Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Từ đó, Vygotsky đã đưa ra 3 mơ hình ZPD như sau:



5



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Hình 1.1: Hình ảnh về Vùng cận phát triển – ZPD



Nguồn: https://www.google.com

Như vậy, học tập sẽ làm thay đổi ZPD của mỗi cá nhân sau mỗi quá trình kiến

tạo tri thức và dựa vào độ khó của từng nhiệm vụ cao hay thấp, mức độ cũng như

năng lực độc lập của người học và mức độ trợ giúp của người hướng dẫn mà người

hướng dẫn có thể đưa ra được những hoạt động phù hợp hay thách thức với người

học.

Tóm lại, ZPD cho thấy rằng, mỗi cá nhân đều có kinh nghiệm làm nền tảng, ở

dạng tiềm năng có được thông qua các hoạt động học tập, sự trải nghiệm và yếu tố

di truyền. Học tập là quá trình đưa kinh nghiệm cá nhân vào quá trình tương tác với

mơi trường, từ đó tiềm năng kinh nghiệm được huy động ra để xây dựng tri thức

tiếp theo.

Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), người sáng lập của tâm lý học xã

hội Mỹ, được biết đến với công việc nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi tổ chức,

động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứu hành động. Mối

quan tâm chính của Lewin là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Qua nghiên

cứu, Lewin cho ta thấy việc học tập đạt hiệu quả tối đa khi có một sự xung đột căng

thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ

học tập. Theo ông, cuộc xung đột này có vai trò rất quan trọng làm thay đổi và giúp

con người tiến bộ hơn. Cơng trình nghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào trải



6



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



nghiệm của Lewin là “T-nhóm và phương pháp phòng thí nghiệm”. Lewin đã khẳng

định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập

dựa vào trải nghiệm. Ông đã phát triển chu kỳ học tập như “một quá trình liên tục

của hành động và đánh giá hệ quả của hành động đó”.

Mơ hình học tập dựa vào trải nghiệm của Lewin bao gồm: giai đoạn đầu tiên,

người học suy nghĩ về tình huống; tiếp đến là lập kế hoạch giải quyết tình huống;

tiếp đó là tiến hành kế hoạch; sau cùng là quan sát các kết quả đạt được [16].

Năm 1960, Jean Piaget (1896 - 1980), nhà tâm lý học phát triển người Thụy

Sỹ, một trong những người theo dòng phái lý luận nền tảng của giáo dục hiện đại,

đã góp phần chỉ rõ bản chất và nguồn gốc của tri thức và trí tuệ.

Ơng đã nghiên cứu bản chất và q trình phát triển của trí thơng minh. Ơng

thấy rằng q trình phát triển của trí thơng minh có liên quan đến tuổi của mỗi

người, cũng như sự khác biệt trong cách nghĩ của mỗi trẻ em về những điều trẻ

nhận thức. Từ những hiểu biết này, Piaget đã thực hiện một nghiên cứu về kinh

nghiệm và kiến thức của con người. Ông đã dành nhiều thời gian để khám phá

những ý tưởng này. Lý thuyết của Piaget cho rằng: “Trí thơng minh được định hình

bởi kinh nghiệm và trí thơng minh đó khơng phải là một đặc tính nội bộ bẩm sinh

mà là một sản phẩm của sự tương tác giữa con người và mơi trường sống của mình”

[9].

Năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Lewin, Piaget, Lev Vygotsky và

các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David

Kolb (sinh năm 1939), nhà lý luận giáo dục Hoa Kỳ, đã nghiên cứu và cho xuất bản

một cơng trình về học tập dựa vào trải nghiệm: Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm

là nguồn học tập và phát triển (Study experience: Experience is the source of

Learning and Development)

Theo Kolb (Kolb, 1984), lý thuyết học tập trải nghiệm định nghĩa” học tập là

một quá trình, trong đó kiến thức được tạo ra thơng qua việc chuyển đổi kinh

nghiệm.



7



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



David Kolb đã giới thiệu một mơ hình học tập dựa trên

trải nghiệm (experiential learning, thường được biết đến với cái tên Chu trình

học tập Kolb) nhằm “quy trình hóa” việc học với các giai đoạn và thao tác

được định nghĩa rõ ràng.

Thơng qua chu trình này, cả người học lẫn người dạy đều có thể cải tiến liên

tục chất lượng cũng như trình độ của việc học.

Đây là một trong số các mơ hình đã và đang trở thành xu thế giáo dục của thế

kỉ 21, đang được áp dụng trong các lĩnh vực giáo dục khác nhau và cho thấy hiệu

quả của chúng trong giáo dục.

