Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ENZYME PECTINASE

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ENZYME PECTINASE

Tải bản đầy đủ - 0trang

chất Enzyme có thể được thực hiện một phản ứng. Các phản ứng này thường xảy ra ở

ngoài tế bào ( khi ta thực hiện chúng trong ống nghiệm). Trong tế bào thường không xảy

ra phản ứng enzyme đơn ( một phản ứng) mà thường xảy ra các phản ứng theo chuỗi

phản ứng

Phản ứng enzyme là những phản ứng tiêu hao năng lượng rất ít. Trong khi đó, các

phản ứng hóa học được xúc tác bởi các chất xúc tác hóa học đòi hỏi năng lượng rất lớn.

Nhờ có hoạt động xúc tác của enzyme, các phản ứng sinh hóa xảy ra liên tục trong điều

kiện năng lượng ơn hòa.

Enzyme chịu sự điều khiển bởi gen và các điều kiện phản ứng. Gen quyết định tổng

hợp ra một loại enzyme. Mỗi một enzyme quyết định một phản ứng sinh hóa.Cơ chế như

sau:

Một gen → một enzyme → một phản ứng

Như vậy, gen sẽ quyết định bản chất sinh học và bản chất hóa học của enzyme. Cơ

chế này có ý nghĩa rất lớn trong việc điều khiển tổng hợp enzyme trong tế bào vi sinh vật.

1.2.2.



Bản chất hóa học của enzyme:



Ngoại trừ một nhóm nhỏ RNA có tính xúc tác, tất cả enzyme đều là protein. Tính

chất xúc tác phụ thuộc vào cấu tạo của protein. Nếu một enzyme bị biến tính hay phân

tách thành những tiểu đơn vị thì hoạt tính xúc tác thường bị mất đi, tương tự khi bản thân

protein enzyme bị phân cắt thành những amino acid. Vì vậy cấu trúc bậc 1, 2, 3, 4 của

protein enzyme là cần thiết cho hoạt tính xúc tác của chúng.Enzyme, cũng như những

protein khác, có trọng lượng phân tử khoảng 12.000 đến hơn 1000.000.

Một số enzyme cấu tạo gồm toàn những phân tử L amino acid liên kết với nhau tạo

thành, gọi là enzyme một thành phần. Đa số enzyme là những protein phức tạp gọi là

enzyme hai thành phần. Phần khơng phải protein gọi là nhóm ngoại hay coenzyme. Một

coenzyme khi kết hợp với các apoenzyme khác nhau (phần protein) thì xúc tác cho q

trình chuyển hóa các chất khác nhau nhưng chúng giống nhau về kiểu phản ứng.



6



1.3.



Cơ chế hoạt động:



Những quan điểm hiện nay nhằm giải thích cơ chế tác dụng của enzyme đều cho

rằng khi enzyme (E) tưong tác với cơ chất (S) sẽ làm giảm năng lựợng hoạt hóa các phản

ứng hóasinh. Muốn làm giảm năng lượng hoạt hóa các phản ứng enzyme cần trải qua

nhiều giai đoạn trung gian và tạo thành phức chất nhất định giữa E và S.

Khi kết hợp với phân tử enzyme, do kết quả của sự cực hóa, sự chuyển dịch của các

electron và sự biến dạng của các mối liên kết tham gia trực tiếp vào phản ứng sẽ làm thay

đổi động năng và thế năng nên phân tử cơ chất trở nên hoạt động và dễ dàng tham gia

phản ứng.Việc tạo thành phức hợp E-S giai đoạn đầu xảy ra rất nhanh và rất không bền.

Do đó sau một thời gian dài mới được chứng minh bằng thực nghiệm.

