler ĐMR, mất phức hợp dòng tâm trương thì yếu tố quyết

định khoảng thời gian từ khi xuất hiện rối loạn cho tới khi mất dòng tâm trương

là tuổi thai. Thai càng non tháng thì khoảng cách này càng ngắn, đặc biệt ở



40



nhóm bệnh nhân tiền sản giật. Bất thường Doppler ĐMR trên bệnh nhân tiền

sản giật thì nguy cơ tử vong sơ sinh là 63% trong khi tỷ lệ này chỉ là 19% ở

nhóm tiền sản giật khơng có bất thường phổ Doppler ĐMR [115].

Ở thai bình thường, lượng máu TMR đi qua OTM về tim chiếm khoảng

40% còn với thai CPTTTC tỷ lệ này tăng lên khoảng 60%, thậm chí 75% [112].

Mức độ toan máu của thai có thể tiên lượng được từ các kết quả thăm

dò Doppler trong cả hệ thống động mạch và OTM. Ở một nghiên cứu trên 23

trường hợp tiền sản giật nặng và so sánh giữa kết quả thăm dò Doppler và pH

máu động mạch rốn, Hecher [115] thấy với mức độ toan máu (pH giữa (-2SD)

và (-4 SD) so với sinh lý theo tuổi thai) thì hầu hết các thai đều có PI Doppler

ĐMNG ở dưới 2 độ lệch chuẩn còn PI của Doppler OTM phân bố rộng với

phần lớn các kết quả vẫn nằm trong phạm vi tham chiếu. Với tình trạng càng

thiếu oxy càng gia tăng thì càng toan máu. Trong trường hợp nặng nhất, lưu

lượng tuần hồn khi tâm nhĩ phải co có thể giảm xuống bằng 0 như vậy sóng

a sẽ mất hoặc thậm chí âm.

Khi nghiên cứu điều tra mối liên quan giữa kết quả siêu âm Doppler các

động mạch và tĩnh mạch thai với tình trạng sơ sinh ở những trường hợp thai

CPTTTC nặng, Ozcan và cộng sự thấy bất thường Doppler OTM là chỉ số duy

nhất liên quan đến tử vong chu sinh và có điểm Apgar thấp ở thời điểm phút thứ

5 sau sinh [110].

Baschat và cộng sự nghiên cứu tiến cứu theo dõi 121 thai CPTTTC, kết

quả cho thấy thai sẽ có biến chứng chu sinh nghiêm trọng khi trong vòng 24

giờ trước khi sinh chỉ số xung của Doppler OTM tăng cao hơn giá trị đường

BPV thứ 95 so với tuổi thai [117].

Với mục đích tìm mối liên quan giữa các bất thường Doppler ĐMR,

ĐMNG và OTM trên thai CPTTTC với nguy cơ mắc bệnh và tử vong sơ

sinh, từ tháng 1 năm 2000 đến hết năm 2006 Baschat và cộng sự đã tiến

hành một nghiên cứu đa trung tâm 604 trường hợp với tuổi thai dưới 34



41



tuần. Kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng sơ sinh lên đến 35,9%, cụ thể loạn

sản phế quản phổi ở 23,2%, xuất huyết não 15,2%, viêm ruột hoại tử 12,4%.

Tỷ lệ tử vong là 21,5% và 58,3% trẻ sống mà khơng có biến chứng. (Tuổi

mang thai, cân nặng thai, bất thường tốc độ sóng a của Doppler OTM cụ thể

sóng a mất hoặc âm (≤ 0 là yếu tố quan trọng nhất quyết định kết quả thai

nghén và dự báo nguy cơ suy thai, biến chứng, tử vong sơ sinh [118].

Tương tự, Schwarz cùng cộng sự nghiên cứu giá trị siêu âm Doppler

OTM trên 74 trường hợp thai CPTTTC, tuổi thai từ 24 đến 34 tuần có bất

thường Doppler ĐMR cụ thể là mất hoặc đảo ngược dòng tâm trương. Kết quả

có 12/74 (16,2%) tử vong chu sinh, trong đó có 8 trường hợp thai chết lưu

(10,8%), và 2 (2,7%) tử vong sơ sinh. Tác giả thấy rằng các bất thường phổ

Doppler OTM có giá trị tiên lượng suy thai, dự báo nguy cơ thai lưu và đặc biệt

bất thường Doppler OTM cùng với tuổi thai tại thời điểm kết thúc thai nghén là

hai yếu tố liên quan nhất với tử vong chu sinh và tử vong sơ sinh [119].

Để nghiên cứu thay đổi phổ Doppler của ĐMR, OTM, nhịp TT trên các

thai CPTTTC, Bilardo và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tiến cứu, theo

dõi dọc tại các trung tâm sản khoa ở Hamburg, Amsterdam, Utrecht và

London trên 70 trường hợp với tuổi thai 26-33 tuần. Hàng tuần thai phụ được

làm siêu âm Doppler và theo dõi Monitoring sản khoa, siêu âm đánh giá thai

trong vòng 24 giờ trước khi ngừng thai nghén. Kết quả thai được xác định là

khơng tốt khi có tử vong sơ sinh, chu sinh và các biến chứng: xuất huyết não

hoặc loạn sản phế quản phổi. 18/70 (26%) trẻ sơ sinh có kết quả xấu. 2-7 ngày

trước khi sinh chỉ có PI của OTM tăng cao lên còn trước sinh 24 giờ chỉ số

xung PI của cả OTM và TMR cao hơn đáng kể. Tác giả khuyến cáo nếu theo

dõi dọc thay đổi chỉ số xung của Doppler OTM có giá trị tốt nhất trong tiên

lượng nguy cơ suy thai và giúp đưa ra thời điểm ngừng thai nghén thích hợp

nhất ngay cả trong trường hợp thai non tháng. Thời gian trung bình từ lúc bất

thường chỉ số xung PI của Doppler OTM cho tới khi thai tiên lượng xấu trong

khoảng 2 đến 7 ngày với OR 3,0; 95% CI từ 0,8-12 ngày. Các yếu tố dự báo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phổ Doppler ĐMTC: bình thường có trở kháng thấp, với phức hợp tâm trương cao, ít nhất cao hơn 40% so với phức hợp tâm thu. Đo chỉ số kháng của ĐMTC cho phép sàng lọc phát hiện sớm những trường hợp thai phụ có nguy cơ cao huyết áp và suy tuần hoàn bánh rau

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×