Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

Tải bản đầy đủ - 0trang

mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, nhất là đổi mới phương pháp dạy và

học sao cho vai trò tự chủ của học sinh trong hoạt động xây dựng kiến thức

ngày một nâng cao, để từ đó năng lực sáng tạo của họ được bộc lộ và ngày

càng phát triển. Để đạt được điều đó, trong q trình dạy học ở trường phổ

thông cần phải tổ chức sao cho học sinh được tham gia vào quá trình hoạt

động nhận thức phỏng theo hoạt động của các nhà khoa học, qua đó ngồi

việc có thể giúp học sinh trang bị kiến thức cho mình, đồng thời còn cho họ

được tập luyện hoạt động sáng tạo khoa học, rèn luyện năng lực giải quyết

vấn đề để sau này họ đáp ứng được những đòi hỏi cao trong thời kỳ mới [5].

1.1.1.3 Bản chất của quá trình dạy học hiện đại

Để đạt được mục tiêu giáo dục, chiến lược dạy học, phương pháp dạy

học mới hiện nay được xây dựng trên tinh thần dạy học giải quyết vấn đề

thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức mà

cơ sở của nó là hai lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget (1896-1980)

và Lép Vưgôtski (1896-1934). Việc học tập của học sinh có bản chất hoạt

động, thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành

và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ. Như vậy,

dạy học là dạy hoạt động. Trong quá trình dạy học, học sinh là chủ thể nhận

thức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của

học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây

dựng tri thức. Quá trình dạy học các tri thức thuộc một mơn khoa học cụ thể

được hiểu là q trình hoạt động của giáo viên và của học sinh trong sự tương

tác thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: Giáo

viên, học sinh và tư liệu hoạt động dạy học [5].

1.1.1.4. Hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động học của học sinh bao gồm các hành động với tư liệu dạy

học, sự trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên. Hành động

học của học sinh với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh

với tình huống học tập đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức

- 12 -



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



cho bản thân mình. Sự trao đổi, tranh luận giữa học sinh với nhau và giữa học

sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía giáo viên và tập thể

học sinh trong q trình chiếm lĩnh tri thức. Thông qua các hoạt động của học

sinh với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà giáo viên thu được những thơng

tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của giáo viên đối với học sinh.

Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự

trao đổi, định hướng trực tiếp với học sinh. Giáo viên là người tổ chức tư liệu

hoạt động dạy học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động của

học sinh. Dựa trên tư liệu hoạt động dạy học, giáo viên có vai trò tổ chức,

kiểm tra, định hướng hoạt động của học sinh với tư liệu học tập và định

hướng sự trao đổi, tranh luận của học sinh với nhau.

Tóm lại, theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy giải quyết vấn đề,

quá trình dạy - học bao gồm "một hệ thống các hành động có mục đích của

giáo viên tổ chức hoạt động trí óc và tay chân của học sinh, đảm bảo cho học

sinh chiếm lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định". Trong

quá trình dạy học, giáo viên tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức

vật lý của học sinh phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học. Như

vậy, chúng ta có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học như sau:

- Giáo viên tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho học sinh): học sinh

hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải

quyết. Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù

hợp với mục tiêu dạy học và các nội dung cụ thể đã xác định.

- Học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra. Với sự theo dõi, định

hướng, giúp đỡ của giáo viên, hoạt động học của học sinh diễn ra theo một

tiến trình hợp lí, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận.

- Giáo viên chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của học sinh, bổ sung, tổng

kết, khái quát hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục

tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định [5].



- 13 -



1.1.2. Cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh

trong dạy học vật lý

1.1.2.1. Chu trình sáng tạo khoa học

Cơ sở lý thuyết của việc phát triển khả năng sáng tạo của học sinh trong

quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật của sự sáng tạo khoa học tự

nhiên. Chúng ta đã biết rằng nhiều nhà khoa học như A. Einstein, M. Planck, M.