Bằng chứng rõ ràng nhất về sự tồn tại của phức hợp E-S là thành công của hai nhà

hóa sinh Nhật Bản K.Iaglu và T. Ozava là tách được phức E-S trong phản ứng khử amin

bằng cách oxy hóa (loại trừ nhóm amine) một amino acid dãy D do oxydase xúc tác.Nhìn

chung ta có thể hình dung cơ chế tác dụng của enzyme lên cơ chất tạo sản phẩm bằng

phương trình tổng qt như sau:

E+SE-SP+E

1.4.



Tính đặc hiệu của enzyme:



Người a chia tính đặc hiệu ra làm 3 kiểu:

a.



Đặc hiệu phản ứng

Đặc hiệu cơ chất

Đặc hiệu không gian

Đặc hiệu phản ứng:

Đó là biểu hiện của một enzyme chỉ thường xuyên xúc tác cho một kiểu phản ứng



nhất định, ví dụ vận chuyển hydro từ chất cho (rượu bậc nhất hay rượu bậc hai) đến chất

nhận (NAD+ hay NADP+) hay chuyền nhóm amin từ một amino acid đến một ceto acid.

Các phản ứng loại thứ nhất do dehydrogenase xúc tác, còn phản ứng loại thứ hai do

aminotransferase xúc tác.

b. Đặc hiệu cơ chất:

- Đặc hiệu tuyệt đối:



7



Enzyme chỉ tác dụng lên một cơ chất nhất định, một ví dụ có tính chất kinh điển về

chun hố tuyệt đối là urease, enzyme chỉ phân giải ure. Hằng trăm thí nghiệm trên các

dẫn xuất của ure đều cho thấy chúng không bị phân giải dưới tác động của urease. Thực

ra người ta đã phát hiện khả năng phân giải cơ chất hydroxyure nhưng với tốc độ bé hơn

khoảng 120 lần

-



Đặc hiệu nhóm tuyệt đối:

Các enzyme này chỉ tác dụng lên những chất có cùng một kiểu cấu trúc phân tử,



một liên kết và có những yêu cầu xác định đối với nhóm nguyên tử đối vơi nhóm nguyên

tử ở gần liên kết chịu tác dụng. Ví dụ : maltase chỉ phân giải liên kếtglucosidic được tạo

thành từ glucoside của glucose với -OH của monose khác

-



.Đặc hiệu nhóm tương đối:

Các enzyme khơng có những yêu cầu đối vơi nhóm chức ở gần liên kết chịu tác



dụng. ví dụ lipase thuỷ phân lipid.

c. Đặc hiệu không gian:

Các enzyme chỉ xúc tác cho một dạng đồng phân nào đó như dạng L hay dạng D,

dạng cis hay trans mà thôi.

2. Enzyme Pectinase

2.1.



Định nghĩa:



Enzyme pectinase là một nhóm enzyme thủy phân pectin , sản phẩm của quá

trình này là acid galacturonic, galactose, arabinose, methanol… đây là một nhóm ezyme

được ứng dụng rộng rãi trong cơng nghiệp chỉ đứng sau amylase và protease. Enzyme

này ban đầu được phát hiện trong các dịch chiết trái cây như cà rốt, cà chua hay đại

mạch. Đầu tiên phải kể đến là phát hiện của E.fremi (1840) trên đối tượng cà rốt.

2.2.



Cấu tạo hóa học và cấu trúc khơng gian của Enzyme



Pectinase:

Pectin là polysaccharide dị thể, chủ yếu là một mạch chính gồm các gốc acid –α –

D- 1,4 galacturonic, liên kết với nhau bằng liên kết 1,4–O glucozic còn gọi là acid



8



polygalacturonic hay acid pectic. Pectine hòa tan trong tự nhiên là ester metylic của acid

pectic.

Trong thực tế không phải tất cả các nhóm –COOH ở C6 của đường galactose cũng

bị metyl hóa (tạo ester metylic), mà đơi khi một số nhóm –COOH bị decacboxyl hóa

(khử CO2), một số nhóm –COOH thay thế -H bằng kim loại, cũng có lúc giữ nguyên

dạng –COO. Người ta cho rằng protopectine là hợp chất giữa pectine và araban, galactose

hay tinh bột.