Chu trình học tập Kolb gồm bốn bước được mơ tả như hình dưới đây [23]:

Hình 1.2: Chu trình học tập Kolb



Nguồn: https://duongtrongtan.wordpress.

Trong đó:

- Kinh nghiêm rời rạc (hay trải nghiệm): là sự kiện đã hoặc vừa xảy ra chứa

đựng vấn đề cần quan tâm.



8



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



- Quan sát có suy tưởng (hay phân tích): là nhìn lại kinh nghiệm đã trải qua,

phát hiện những đặc điểm, ý nghĩa của kinh nghiệm đó.

- Khái qt hóa, rút ra bài học: là tìm xu hướng, lý luận chung trong kinh

nghiệm trải qua, đúc kết thành khái niệm, lý thuyết.

- Thử nghiệm tích cực (hay áp dụng): là thay đổi cách làm cũ, thử nghiệm

cách làm mới, thực hành hàng ngày.

Trong đó, Kolb khuyến cáo trình tự của việc học theo mơ hình học tập thực

nghiệm cần tuân thủ trình tự của Chu trình, nhưng không nhất thiết phải khởi đầu từ

bước nào trong Chu trình. Tuy nhiên Kolb dựa trên giả định quan trọng về việc học:

tri thức khởi nguồn từ kinh nghiệm, tri thức cần được người học kiến tạo (hoặc tái

tạo) chứ khơng phải là ghi nhớ những gì đã có. Cần vận dụng đúng Chu trình Kolb

để có thể phát huy hiệu quả.



1.1.2. Nghiên cứu về học tập dựa vào trải nghiệm ở Việt Nam

Mặc dù trên thế giới, học tập dựa vào trải nghiệm được bắt đầu nghiên cứu từ

rất sớm nhưng ở Việt Nam, việc tiếp cận nghiên cứu về học tập dựa vào trải nghiệm

còn nhiều hạn chế: có ít cơng trình, tài liệu nghiên cứu và vận dụng. Có thể kể đến

một số chương trình, dự án tiêu biểu sau[31]:

Năm 2006, học tập dựa vào trải nghiệm được đề cập ở Việt Nam trong tài liệu

“Học mà chơi - Chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động GDMT trải nghiệm” do Dự

án GDMT Hà Nội và Trung tâm Con người và Thiên nhiên biên soạn.

Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” được giảng dạy cho

sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành Quản lý, liên kết

giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Keuka, Mỹ. Nội dung và

mục tiêu của môn học là nhằm giúp sinh viên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội

và có thêm được những trải nghiệm thực tế, những điều mà các em có thể chưa nắm

bắt được khi học qua sách vở tại trường đại học [8].



9



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Gần đây cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm

sáng tạo [22], [15] như đề tài “Nghiên cứu phát triển năng lực thiết kế chương trình

hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho giáo viên phổ thông” của Ths.Nguyễn Thị Hằng

(Đại học Sư phạm Hà Nội), tài liệu tập huấn “Kỹ năng xây dựng và tổ chức các

hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học” do nhóm tác giả sáng

PGS.TS.Nguyễn Thúy Hồng và PGS.TS.Đinh Thị Kim Thoa, giáo dục môi trường

dựa vào trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn khoa học ở tiểu học của tác giả Võ

Trung Minh…

Như vậy ta có thể thấy dạy học trải nghiệm sáng tạo đang trở thành xu thế toàn

cầu và ở mỗi nước trên Thế giới và đang mang lại hiệu quả rất tích cực.

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học các mơn học

còn đang rất mới trong chương trình giảng dạy các mơn học ở Việt Nam và mới chỉ

tập chung nghiên cứu về các lý thuyết chung về dạy học trải nghiệm sáng tạo mà

chưa đi sâu phân tích, tìm rõ về dạy học trải nghiệm sáng tạo riêng cho phần hóa

học hữu cơ.



1.2. Đặc điểm tâm lý HS THPT

Lứa tuổi HS THPT thuộc thời kì 15 – 18 tuổi, gọi là tuổi đầu tuổi thanh niên,

đã có sự phát triển về thể chất và tư duy ở mức độ nhất định; các em đã định hướng

được sự phát triển trong tương lai của mình[14].

Về mặt phát triển thể chất, các em đã đạt được mức phát triển của người

trưởng thành. Trọng lượng và chức năng hoạt động của não bộ phát triển tương

đương như não người lớn nên hoạt động trí tuệ có thể phát triển tới mức cao. Tư

duy, ngơn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Sự phát

triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lí và

nhân cách, đồng thời ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của cácem.

Về vai trò trong cuộc sống gia đình và xã hội: Các em đã được trao quyền

công dân nên xác định được vai trò, trách nhiệm trong gia đình và cộng đồng nên

có sự quan tâm tới nề nếp, lối sống sinh hoạt, điều kiện kinh tế, chính trị của gia



10



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



đình, nghĩa vụ với xãhội.