Born, V.G. Razumơpxki... đều có những lời phát biểu giống nhau về quá trình

sáng tạo khoa học. Trên cơ sở những lời phát biểu đó, có thể trình bày q trình

sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm bốn giai đoạn chính (Hình 1.1): Từ sự

khái qt hố những sự kiện khởi đầu đi đến xây dựng mơ hình trừu tượng của

hiện tượng (đề xuất giả thuyết); từ mơ hình suy ra các hệ quả lơgíc; từ hệ quả đi

đến thiết kế và tiến hành kiểm tra bằng thực nghiệm; nếu các sự kiện thực nghiệm

phù hợp với hệ quả dự đốn thì giả thuyết trở thành chân lý khoa học, một định

luật, một thuyết vật lý và kết thúc một chu trình. Những hệ quả như thế ngày một

nhiều, mở rộng phạm vi ứng dụng của các thuyết và định luật vật lý. Cho đến khi

xuất hiện những sự kiện thực nghiệm mới không phù hợp với các hệ quả rút ra từ

lý thuyết thì điều đó dẫn tới phải xem lại lý thuyết cũ, cần phải chỉnh lý lại hoặc

phải thay đổi mơ hình giả thuyết, và như thế lại bắt đầu một chu trình mới, xây

dựng những giả thuyết mới, thiết kế những thiết bị mới để kiểm tra và như vậy mà

kiến thức của nhân loại ngày một phong phú thêm [6, tr. 24].

Hình 1.1: Chu trình sáng tạo khoa học



Mơ hình - giả



Các hệ quả



thuyết trừu tượng



logic



Các sự kiện

Thực nghiệm



xuất phát



- 14 -



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



1.1.2.2. Tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề

Tương ứng với chu trình sáng tạo khoa học, đối với việc xây dựng một

kiến thức vật lí cụ thể thì tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề được mơ tả

như sau:"đề xuất vấn đề - suy đốn giải pháp - khảo sát lí thuyết và / hoặc

thực nghiệm - kiểm tra, vận dụng kết quả".

- Đề xuất vấn đề: Từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết nảy sinh

nhu cầu về một cái còn chưa biết, về một cách giải quyết khơng có sẵn, nhưng

hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được. Diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi.

- Suy đốn giải pháp: Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm xuất

phát cho phép đi tìm lời giải: chọn hoặc đề xuất mơ hình có thể vận hành

được để đi tới cái cần tìm; hoặc phỏng đốn các biến cố thực nghiệm có thể

xảy ra mà nhờ đó có thể khảo sát thực nghiệm để xây dựng cái cần tìm.

- Khảo sát lí thuyết và/hoặc thực nghiệm: Vận hành mơ hình rút ra kết

luận lơ gíc về cái cần tìm và/hoặc thiết kế phương án thực nghiệm, tiến hành

thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và xem xét, rút ra kết luận về cái

cần tìm.

- Kiểm tra, vận dụng kết quả: xem xét khả năng chấp nhận được của

các kết quả tìm được, trên cơ sở vận dụng chúng để giải thích / tiên đốn các

sự kiện và xem xét sự phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm. Xem xét sự cách

biệt giữa kết luận có được nhờ suy luận lí thuyết với kết luận có được từ các

dữ liệu thực nghiệm để quy nạp chấp nhận kết quả tìm được khi có sự phù

hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, hoặc để xét lại, bổ sung, sửa đổi đối với

thực nghiệm hoặc đối với sự xây dựng và vận hành mơ hình xuất phát khi

chưa có sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, nhằm tiếp tục tìm tòi xây

dựng cái cần tìm.

1.1.2.3. Sơ đồ tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề.

Có thể khái quát tiến trình khoa học giải quyết vấn đề khi xây dựng, kiểm

nghiệm hoặc ứng dụng thực tiễn một kiến thức cụ thể bởi sơ đồ hình 1.2 [8].



- 15 -



Hình 1.2: Sơ đồ tiến trình giải quyết vấn đề khi xây dựng, kiểm

nghiệm, ứng dụng kiến thức



Vấn đề

(Đòi hỏi tìm kiếm xây dựng kiến thức)



Điều kiện cần sử dụng

để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra

BÀI TOÁN

Giải quyết bài tốn

KẾT LUẬN/ NHẬN ĐỊNH



Vấn đề

(Đòi hỏi kiểm nghiệm, ứng dụng thực tiễn kiến thức)



Điều kiện cần sử dụng để tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra,

một mặt nhờ suy luận, mặt khác nhờTN quan sát

BÀI TOÁN

Giải bài tốn bằng suy luận

lý thuyết.



