Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
+ Năng lực nhận thức về Sinh học: Benjamin Bloom đề xuất một thang 6 mức độ của năng lực nhận thức, bao gồm:

+ Năng lực nhận thức về Sinh học: Benjamin Bloom đề xuất một thang 6 mức độ của năng lực nhận thức, bao gồm:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Ví dụ cho mức độ nhận thức này là khi giáo viên yêu cầu HS “kể tên các kì

của quá trình nguyên phân” hay “Nêu các bậc cấu trúc của prôtêin”,…

 Hiểu: Là khả năng HS hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn

một vấn đề theo lối suy nghĩ và cách hành văn của chính mình. Bên cạnh

đó còn có thể dự đoán được kết quả hay hậu quả của vấn đề. Những hoạt

động tương ứng với mức độ hiểu có thể là diễn giải, tổng kết, kể lại, viết

lại theo cách hiểu của mình,…

Ví dụ của mức độ hiểu đó là khi giáo viên u cầu HS “Mơ tả kì giữa của quá

trình nguyên phân” Hoặc “ Hãy trình bày tóm tắt q trình hơ hấp tế bào”,…

 Vận dụng: Có thể được hiểu là khả năng sử dụng kiến thức đã học trong

những tình huống cụ thể hay tình huống mới. Vận dụng là mức bắt đầu

của sáng tạo. Những hoạt động tương ứng với mức vận dụng có thể là

chuẩn bị, sản xuất, giải quyết, vận hành hoặc theo một cơng thức nấu

ăn,…

Ví dụ về hoạt động vận dụng đó là khi giáo viên đưa cho HS các bản hướng

dẫn viết và yêu cầu “Hãy giải thích tại sao từ 4 loại nuclêôtit đã tạo ra sự đa dạng

và phong phú của thế giới sinh vật?” hay “ Tại sao muốn giữ rau tươi, ta phải

thường xuyên vảy nước vào rau?”,…

 Phân tích: Là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành

để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại.

Các hoạt động liên quan đến mức độ phân tích có thể là vẽ biểu đồ, lập

dàn ý, phân biệt hoặc chia nhỏ các thành phần,…



Đặng Thị Kim Cúc



9



K35A – SP Sinh



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



Ví dụ của mức độ phân tích là khi giáo viên hỏi HS “Cơ chế nào trong

nguyên phân giúp đảm bảo cho bộ NST của tế bào con giống hệt bộ NST của tế

bào mẹ?”; “Giải thích tại sao ti thể được coi là nhà máy năng lượng của tế

bào?”,…

 Tổng hợp: Liên quan đến khả năng kết hợp các phần cùng nhau để tạo một

dạng mới. Ở mức độ này, đòi hỏi HS phải sử dụng những gì đã học để tạo

ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hồn tồn mới. Các hoạt động liên quan đến

mức độ tổng hợp có thể gồm: thiết kế, đặt kế hoạch, tạo hoặc sáng tác,…

Ví dụ hoạt động ở mức độ tổng hợp đó là khi giáo viên u cầu HS “Nếu q

trình nguyên phân bị gián đoạn thì hậu quả gì sẽ xảy ra?”; “Những cây có lá

vàng có thực hiện quang hợp được không? Tại sao?”,…

 Đánh giá: Là khả năng phán xét giá trị của đối tượng. Để sử dụng đúng

mức độ này, HS phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập

luận giá trị để bảo vệ quan điểm của mình. Những hoạt động liên quan đến

mức độ đánh giá có thể là: biện minh, phê bình hoặc rút ra kết luận,…

Liên quan đến mức độ đánh giá là khi giáo viên hỏi HS “Hãy đánh giá vai trò

của nguyên phân đối với cơ thể sinh vật?”; “ Cho biết ý nghĩa của quá trình

quang hợp?”,…

+ Năng lực thực nghiệm: Biểu hiện trong phần Sinh học tế bào thông qua

năng lực thực hành như thực hành quan sát, thực hành thí nghiệm, thực hành

phân tích mẫu vật,…

Ở năng lực này, đòi hỏi HS có khả năng sử dụng thành thạo thiết bị, dụng

cụ, hóa mẫu vật thực hành sinh học; Có kĩ năng thực hành thí nghiệm và tư duy

phân tích cơ sở khoa học; Có khả năng hợp tác nhóm và làm việc nhóm hiệu



Đặng Thị Kim Cúc



10



K35A – SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



quả. Biết cách học thầy, học bạn, biết kết hợp các phương tiện công nghệ thông

tin, khoa học kĩ thuật hiện đại trong học tập.