Trọng lượng phân tử từ 20.000 – 200.000 đvC

Enzyme pectinase cũng như hầu hết các enzyme khác là chất xúc tác sinh học có

bản chất là protein, có khả năng xúc tác với độ đặc hiệu cơ chất cao. Các chất xúc tác này

thường có cấu trúc rất phức tạp và thường để đảm bảo có tính xúc tác, enzyme có cấu

trúc bậc IV.

Trong cấu tạo bậc IV, nhờ vào tương tác hóa học giữa các thành phần mà chúng

hình thành nên trung tâm hoạt động. Enzyme polygalacturonase (pectinase) chứa 1 vùng

8 – 10 vòng xoắn kép về phía phải với 2 vòng sẽ tạo thành 1 khe liên kết với cơ chất.

Người ta nguyên cứu nhận thấy rằng trung tâm hoạt động của enzyme này chứa 2aa là

Aspartat và lysin. Người ta cũng bảo rằng có một histidin nằm gần trung tâm hoạt động

sẽ ảnh hưởng đến khả năng xúc tác của enzyme.

2.3.



Phân loại



Enzyme pectinase có thể phân loại theo cơ chế tác dụng của chúng:

Bảng 1: Bảng phân loại enzyme pectinase

St



1



Enzym (tên gọi theo hệ



Enzym(tên



thống)



thường gọi)



Pectin-pectinhydrolase



Pectinesterase



Phản ứng xúc tác



Pectin + H2O = n metanol +

pectic acid



9



2



Poly-a -1,4 galacturonidglycano hydrolase-PG



3



Poly-a



Endopoly



Thủy phân liên kết a -1,4-D-



galacturonase



galacturonid trong galacturonid



(endo-PG)



không theo một trật tự nào



-1,4-D-Exopoly



Thủy phân liên kết a -1,4-D-



galacturonidgalacturon-



galacturonase



hydrolase



(exo-PG)



galacturonid trong pectat, trong

galacturonic với sự đứt mạch

của acid galacturonic



4



Poly-a



-1,4-D-Endopolymetil-



Thủy phân liên kết a -1,4-D-



galacturonidmetilester-



galacturonase



galacturonid trong pectin không



glycanohydrolase



(Endo-PMG)



theo một trật tự nhất

định.



5



Poly-a -1,4-D- galacturonid Exo-pectatliase



Thủy phân liên kết a -1,4-D-



digalacturonoliase



galacturonid trong pectat với



(exo-PKTE)



Sự tạo thành D -4,5

aciddegalacturonic không theo

một trật tự nhất định.

6



Poly-a -1,4-D- galacturonid Endopectatliase

glicanoliase



(PETE)



Thủy phân liên kết a -1,4-Dgalacturonid trong pectat, trong

galacturonic với sự tạo thành nối

đôi không theo một trật tự

nhất định



7



Poly-a -1,4-D- galacturonid Endopectinliase

metylester



(Endo-PTE)



glicanoliase



Thủy phân liên kết a -1,4-Dgalacturonid trong pectin với sự

tạo thành nối đôi không

theo một trật tự nhất định



Pectinesterase (PE): xúc tác sự thủy phân của các nhóm methyl ester.

10



Enzyme thường tấn cơng vào các nhóm ester methyl của đơn vị galaturonate nằm

kề đơn vị không bị ester hố, phân cắt các nhóm methoxy (COOCH3) đứng cạnh các

nhóm –COOH tự do, tạo thành acid pectinic hoặc acid pectic và methanol. Pectinesterase

thu được từ các nguồn khác nhau có giá trị pH tối ưu khác nhau. Nếu thu từ nguồn VSV

thì PH tối ưu từ 4,5-5,5, còn nếu từ nguồn thực vật thì có pH tối ưu từ 5,0-8,5.

