Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



nghề tiểu thủ cơng nghiệp được duy trì, khơi phục và phát triển theo hướng cơng nghiệp

hóa. Đồng thời, với chủ trương sử dụng khu đất bãi bồi ven sông Hậu để thực hiện xây

dựng cụm công nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp Vĩnh Mỹ, đã góp phần khẳng định cơ cấu

cơng nghiệp giữ vai trò chủ đạo của kinh tế địa phương, giải quyết lực lượng lao động

nhàn rỗi trong nhân dân.

Về tôn giáo, trên địa bàn phường có 03 chùa, 04 miễu, có 92,24% dân số theo đạo

như đạo Phật, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên chúa. Hoạt động tôn giáo, dân tộc diễn

ra theo đúng luật định; các cơ sở thờ tự tổ chức các ngày lễ, cúng vía, tết cổ truyền một

cách trang nghiêm, trật tự, đúng theo nghi thức tôn giáo và chương trình hoạt động đã

đăng ký từ đầu năm; bà con có đạo thực hiện tốt phương châm sống tốt đời đẹp đạo, phát

huy tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng

và Nhà nước, yên tâm lao động, sản xuất, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của

địa phương.

Hệ thống chính trị phường ngày càng được tinh giản và gọn nhẹ, đáp ứng yêu cầu

nhiệm vụ trong tình hình mới. Đội ngũ cán bộ Nhà nước có trình độ chun mơn nghiệp

vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao, ý thức trách nhiệm được nâng cao, nhiệt tình hướng

dẫn cơng dân khi đến liên hệ cơng việc, hồ sơ của cơng dân được giải quyết nhanh chóng,

khơng kéo dài và khơng để tồn đọng, tạo được lòng tin trong nhân dân. Cùng với việc xây

dựng mới trụ sở làm việc của Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMT.TQVN phường và các tổ

chức đồn thể đã tạo mơi trường làm việc xanh, sạch, đẹp cho đội ngũ cán bộ, công chức

phường và tạo sự thoải mái, dễ chịu cho công dân khi đến liên hệ công việc.

Công tác gải quyết thủ tục hành chính được quan tâm thực hiện nhanh và đúng qui

định. Cụ thể, trong năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 đã tiếp nhận và giải quyết 4.367

hồ sơ, trả ết quả đúng hạn đạt 100%. Công tác tiếp cơng dân được duy trì đúng quy định ,

Nhìn chung, trong những năm gần đây, trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ, với tốc độ

đơ thị hóa ngày càng tăng, là tiền đề thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt trên các lĩnh vực

đời sống xã hội, cùng với sự tích cực tham gia và hưởng ứng cuộc vận động "Học tập và

làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương tiêu

biểu, vượt qua những khó khăn do ảnh hưởng suy thối kinh tế, tồn thể Đảng bộ và nhân

dân địa phương sẽ không ngừng tiếp tục nỗ lực phấn đấu để đưa địa phương ngày càng

phát triển theo hướng bền vững.

3.1.2. Tình hình thực hiện cơng tác hòa giải ở cơ sở phường Vĩnh Mỹ, thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

3.1.2.1. Về mơ hình tổ chức

Mơ hình Tổ hòa giải trong cả nước nói chung, ở phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu

Đốc, tỉnh An Giang nói riêng rất phong phú. Tổ hòa giải được xác định là tổ chức quần

chúng của nhân dân được thành lập theo từng khóm, đối với Ủy ban nhân dân phường thì

thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất, đối với khóm thì thành lập Tổ hòa giải. Trên

địa bàn phường Vĩnh Mỹ đã được thành lập 06 Tổ hòa giải hoạt động ở 06 khóm của

phường và 01 Hội đồng hòa giải tranh chấp đất hoạt động ở Ủy ban nhân dân phường.

Nhìn chung những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân điều do các tổ chức

này hòa giải.

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



22



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Xuất phát từ vị trí, vai trò của Tổ hòa giải là tổ chức quần chúng nhân dân lập nên

trên cơ sở được nhân dân tín nhiệm bầu ra, tổ hòa giải rất đa dạng, phong phú cả giới tính

và cơ cấu xã hội, nghĩa là có nam, có nữ, có già, có trẻ, có đảng viên, có đồn viên, có

người dân tộc, có người đang cơng tác nhà nước, có người đã nghỉ hưu, có nơng dân, cựu

chiến binh.

Số lượng tổ viên của tổ hòa giải ở các khóm rất đa dạng, phần lớn Tổ hòa giải ở

các khóm từ 5 ─ 7 thành viên, có một số khóm dân cư đông cơ cấu từ 7 ─ 9 thành viên.