Với hoạt động học tập: Học tập vẫn là một hoạt động chủ đạo với HS THPT,

đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ.

Về thái độ, các em đã ý thức được: Tri thức được hình thành trong nhà trường

phổ thơng là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động

của xã hội. Hứng thú học tập của HS gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp, nên

mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn.

Về sự phát triển trí tuệ: Cảm giác và tri giác đạt tới mức độ của người lớn. Tri

giác đã có chủ định, khả năng quan sát có tính mục đích cao, có hệ thống và tồn

diện hơn tuy còn hay bị phân tán và chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất

định. Trí nhớ có chủ đích cũng phát triển rõ rệt, giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động

trí tuệ. Ghi nhớ có ý nghĩa tăng rõ rệt và ngày càng chiếm ưu thế; tính chọn lọc của

ghi nhớ khá rõ ràng, sắp xếp theo trật tự mới và khoa học. HS có khả năng tập

trung chú ýcaođộtrongthờigiandàiởđiềukiệnhoạtđộngcăngthẳng.

Hoạt động tư duy của HS đã phát triển mạnh, khả năng tư duy lí luận, tư duy

trừu tượng, tư duy phê phán một cách độc lập, sáng tạo hơn lứa tuổi thiếu niên.

Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá phát triển

cao giúp các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng. Do vậy, các

em cũng thích tìm hiểu những vấn đề có tính chất triếtlí.

Như vậy về mặt tâm sinh lí của HS THPT đã phát triển, tạo điều kiện thuận

lợi cho việc phát triển năng lực tự học trí tuệ độc lập và sáng tạo.



1.3. Hoạt động dạy học trải nghiệm sáng tạo

1.3.1. Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là quá trình gồm 2 hoạt động thống nhất:

-



Hoạt động dạy của GV.



-



Hoạt động học của HS.



11



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích

cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những

nhiệm vụ để đạt được mục tiêu dạy học theo hướng chuẩn đã định. Trong q trình

dạy học, hoạt động dạy của GV đóng vai trò chủ đạo, hoạt động học của HS có vai

trò tự giác, chủ động tích cực. Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt

chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội

dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học. Nếu thiếu một trong hai

hoạt động trên, q trình dạy học khơng diễn ra.



1.3.2. Khái niệm liên quan đến hoạt động dạy học dựa vào trải nghiệm

sáng tạo

a. Khái niệm



 Kinh nghiệm

Theo từ điển Wikipedia thì kinh nghiệm (experience), hay trải nghiệmlà tri

thức hay sự thông thạo về một sự kiện hay một chủ đề có được thơng qua tham gia

sự can dự hay tiếp xúc trực tiếp. Kinh nghiệm được sử dụng trong q khứ, liên

quan đến những gì đã được tích lũy hoặc những thứ còn tồn đọng của những kinh

nghiệm trước đây. Kinh nghiệm quá khứ thường ảnh hưởng tới kinh nghiệm hiện tại

và kinh nghiệm tương lai. Ý kiến cho rằng kinh nghiệm quá khứ ảnh hưởng đến

kinh nghiệm hiện tại đã được đề cập bởi John Dewey. Tất cả những kinh nghiệm

ảnh hưởng đến tương lai của nó (nghĩa là kinh nghiệm về sau), hoặc là tốt hơn hoặc

xấu đi. Về cơ bản, kinh nghiệm tích lũy hoặc sẽ bị mai một đi hoặc sẽ mở ra cơ hội

cho những kinh nghiệm tương lai [19].

Một định nghĩa khác về kinh nghiệm, từ “Kinh nghiệm” nhằm diễn đạt bản

chất các sự việc hoặc sự kiện mà một cá nhân hoặc nhóm người cụ thể đã trải qua

trong đời sống hàng ngày hoặc trong cuộc đời mình. Kinh nghiệm khơng phải là

việc gì đã xảy ra với cá nhân, mà là cá nhân đó đã làm gì hay phản ứng (trải

nghiệm) như thế nào với việc xảy ra với mình [8].



 Học tập qua kinh nghiệm



12



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Học tập qua kinh nghiệm là quá trình người học tạo dựng kiến thức, kỹ năng

và quan điểm về giá trị từ việc bản thân trải nghiệm trực tiếp trong MT học tập.

Học tập qua kinh nghiệm thể hiện sự trưởng thành và thành cơng của cá nhân

và nhóm qua chu trình: Lĩnh hội - Hành động - Phản ánh - Lĩnh hội để đạt được

kinh nghiệm[8].