Pectinesterase từ nấm mốc có nhiệt độ tối ưu là 30-40oC và bị vơ hoạt ở 55-62oC.

Pectinesterase thường được hoạt hố bởi các ion Ca2+ và Mg2+.

Polygalacturonase:

Còn có tên gọi là poly -1,4- galacturoniglucanohydrolase, xúa tác sự phân cắt các

mối



liên



kết



–1,4-



glycosid.



Các



exo-PG



(exo-poly



1,4-Dgalacturonide)



galacturonohydrolase, phân cắt từ các đầu không khử, và endo-PG (endo-poly1,4--Dgalacturonide) glycanohydrolase, tấn cơng ngẫu nhiên vào giữa mạch cơ chất.

Polygalacturonase ít gặp trong thực vật nhưng có chủ yếu ở một số nấm mốc và vi khuẩn.

Polygalacturonase là một phức hệ enzyme gồm có nhiều cấu tử và thường có tính đặc

hiệu cao đối với cơ chất. Trên cơ sở tính đặc hiệu và cơ chế tác dụng với cơ chất, enzym

polygalacturonase được chia làm bốn loại:

Polymethylgalacturonase

Hay còn gọi là -1,4-galacturonite- methylesglucanohydrolase, tác dụng trên

polygalactorunic acid đã được methoxyl hoá (tức là pectin). Enzyme này lại được phân

thành hai nhóm nhỏ phụ thuộc vào khả năng phân cắt ở trong hay cuối mạch trong phân

tử pectin, đó là endo-glucosidase-polymethyl galacturonase kiểu I và exo-glucosidasepolymethylgalaturonase kiểu II.

Polygalacturonase

Enzyme tác dụng trên pectic acid hoặc pectinic, cũng được chia thành hai nhóm

nhỏ là endo-glucosidase-polygalacturonase kiểu II và exo-glucosidase-polygalacturonase

kiểu IV. Enzyme endo- glucosidase-Polymethyl-galacturonase kiểu I là enzyme

polymethylgalacturonase dịch hố pectin có mức độ methyl hố càng cao thì bị thủy phân

bởi enzyme này càng nhanh và càng có hiệu quả. Trong dung dịch, khi có mặt của



11



enzyme pectinesterase thì hoạt độ của enzyme này thường bị giảm. Enzyme này rất phổ

biến trong các VSV, đặc biệt là nấm mốc A. niger, A, awamori.

Pectate lyase (PEL)

Xúc tác sự phân cắt các đơn vị galacturonate không bị ester hoá. Cả hai enzyme

exo-PEL (exo-Poly(1,4--D-galac turonide) lyase) và endo-PEL (endo-poly(1,4--Dgalacturonic lyase) đều tồn tại. Pectate và pectin có lượng methoxyl thấp là các cơ chất

thích hợp hơn cả cho các enzyme này. Nói chung, cả hai enzyme này đều có khoảng pH

tối đa nằm trong khoảng từ 8,0-11, đều cần ion Ca2+



để hoạt động. Pectate lyase



khơng được tìm thấy trong cây xanh, nhưng có ở vi khuẩn và nấm. Các enzyme VSV

ngoại bào này đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình gây bệnh ở thực vật, gây ra

sự phân hủy mô của thành tế bào, làm mềm và làm mục mơ thực vật.

Ngồi ra còn có:

Pectin-transeliminase



hay



còn



được



gọi







poly



–1,4-galaturonite



methylesteglucanoliase, là enyme tác dụng trên pectin và pectinic acid.

Polygalactorunate-transeliminase còn được gọi là



poly -1,4D- galaturonite –



glucanoliase, là enzyme tác dụng trên pectic acid và pectinic acid.

Pectin lyase (PNL): xúc tác sự phân cắt các đơn vị galacturonate đã bị ester hoá. Tất cả

các PNL đều là endo-enzyme.

2.4.