Đồng thời thơng qua cơng tác hòa giải, lồng ghép tun truyền, phổ biến, giáo dục

pháp luật, vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước.

3.1.2.2. Về hoạt động của Tổ hòa giải

Để đánh giá về hoạt động của Tổ hòa giải ở phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu

Đốc, mà cụ thể là một số vụ việc điển hình như sau:

Vụ việc 1: Mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình do khác nhau

về quan niệm sống, lối sống, tính tình khơng hợp hoặc mâu thuẫn, xích mích giữa các cá

nhân trong quan hệ xóm ghiền như sử dụng lối đi qua nhằm sử dụng điện, nước sinh hoạt,

cơng trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung…

Cụ thể được thể hiện qua vụ việc sau: Vào ngày 28 tháng 02 năm 2018 ông A, cư

ngụ phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc gửi đơn yêu cầu, nội dung yêu cầu bà B cư

ngụ cùng xóm, hai gia đình sử dụng chung một đường kênh thốt nước sinh hoạt ra sông,

việc bà B thu mua thủy sản trong việc xử lý nước thải mất vệ sinh gây ô nhiễm cho gia

đình ơng A, được ơng A nhắc nhở nhiều lần nhưng bà B không khắc phục và dẫn tới mâu

thuẫn với nhau, nay yêu cầu Tổ hòa giải can thiệp vụ việc trên.

- Mơ tả q trình vụ việc:

Bước 1: Trước khi hòa giải

Tổ trưởng Tổ hòa giải xem xét nội dung đơn yêu cầu của ông A, trước khi tiến

hành hòa giải. Tổ trưởng tổ hòa giải chủ động xuống địa điểm xảy ra vụ việc xác minh,

tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, để tìm biện pháp khắc phục, không để việc

đơn giản thành phức tạp.

Tổ trưởng Tổ hòa giải nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

đến vụ việc, bố trí thời gian và địa điểm gửi thư mời cho các đương sự có liên quan đến tổ

chức hòa giải, thành phần tổ hòa giải bao gồm:

- Thành phần tổ hòa giải gồm có 7 người:

+ Trưởng khóm – Tổ trưởng

+ Trưởng Ban công tác Mặt trận ─ Thành viên

+ Chi hội trưởng cựu chiến binh ─ Tổ trưởng

+ Chi hội trưởng hội nông dân ─ Thành viên

+ Chi hội trưởng HLHPN ─ Thành viên

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



23



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



+ Bí thư Đồn thanh niên khóm ─ Thành viên

+ Chi hội trưởng HLHTN ─ Thành viên

Bước 2: Trong q trình hòa giải

Tổ trưởng Tổ hòa giải chủ trì cuộc hòa giải khai thơng nội dung cuộc hòa giải quy

trình nội dung cuộc hòa giải.

- Ý kiến phát biểu của ông A là nguyên đơn: cho rằng bà B cư ngụ cùng xóm trong

hoạt động kinh doanh thu mua thủy hải sản thì việc xử lý rác, nước thải gây mất vệ sinh,

làm ơ nhiễm cho gia đình ông A, được ông A nhắc nhở nhiều lần nhưng bà B không khắc

phục, nay ông A yêu cầu Tổ hòa giải xem xét buộc bà B khắc phục tình trạng trên.

- Ý kiến phát biểu của bà B là bị đơn: Bà B cho rằng trong việc thu mua thủy hải

sản của gia đình bà và việc xử lý nước, rác thải sinh hoạt trong hoạt động kinh doanh là

khơng có gây ơ nhiễm mơi trường, gia đình bà tự dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ khi thu mua

thủy hải sản.

- Ý kiến phát biểu của Tổ trưởng Tổ hòa giải: sau khi nghe ý kiến trình bày của hai

bên và xác định đây là vụ mâu thuẫn nhỏ mà ngun nhân chính là do khơng có ý thức

trong việc đảm bảo vệ sinh chung của bà B, tổ hòa giải đã nói với các bên về quan hệ

hàng xóm láng giềng, về phong tục, tập quán của người Việt Nam và truyền thống đoàn

kết, tương thân, tương ái của cộng đồng. Sau đó căn cứ vào các quy định của pháp luật

tiến hành phân tích, giải thích rõ cái sai, cái đúng của từng người.