Học tập qua kinh nghiệm còn được hiểu là q trình học tập dựa trên những

kinh nghiệm có sẵn. Nó khác với phương pháp giáo dục truyền thống ở chỗ, quá

trình giáo dục theo cách truyền thống thu nhập thông tin thông qua việc nghiên cứu

các chủ đề mà không cần sự trải nghiệm thực tế. Học tập thơng qua kinh nghiệm rất

thích hợp để tiếp thu những kỹ năng thực hành. Trong phương pháp học tập này,

thực hành và thí nghiệm những bài tập thực tế là chủ đạo.

Học tập qua kinh nghiệm là một thuật ngữ thường bị hiểu lẫn với giáo dục

thực nghiệm, phương pháp học tích cực, học tập mạo hiểm, học lựa chọn tự do, học

hợp tác, học theo ngành và nhiều phương pháp khác. Các phương pháp này ngoài

những điểm tương đồng, chúng cũng có những khác biệt. Học tập qua kinh nghiệm

tập trung vào người học và kinh nghiệm của người học. Giáo dục thực nghiệm tập

trung vào quan hệ giao tiếp và sự trao đổi thông tin giữa thầy và trò [8].



 Học tập dựa vào trải nghiệm

Trải nghiệm là quá trình cá nhân tiếp xúc trực tiếp với MT, với sự vật, hiện

tượng, vận dụng vốn kinh nghiệm và các giác quan để quan sát, tương tác, cảm

nhận về sự vật, hiện tượng đó. Trải nghiệm diễn ra dựa trên vốn kinh nghiệm của cá

nhân về sự vật, hiện tượng.

Học tập dựa vào trải nghiệm là hình thức học tập gắn liền với các hoạt động

có sự chuẩn bị ban đầu về kinh nghiệm và có phản hồi, trong đó đề cao kinh nghiệm

chủ quan của người học. Ngoài ra, học tập dựa vào trải nghiệm còn được định nghĩa

là “triết lý giáo dục, triết lý này nhấn mạnh vào quá trình tác động qua lại giữa GV

và HS cùng với những kinh nghiệm trực tiếp của HS trong MT và nội dung học tập”

[5].



13



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



Học tập dựa vào trải nghiệm còn được coi như là triết lý cũng như phương

pháp luận mà ở đó nhà sư phạm thiết lập một cách có chủ đích với người học trong

hoạt động trải nghiệm trực tiếp ở MT học tập và phản ánh để làm rõ ý nghĩa của bài

học, nâng cao kiến thức và phát triển kỹ năng của người học kết hợp trên vốn kinh

nghiệm hiện có của họ.

Dựa trên những khái niệm trên, chúng tôi hiểu học tập dựa vàotrải nghiệm là

hình thức dạy học, trong đó GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động

để HS bằng vốn kinh nghiệm của cá nhân kết hợp tiếp xúc trực tiếp với MT học tập,

sử dụng các giác quan, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ,

hành vi. Sự sáng tạo sẽ xuất hiện khi người học phải giải quyết các nhiệm vụ thực

tiễn có vấn đề, người học phải vận dụng kiến thức, kĩ năng để đưa ra hướng giải

quyết.



1.3.3. Quy trình tổ chức dạy học trải nghiệm

Chúng tôi xây dựng giáo án cho hoạt động DHTNST theo quy trình sau:

Hình 1.3: quy trình thực hiện dạy học dựa vào trải nghiệm.



14



Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí



V

ậ n

d ụ

n g KVẬNhDỤNG

ái

q u

át



T h

ự c

h iệ

LÀM

n



C

h i

a

T rảs ẻ

HỒI ỨNG

i

n g

h iệ

m



Từ 4 giai đoạn của DHTNST như đã nói ở trên, chúng tơi chia quy trình

DHTNST thành các bước với yêu cầu thực hiện như sau [32]:

Bước 1:Tìm hiểu HS

Tìm hiểu học sinh ở từng vùng, từng địa phương để hiểu tâm lý, điều kiện của

HS để có thể lựa chọn chủ đề và PPDH cụ thể. Các PPDH được chọn phải tích cực

hóa hoạt động của HS theo định hướng quan điểm DHTNST. HS phải là chủ thể

nhận thức, tích cực, chủ động và sáng tạo và hợp tác với nhau trong hoạt động học.

Đồng thời, phương tiện DH được chuẩn bị phải phù hợp với PPDH đang thực hiện.

Bước 2:Xác định mục tiêu, lựa chọn chủ đề và nội dung DHTNST

- Xác định các mục tiêu của bài học

Mục tiêu bài học là yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, năng lực cần đạt

được sau bài học. Xác định mục tiêu của bài học quyết định đến việc lựa chọn

PPDH phù hợp trong giờ học và mở rộng, định hướng nội dung kiến thức tiếp theo.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×