Đặc điểm của Enzyme pectinase:



2.4.1.



Enzym pectinase từ nguồn thực vật:



Pectinesterase:

Trong thực vật, hầu hết các loại cây cho trái đều chứa enyme PE.Enzyme này

thường tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nằm trong phần vỏ tế bào. PE ở thực vật

nói chung có hoạt độ tối ưu trong khoảng pH hơi kiềm. Các cation kim loại ở nồng độ

thấp, như Ca2+ chẳng hạn, có khuynh hướng làm tăng nồng độ hoạt động của enzyme.

Cà chua chứa ít nhất hai loại PE. Cả PE1 và PE2 đều tăng trong giai đoạn đầu của

quá trình chín. Khi bước vào giai đoạn chín, nồng độ enzyme PE1 giảm xuống, nhưng

PE2 tích luỹ dần cho đến khi trái cây có màu đặc trưng của trái chín. PE2 có khối lượng

12



phân tử 23kD, pH tối ưu 7,6. Enzyme này bị bất hoạt 50% sau 5 phút đun ở 67oC. Các

ion Ca2+ và Na+ làm tăng hoạt độ của enzyme lên tối đa ở các nồng độ 0,005M và

0,05M, theo thứ tự.

PE của đậu nành là protein có khối lượng phân tử 33kD, hoạt động tối ưu tại pH gần

8. Polygalacturonic acid, là sản phẩm được hình thành do q trình để methyl hố các

phân tử galacturonic acid.

Trong thịt quả chuối có hai isoenzyme PE. Cả hai có cùng khối lượng phân tử là

30kD, nhưng có điểm đẳng điện khác nhau: 8,8 và 9,3. Các enzyme này hoạt động ở pH

tối đa là 7,5. Hoạt độ enzyme tăng lên khi thêm vào dung dịch NaCl ở nồng độ 0,2M, và

đưa pH của dung dịch về 6,0. Các enzyme này bị ức chế bởi nhiều loại.

Polyol có khối lượng phân tử thấp, như glycerol, sucrose, glucose maltose và

galactose.

PE trong quả cam có hai loại: đó là hai isoenzyme PE1 và PE2 có khối lượng phân

tử 36,kD, nhưng có điểm đẳng điện khác nhau là -10,05 và 11,0, theo thứ tự. pH tối ưu

của PE1 là 7,6, còn của PE2 là 8,0.

Trong thành phần của nhiều thịt quả khác cũng chứa hai isoenzyem, một trong hai

enzyme này có tính bền nhiệt hơn, còn enzyme kia thì ít mẫn cảm hơn khi bị tác động của

protease. Độ ổn định của enzyme có thể liên quan đến mức độ glycosyl hoá của các phân

tử enzyme. Enzyme bền nhiệt hơn và enzyme còn lại có khối lượng là 51kD và 36kD,

theo thứ tự.

Cả táo và kiwi cũng chứa hai loại isoenzyme. Các isoenzyme của kiwi có cùng khối

lượng phân tử là 57kD và cùng điểm đẳng điện là 7,3. Tuy nhiên, chúng khác nhau về

mức độ bền nhiệt.

Polygalacturonase:

Hầu hết các nghiên cứu về PG đều trên cơ sở các nguồn VSV. PG thường được tìm

thấy trong các phần tiết ngoại bào của các lồi nấm và vi khuẩn gây bệnh, chẳng hạn như

Sacchromyces gragilis, Aspergillus niger, Lactobacillus plantarum, Cochiliobolus

carbonum, Neurospora crassa, các loài Ascomycete, Phizopus arrchizus, và Fusarium



13



osyporum. Tuy nhiên, trong thực tế, PG của thực vật bậc cao được nghiên cứu rất nhiều ở

cà chua chín.