- Về phía bà B: Tổ trưởng Tổ hòa giải đã tìm cách chứng minh cho bà biết về việc

bà xử lý nước thải trong thu mua thủy hải sản là không hợp vệ sinh, gây ô nhiễm môi

trường ảnh hưởng đến những gia đình lân cận. Ngồi ra, phân tích thêm việc làm trên là

sai và bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật nếu như bà không khắc

phục.

- Về phía ơng A: Tổ trưởng Tổ hòa giải động viên ơng khơng nên tạo mâu thuẫn

thêm, lấy tình người là tình làng nghĩa xóm đối xử với nhau.

Sau khi nghe sự giải thích có tình, có lý của Tổ trưởng Tổ hòa giải thì hai bên hiểu

ra sự việc và cùng nhau vui vẻ khơng còn mâu thuẫn với nhau nữa.

Bước 3: Kết thúc việc hòa giải

Cuộc hòa giải mâu thuẫn giữa ông A và bà B đã thành, tạo tình làng nghĩa xóm

thêm thắt chặt.

Vụ việc 2: Tranh chấp về quyền đất về lối đi chung.

Cụ thể được thể hiện qua vụ việc sau: Bà C cư ngụ tại phường Vĩnh Mỹ, thành

phố Châu Đốc và bà D cư ngụ cùng khóm với nhau. Vào năm 2016 gia đình bà C gặp khó

khăn về lối đi (do nhà bà C nằm trong hẻm) nên bà C đến hỏi bà D xin cho đi chung với

con hẻm của nhà bà D (nhà bà D có con hẻm đi từ nhà ra vườn nhà bà và lối đi này cũng

là con đường di nhất để hộ bà C đi ra bên ngồi). Việc đi lại khó khăn do bà bà D thường

xuyên khóa cửa rào con hẻm. Từ đó, bà C đến gặp bà D để thương lượng xin được hỗ trợ

một phần tiền là 5.000.000 đồng để hộ bà C được làm chìa khóa và được đi trên lối đi này,

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



24



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



nhưng bà D không đồng và dẫn đến mâu thuẫn xích mích xảy ra. Cho đến ngày 27/3/2018

bà C gửi đơn yêu cầu Hội đồng hòa giải tranh chấp đất của phường yêu cầu giải quyết vụ

việc trên giúp bà.

- Mơ tả q trình hòa giải vụ việc:

Bước 1: Trước khi hòa giải

Cán bộ tư pháp phường xem xét nội dung đơn yêu cầu của bà C là việc yêu cầu

thuộc thẩm quyền tại phường, trước khi tiến hành hòa giải cán bộ tư pháp xác minh cụ thể

vụ việc, tìm hiểu nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn nhằm đưa ra phương pháp hòa giải đạt

hiệu quả cao.

Cán bộ tư pháp nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc

yêu cầu, bố trí thời gian và địa điểm và gửi thư mời cho bên tranh chấp và bên bị bị tranh

chấp để tổ chức hòa giải, sau đó thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất.

- Thành phần của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất gồm:

+ Phó chủ tịch UBND phường ─ Chủ tịch Hội đồng.

+ Cán bộ tư pháp ─ Thành viên.

+ Cán bộ địa chính ─ Thành viên.

+ Chủ tịch UBMTTQVN phường ─ Thành viên.

+ Chủ tịch HCCB phường ─ Thành viên.

+ Chủ tịch Hội nông dân ─ Thành viên.

+ Chủ tịch HLHPN ─ Thành viên.

+ Bí thư Đồn TNCS HCM phường ─ Thành viên.

+ Tổ trưởng Tổ tự quản (người biết rõ nguồn gốc đất) ─ Thành viên.

Bước 2: Trong khi hòa giải

Cán bộ tư pháp phát biểu tuyên bố lý do nội dung cuộc hòa giải, thành phần Hội

đồng hòa giải tranh chấp đất gồm có những ai.

- Ý kiến bên tranh chấp là bà C: vào năm 2016 gia đình bà C mua nhà ở trong con

hẻm, do khơng có tiền mua ở mặt tiền và có xin đi nhờ con đường trên phần đất của bà D.

Đến nay việc đi lại khó khăn do bà D thường xuyên khóa cửa rào con hẻm. Thấy đi trên

đất của nhà bà D nên tôi đến gặp bà D để thương lượng xin được hỗ trợ một phần tiền là

5.000.000 đồng để gia đình tơi được làm chìa khóa và được đi trên lối đi này. Xin nhà

nước giải quyết để cho gia đình tơi có lối đi, tạo điều kiện cho con, cháu đi làm và đi học

được thuận lợi.