Giải bài tốn bằng thí

nghiệm và quan sát



KẾT LUẬN

(thu được nhờ suy luận lý thuyết)



KẾT LUẬN

(thu được nhờ thí nghiệm và quan sát)

Kết luận chung



1.1.2.4. Vai trò của tương tác xã hội trong tiến trình giải quyết vấn đề

Sự xây dựng tri thức khoa học như trên không phải là công việc chỉ của

riêng một nhà khoa học mà là một q trình mang tính xã hội. Nhận thức của

mỗi cá nhân, thành viên xã hội, tiến triển trong sự tương tác xã hội và xung

đột xã hội - nhận thức. Kết quả nghiên cứu của mỗi cá nhân nhà khoa học có

sự hỗ trợ của người khác. Kết quả đó được thơng báo và trải qua sự tranh

luận, phản bác, bảo vệ trong cộng đồng các nhà khoa học. Nhờ đó kết quả

- 16 -



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



nghiên cứu được chỉnh lí, bổ sung, hoàn thiện và được cộng đồng khoa học

chấp nhận. Chính vì vậy, từ sơ đồ trên và có kể đến cả vai trò của tương tác xã

hội trong quá trình xây dựng tri thức, thì có thể minh họa tiến trình xây dựng

và bảo vệ tri thức khoa học bằng sơ đồ hình 1.3 [5].

Hình 1.3: Sơ đồ tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới

trong nghiên cứu khoa học

Tình huống có tiềm ẩn vấn đề

Phát biểu vấn đề bài toán

Giải quyết vấn đề:

Suy đoán, thực hiện giải pháp

Kiểm tra, xác nhận kết quả: xem xét sự phù

hợp của lý thuyết và thực nghiệm

Trình bày, thơng báo, thảo luận.

bảo vệ kết quả

Vận dụng tri thức mới để giải quyết các

nhiệm vụ đặt ra tiếp theo

1.1.2.5. Sự khác biệt giữa nghiên cứu khoa học và dạy học

Trong quá trình dạy học, muốn thành công trong việc tổ chức hoạt động

nhận thức của học sinh phỏng theo hoạt động của các nhà khoa học, chúng ta

cần phải xem xét kỹ sự khác biệt giữa quá trình hoạt động của học sinh trong

học tập và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học. Đó là sự khác biệt rất lớn

giữa học sinh và các nhà khoa học về đặc điểm tâm sinh lý cũng như điều

kiện làm việc.

Về nội dung kiến thức: Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp

mới mà trước đó lồi người chưa hề biết đến, còn học sinh thì tìm lại cho

- 17 -



bản thân kiến thức đã biết của nhân loại. Trong học tập, học sinh tự "khám

phá lại" các kiến thức để tập làm cái cơng việc khám phá đó trong hoạt

động thực tiễn sau này.

Về thời gian: Nhà khoa học có thời gian dài để khám phá một kiến

thức, còn học sinh thì chỉ có thời gian rất ngắn trên lớp.

Về phương tiện: Nhà khoa học có các thiết bị thí nghiệm, máy móc hiện

đại, còn học sinh, trong điều kiện của trường phổ thơng chỉ có những thiết bị

đơn giản .

Chính vì sự khác biệt rất lớn đó cho nên trong dạy học, giáo viên phải

từng bước tập dượt cho học sinh vượt qua những khó khăn trong hoạt động

giải quyết vấn đề. Để đạt được mục tiêu đó, người giáo viên cần phải vận

dụng được lý thuyết về "vùng phát triển gần" của Vưgôtxki để tạo ra những

điều kiện thuận lợi để học sinh tình nguyện tham gia vào hoạt động nhận thức

và thực hiện thành công nhiệm vụ được giao.

Về mặt tâm lý, cần phải tạo được mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ,

hứng thú tìm cái mới bằng cách xây dựng các tình huống có vấn đề, đồng thời

tạo ra một môi trường sư phạm thuận lợi để học sinh tin tưởng vào khả năng

của mình trong việc giải quyết nhiệm vụ được giao và tình nguyện tham gia

vào hoạt động nhận thức.

Về nội dung và biện pháp hỗ trợ hoạt động nhận thức, giáo viên cần

phải tạo mọi điều kiện để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm

vụ được giao. Điều này là hết sức quan trọng bởi vì sự thành cơng của họ

trong việc giải quyết vấn đề học tập có tác dụng rất lớn cho họ tự tin, hứng

thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết các vấn đề tiếp theo. Muốn vậy, trước

hết cần phải lựa chọn một lơgíc bài học thích hợp, phân chia bài học thành

những nhiệm vụ nhận thức cụ thể phù hợp với năng lực của học sinh sao cho

họ có thể tự lực giải quyết được với cố gắng vừa phải. Bên cạnh đó, cần phải

từng bước rèn luyện cho học sinh thực hiện một số kỹ năng cơ bản bao gồm

các thao tác chân tay và các thao tác tư duy, giúp cho học sinh có khả năng

- 18 -



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



quan sát, sử dụng các phương tiện học tập...Cuối cùng là phải cho học sinh

làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý phổ biến như phương pháp

thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp mơ hình...