Các enzyme PG trong cà chua chín tồn tại dưới hai dạng, và cả hai đều là endoenzyme.PG1 có khối lượng phân tử 84kD và có khoảng 50% bị bất hoạt ở nhiệt độ

78oC.PG2 có khối lượng phân tử 44kD và có khoảng 50% bị bất hoạt ở 57oC. PG1 có độ

ổn định tối đa ở pH 4,3, trái lại PG2 ổn định tối đa ở pH 5,6.

Exo-PG thủy phân các đầu không khử của chuỗi polygalacturonic, tạo ra

galacturonic acid là sản phẩm thủy phân chiếm ưu thế.Sự thủy phân polymer này bị gián

đoạn của sự tồn tại của các mạch nhánh trong cơ chất.

Mức độ thuỷ phân tăng tỉ lệ với kích thước cơ chất, đạt tối đa với mức polymer hoá

20 đối với các exo-PG ở cà rốt và đào. Hoạt động của các exo- enzyme làm tăng nhanh

sự tạo thành các nhóm khử và làm tăng chậm độ nhớt của dung dịch cơ chất. Sự phân hủy

polyuronide trong q trình chín khơng gây ra sự tích lũy galacturonic acid, và chỉ có

endo-enzyme PG là có liên quan.

2.4.2.



Enzym pectinase từ vi sinh vật



Nguồn giàu enzyme pectinase là nấm mốc, nấm men, vi khuẩn.

Nấm



mốc: penicillium glaucum,



p.ehrlichii, p.chrysogenum, p.expanam,



p.cilrimim, aspergillus awamori, a.foetidus, a.niger, a.terrus, a.saitoi, a.aureus, a.oryzae,

a.wentii, fusarium moniliforme,…

Nấm men: saccharomyces fragilis

Vi khuẩn: bacillus polymyxa, flavobacterium pectinovorum, klebsiella aerogenes

Các lồi vi sinh vật này thường có trong bề mặt tất cả các loại quả, các bộ phận

khác của thực vật. khi quả bị hư hỏng, hoặc thực vật chết, chúng sẽ cùng các loài vi sinh

vật khác phá huỷ nhanh quả và các bộ phận của thực vật. Người ta thường thu pectinase

từ canh trường bề mặt hoặc từ canh trường bề sâu của nấm mốc.

Các vi khuẩn và nấm men cũng tổng hợp được enzime này a.niger chủ yếu tổng hợp

ra pectinnesterase. con.diplodiella, pen.citrimin tạo ra chủ yếu là polygalacturonase.

Nấm men sacch.fragilis dường như chỉ tạo ra endopectintraseliminase.

14



Vi khuẩn bac.polymyxa, bac.species lại chủ yếu tạo ra transeliminase

Vài trò của enzyme pectinase



CHƯƠNG 2: Q TRÌNH THU NHẬN ENZYME PECTINASE

1. Nguồn gốc thu nhận:

Từ vi sinh vật: Vi sinh vật phân giải pectine hầu như có mặt ở các đại diện nấm

mốc, nấm men, vi khuẩn như:

-



Nấm mốc: Penicillium glaucum, P. ehrlichii, P.chrysogenum, P.expanam, P.

cilrimim, aseergillus awamori, A.foetidus, A.niger, A.terrus, A.saitoi,



-



Fusarium moniliforme,…

Nấm men: saccharomyces fragilis.

Vi khuẩn: bacillus polymyxa, Flavobacterrium pectinovorum, Klebsiella

aerogenes,…



Các lồi VSV thường có trong bề mặt tất cả các loại quả, các bộ phận khác của thực vât.

Khi quả bị hư hỏng, hoặc thực vật chết, chúng sẽ cùng các loài VSV khác phá hủy rất

nhanh quả và các bộ phận của thực vật.

2. Thu nhận:

Hiện nay, người ta thu nhận chế phẩm pectinase chủ yếu từ vi sinh vật. Có 2 phương

pháp sản xuất pectinase:

2.1.