- Ý kiến bên bị tranh chấp là bà D: Bà D cho rằng việc đóng cửa rào là bảo vệ tài

sản của gia đình bà nên khơng nhận tiền từ bà C, bà C muốn đi thì qua hỏi bà D sẽ cho

mượn chìa khóa.

- Ý kiến của Chủ tịch Hội đồng hòa giải: sau khi tìm hiểu sự việc, xác định nguyên

nhân chính là do việc lối đi chung và giữ gìn an tồn tài sản chung của hai hộ.

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



25



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Vì thế Chủ tịch Hội đồng hòa giải đã giải thích cho bà D và bà C hiểu về mối quan

hệ tình làng, nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Đồng thời Chủ tịch Hội đồng hòa giải

cũng nói cho bà C biết là việc làm D cũng là bảo đảm an toàn tài sản của hai bên, đồng

thời cũng phân tích cho bà D hiểu rằng bà C bất tiện trong việc qua hỏi mượn chìa khóa

và nếu có sự cố vào ban đêm thì lại càng khó khăn. Từ các lẻ trên, việc bà C xin làm thêm

chìa khóa để tiện ra vào là cần thiết và hai bên cũng có ý thức giữ gìn tài sản chung.

Bước 3: Kết thúc việc hòa giải

Cuộc hòa giải mâu thuẫn giữa bà C và bà D đã thành, bà D và bà C vui vẻ với nhau

khơng còn mâu thuẫn xích mích nữa.

Nội dung tổ chức cuộc hòa giải đúng quy trình theo quy định, phân tích giải thích

có tính thuyết phục cao. Bên cạnh đó, trong q trình hòa giải cần phân tích sâu hơn về

nhân cách đối nhân xử thế và quan hệ tình làng nghĩa xóm.

3.1.2.3. Kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở phường Vĩnh Mỹ

Trong năm 2017 và 06 tháng đầu năm 2018, tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn

nhưng với sự chỉ đạo kịp thời của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Mỹ sự kiểm

tra giám sát của Hội đồng nhân dân đã tạo điều kiện cho tình hình kinh tế ─ xã hội phát

triển mạnh mẽ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao. Đặc

biệt là tình hình hoạt động của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất của phường và Tổ hòa

giải của các khóm ngày càng được củng cố và hoạt động có hiệu quả. Hội đồng hòa giải

phường và Tổ hòa giải của các khóm kết hợp với đồn thể thực hiện tốt công tác tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, quần chúng nhân dân, quán triệt tốt

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính

trị ở địa phương.

Trong 6 tháng đầu năm 2018 Tổ hòa giải của 06 khóm trên địa bàn phường Vĩnh

Mỹ nhận được 10 đơn yêu cầu về tranh chấp trong nội bộ nhân dân, Tổ hòa giải các khóm

tổ chức hòa giải được 10 đơn đạt 100%. Hòa giải thành 08 đơn đạt 80%, hòa giải khơng

thành chuyển về phường 02 đơn chiếm 20%. Hội đồng hòa giải tranh chấp đất của

phường nhận được 20 đơn yêu cầu của nhân dân trong đó có 02 đơn hòa giải khơng thành

các khóm chuyển lên, Hội đồng hòa giải phường tổ chức đưa ra hòa giải 20 đơn yêu cầu

của nhân dân, hòa giải thành 12 đơn đạt 60%, hòa giải khơng thành chuyển lên Tòa án

giải quyết 08 đơn chiếm 40%.

3.1.3. Cần nâng cao hiệu quả cơng tác hòa giải ở cơ sở

Nâng cao hiệu quả hòa giải cơ sở là nhu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn

chính trị xã hội hiện nay.

- Về mặt chính trị: Trên thực tế nhiều trường hợp tranh chấp phát sinh hòa giải

tranh chấp còn kéo dài khiến cho người dân bức xúc gửi đơn vượt cấp đến cơ quan cấp

huyện, tỉnh hoặc khiếu nại làm mất trật tự an tồn xã hội.

Về cơng tác hòa giải tốt thì sẽ đảm bảo được an ninh chính trị, trật tự an tồn xã

hội và ổn định về mặt tâm lý cho người dân để họ an tâm làm ăn, sinh sống đem lại lòng

tin của người dân với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



26



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Tuy nhiên cũng cần có sự quan tâm của tồn hệ thống chính trị, Đảng lãnh đạo các

ngành các cấp, tuyên truyền những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp

luật Nhà nước cho người dân thông suốt. Làm tốt công tác này sẽ kiềm chế được nhiều

vấn đề tranh chấp xảy ra.