1.2. Tổ chức dạy học theo hướng pháp huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo

của học sinh

1.2.1. Tính tích cực của học sinh trong học tập

2.1.1.1 Khái niệm về tính tích cực trong học tập

* Tính tích cực

Theo từ điển Tiếng Việt [Viện ngơn ngữ học, 1999], tích cực nghĩa là

có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển. Người tích cực là

người tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng

phát triển.

Theo một nghĩa khác, Tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc

làm.

Theo từ điển Tiếng Việt, tích cực là một trạng thái tinh thần có tác dụng

khẳng định và thúc đẩy sự phát triển. [Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Anh]

Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao [từ

điển Tiếng Việt, 1994, Hồng Phê chủ biên]

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã

hội. Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá, cải biến mơi

trường để phục vụ cho con người. Tuy vậy, tính tích cực có mặt tự phát và tự

giác. Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên, mặt tự phát của tính tích cực là những

yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt

trong đời sống hàng ngày. Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý

tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm

lĩnh đối tượng đó. Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán

trong tư duy, trí tò mò khoa học … Nhờ tính tức cực tự giác, có ý thức, con

người có thể đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so

với tích tích cực tự phát.

- 19 -



Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các

nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động,

thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.

* Tính tích cực học tập

Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Thông qua quá trình

học tập, con người nhận thức được, lĩnh hội được những tri thức lồi người đã

tích luỹ được, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho

khoa học.

Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận

thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong

quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều

phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện

tập, vận dụng, … và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

1.2.1.2. Các biểu hiện của tính tích cực học tập

Theo PGS. TS Thái Duy Tuyên GV muốn phát hiện được HS có tính

tích cực học tập khơng, cần dựa vào những dấu hiệu sau đây:

- Có chú ý học tập khơng?

- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không

(thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép...)?

- Có hồn thành những nhiệm vụ được giao khơng?

- Có ghi nhớ tốt những điều đã được học khơng?

- Có hiểu bài học khơng?

- Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngơn ngữ riêng khơng?

- Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?

- Tốc độ học tập có nhanh khơng?

- Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải

học?

- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập khơng?

- Có sáng tạo trong học tập khơng?

- 20 -



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi



1.2.1.3. Về nguyên nhân của tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức tuy nảy sinh trong q trình học tập nhưng nó

lại là hậu quả của nhiều ngun nhân. Nhìn chung, tích tích cực nhận thức

phụ thuộc vào những nguyên nhân sau đây:

- Hứng thú

- Nhu cầu

- Động cơ

- Năng lực

- Ý chí

- Sức khoẻ

- Mơi trường

Trong những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành

ngay, nhưng cũng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình

lâu dài dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động. Vì vậy, việc tích cực hố hoạt

động nhận thức của học sinh đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện của

giáo viên trong khi dạy học.

1.2.1.4. Các biện pháp phát huy tích tích cực nhận thức của học sinh

Các biện pháp nâng cao tích tích cực nhận thức của HS trong giờ lên lớp

được phản ánh trong các cơng trình xưa và nay có thể tóm tắt như sau [20]:

- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề

nghiên cứu.

- Nội dung dạy học phải mới, nhưng không qúa xa lạ với học sinh mà

cái mới phải liên hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai.

Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày,

thỏa mãn nhu cầu nhận thức của học sinh.

- Phải dùng các phương pháp đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực

hành, so sánh, tổ chức thảo luận, xêmina và phối hợp chúng với nhau.

- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu

thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách

đột ngột, bất ngờ.

- 21 -



- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại.

- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập

thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm.

- Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống

mới.

- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời,

đúng mức.

- Kích thích tích tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên và

học sinh.

- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương

tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.

- Tạo khơng khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tơn vinh sự

học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt.

- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.

Trong thời gian tới nên điều chỉnh cơng tác nghiên cứu và chỉ đạo vấn đề

tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS theo một số hướng cơ bản sau [20]:

- Nghiên cứu phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức

sáng tạo chứ khơng dừng lại mức độ tái hiện như hiện nay.

- Phát huy sức mạnh bản chất của người học, mà theo K.Mark đó là: trí

tuệ, tâm hồn và ý chí. Đặc biệt là sức mạnh tâm hồn (hứng thú, xúc cảm...) là

điều lâu nay chưa được chú ý đúng mức.

- Phối hợp chặt chẽ và khoa học hơn nữa giữa các thày giáo, các nhà

quản lí, các nhà văn hóa và phụ huynh HS.

1.2.2. Phát triển tư duy của học sinh

1.2.2.1. Tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật

và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất

của chúng, những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng, đồng thời



- 22 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×