Thu nhận chế phẩm pectinase từ canh trường bề mặt:



Môi trường sử dụng để nuôi cấy vi sinh vật để thu nhận pectinase thường là cám

gạo, hay cám mì, bã củ cải hoặc thóc mầm. Nguồn dinh dưỡng bổ sung thường là các muối

ammonium, phosphoric,…Độ ẩm môi trường phải nằm trong khoảng 60%.Nấm mốc

A.awamori thường được nuôi cấy ở 300C trong thời gian 40h, sau đó giảm xuống 240C

và ni trong 48-52h. Sản phẩm sau lên men được sấy khô thành chế phẩm enzyme thô

và đem tinh chế.

15



Để thu dược chế phẩm enzyme pectinase tinh khiết thì chế phẩm enzyme thơ phải

được trích ly bằng phương pháp kết tủa nhờ dung mơi hữu cơ hay muối ammonium

sulfate. Dung môi hữu cơ sử dụng để kết tủa enzyme pectinase có thể là rượu ethanol

(72,5-75%) hoặc isopropanol (55-57%). Muối ammonium sulfate sử dụng có độ bão hòa

0,79. Khi kết tủa bằng rượu ethanol, chế phẩm enzyme thu được có độ tinh khiết khoảng

90%, còn nếu bằng muối thì độ tinh khiết đạt khoảng 75%. Nhiệt độ kết tủa đối ưu đối

với rượu là 2-50C, thời gian tiếp xúc với rượu càng ngắn càng tốt. Sau đó, ly tâm để tách

kết tủa khỏi dung dịch, sấy kết tủa trong thiết bị sấy chân không sấy thăng hoa rồi nghiền

nhỏ và đem bảo quản.

2.2.



Thu nhận chế phẩm enzyme từ canh trường bề sâu:



 Phương pháp hiếu khí

Sự tích tụ enzyme trong mơi trường được bắt đầu khi sự phát triển của vi sinh vật

gần đạt đến pha ổn định, khi mơi trường bị acid hóa mạnh và khi lượng phospho vơ cơ

được sử dụng hồn tồn. pH của môi trường nuôi cấy thường đạt từ 6-7,2 là thích

hợp. Đối với nấm mốc, pH kiềm kìm hãm sự tổng hợp sinh khối và sự tích lũy enzyme

pectinase. pH = 4 ức chế hồn tồn sự tích lũy enzyme pectinase. Khi pH dịch về acid,

ngay cả khi pH nằm trong khoảng 4,5-5,0, tuy sự tạo thành sinh khối không bị ảnh hưởng

nhưng sự tạo thành enzyme enzyme pectinase bị kìm hãm. Tuy nhiên, pH của các mơi

trường ni cấy A. niger và A. awamori 16 có thể dịch về 3,5-3,8 và 2,9-3,2 theo thứ tự.

Vật liệu gieo cấy có thể là sợi nấm 24, 32 và 48h tuổi và với hàm lượng từ 2-10%.

Đối với A. niger và A. awamori, vật liệu gieo cấy là sợi nấm được ủ sơ bộ trong môi

trường dinh dưỡng cho đến khi bắt đầu nứt nanh bào tử. Thời gian ủ sơ bộ thường là 3842h. Lượng sợi nấm đem gieo cấy thường là 2%. Trong q trình ni cấy, hàm lượng các

chất hòa tan trong mơi trường thường giảm từ 6% xuống còn 1,5-1,8%.

Để thu chế phẩm khơ, cần tách sợi nấm ra khỏi canh trường lỏng. Cô đặc chân

không canh trường lỏng đến kh hàm lượng chất khô đạt 5-8% rồi sấy khi trên thiết bị sấy

phun. Điều kiện sấy phun là nhiệt độ chất tải nhiệt đi vào phải đạt 165-1800C và đi ra đạt

60-700C. Thời gian lưu của chế phẩm enzyme trong thiết bị sấy phun phải không quá 7

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ENZYME PECTINASE

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×