Ngoài ra, năng lực thực nghiệm cũng yêu cầu HS phải có khả năng vận

dụng kiến thức lí thuyết vào giải thích và giải quyết những vấn đề thực tiễn, có

thái độ bảo vệ sức khỏe và mơi trường sinh thái, có khả năng thích nghi tốt khi

mơi trường thay đổi,…

1.1.2. Đánh giá

1.1.2.1. Khái quát về đánh giá

Theo GS Trần Bá Hoành (1995) “Đánh giá là q trình hình thành những

nhận định, phán đốn về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những

thơng tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề

xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất

lượng và hiệu quả công việc”.

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [3] thì đánh giá trong giáo dục là q

trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục

tiêu giáo dục nhất định.

Như vậy, đánh giá cho ta ý nghĩa như là sự nhận định giá trị các mặt kết

quả, hiệu quả, hiệu suất của việc đào tạo trong nhà trường thể hiện qua sự phát

triển của người học, hay nói cách khác là kết quả học tập của người học.

Có lẽ Trần Thị Tuyết Oanh [3] đã có giải thích khá đầy đủ về đánh giá:

Đánh giá kết quả học tập là q trình thu thập, xử lí thơng tin về trình độ, khả

năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở

cho những quyết định sư phạm của giáo viên, của nhà trường và cho bản thân

người học tiến bộ hơn. Đánh giá kết quả học tập của người học là đánh giá mức

độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho người học sau một giai đoạn học tập. Các



Đặng Thị Kim Cúc



11



K35A – SP Sinh



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

Khóa luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2



mục tiêu này thể hiện ở từng môn học cụ thể. Thông qua đánh giá kết quả của

người học sẽ thể hiện được kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo.

Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thơng tin, xử lí thơng tin và ra

quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu

phải theo đuổi và kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định liên quan đến

mục tiêu đó. Điều đó khơng có nghĩa là quá trình tổng thể kết thúc khi ra quyết

định. Ngược lại, quyết định đánh dấu sự khởi đầu một q trình khác cũng quan

trọng như đánh giá: đó là quá trình đề ra những biện pháp cụ thể tuỳ theo kết quả

đánh giá.

Đánh giá quá trình dạy học thực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn

thông tin phản hồi về q trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.

1.1.2.2. Đánh giá năng lực của HS trong dạy học Sinh học

Hiện nay trong quá trình giảng dạy, việc đánh giá chủ yếu là đánh giá kiến

thức, dựa trên điểm số để xếp loại, nên có thể chưa phản ánh đầy đủ khả năng

học tập của HS. Đánh giá năng lực của HS sẽ phản hồi được hạn chế của phương

pháp đánh giá truyền thống, đồng thời nâng cao được hiệu quả, chất lượng của

quá trình dạy học.

Đánh giá năng lực học tập của HS có những ưu điểm sau:

- Đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức đã học vào xử lí, giải quyết

các tình huống thực tiễn. Nếu như đánh giá kiến thức, kỹ năng thì chỉ đo được

khối lượng kiến thức, kỹ năng HS thu nhận được. Còn đánh giá năng lực là đo

khả năng HS vận dụng kiến thức, kỹ năng đó trong các hoạt động thực tiễn; Sử

dụng chúng để gia cơng, hồn thành một nhiệm vụ, đồng thời HS có cơ hội bày

tỏ thái độ của bản thân trước những vấn đề thực tiễn. Như vậy đánh giá được

năng lực thì sẽ đánh giá được kiến thức, kỹ năng, thái độ.



Đặng Thị Kim Cúc



12



K35A – SP Sinh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

+ Năng lực nhận thức về Sinh học: Benjamin Bloom đề xuất một thang 6 mức độ của năng lực nhận thức, bao gồm:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×