- Về mặt xã hội: Các tranh chấp được hòa giải tốt sẽ đảm bảo được sự đồn kết

trong nhân dân khơng gây mất tình cảm họ tộc, tình làng nghĩa xóm…, đồng thời cần có

sự đổi mới về phương thức xây dựng cộng đồng dân cư theo hướng văn minh, hiện đại.

Muốn giải quyết được vấn đề đòi hỏi các ngành, các cấp chung tay góp sức xây dựng, vận

động, thuyết phục họ chấp hành pháp luật một cách triệt để.

- Về mặt kinh tế: Tranh chấp được hòa giải sẽ đáp ứng lợi ích kinh tế của các bên,

đảm bảo cho các bên yên tâm sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí tốn kém.

Ngược lại nếu tranh chấp khơng được hòa giải tại cơ sở thì các bên khơng những

khơng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, mà còn tốn kém

chi phí đi lại khiếu nại hoặc có thể dẫn đến gia đình gặp khó khăn về kinh tế.

Từ đó để nâng cao chất lượng cơng tác hòa giải trong thời gian tới đòi hỏi chúng ta

phải có một đội ngũ hòa giải viên thật vững chắc về nghiệp vụ và thông tin về pháp luật.

Muốn giải quyết vấn đề khó khăn này thì đòi hỏi chính sách, chế độ đãi ngộ cho hòa giải

viên, như vậy mới thu hút được tầng lớp tri thức tham gia vào cơng tác này, đồng thời

cũng cần có sự quan tâm sâu sắc của tồn hệ thống chính trị, mà nhất là sự quan tâm trực

tiếp của cơ quan Nhà nước các cấp.

Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải

viên, giúp họ có một kiến thức nhất định để xử lý tốt các tình huống có thể xảy ra trong

q trình hòa giải, từ đó hiệu quả cơng tác hòa giải đạt hiệu quả cao nhất, góp phần giữ

vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội tại địa phương.

Cần có sự quan tâm trực tiếp của Ủy ban nhân dân phường, hỗ trợ giúp đỡ hướng

dẫn về mặt chuyên môn, cũng như thường xuyên phân công công chức Tư pháp ─ Hộ tịch

xuống khóm để hỗ trợ, phổ biến những vấn đề mới có liên quan đến cơng tác hòa giải;

quan tâm hỗ trợ kinh phí hoạt động cho tổ hòa giải, từ đó hòa giải viên thấy được sự quan

tâm, khích lệ của cấp trên, tích cực hơn trong cơng tác hòa giải.

3.2. Một số khó khăn vướng mắt trong cơng tác hòa giải ở cơ sở

Mặc dù Luật hòa giải ra đời đã cho thấy sự tiến bộ, mức độ hoàn thiện hơn rất

nhiều so với Pháp lệnh trước đó, cơng tác hòa giải ở cơ sở cũng đạt được nhiều thành tích

đáng khích lệ. Song trên thực tế hoạt động hòa giải trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ vẫn còn

bộc lộ một số vướng mắc cần được quan tâm và tìm hướng khắc phục. Cụ thể là:

- Hòa giải viên còn thiếu kiến thức về pháp luật, việc tổ chức, bồi dưỡng kiến thức

pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ cho tổ hòa giải của cơ quan Tư pháp địa phương chưa

đáp ứng yêu cầu kiến thức pháp luật của hòa giải viên, do sự thay đổi thường xuyên của

đội ngũ này, nên việc tập huấn kiến thức pháp luật gặp nhiều khó khăn.

- Trong khâu tập huấn đào tạo hòa giải viên có kỹ năng chuyên môn và kiến thức

pháp luật chưa được tổ chức nhiều. Đa số đội ngũ hòa giải viên đều là người lớn tuổi trình

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



27



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo chun mơn nghiệp vụ, kỷ năng xử lý tình huống chưa

linh hoạt, nên hiệu quả hòa giải thành còn thấp so với yêu cầu nhiệm vụ của công tác hòa

giải.

- Về chế độ đãi ngộ, chi trả cho hoạt động hòa giải vẫn chưa thỏa đáng. Kinh phí

cho hoạt động hòa giải hầu như khơng có, hầu hết người làm cơng tác hòa giải phải bỏ

nhiều thời gian của cá nhân để phục vụ cho cơng tác hòa giải. Nên từ đó khơng thu hút

được tầng lớp tri thức tham gia vào cơng tác hòa giải.

- Chưa trang bị tủ sách và các đầu sách pháp luật cho các khóm, vừa phục vụ cho

cán bộ ở khóm và phục vụ cho nhân dân tìm hiểu về pháp luật, đây cũng là một cách

tuyên truyền gián tiếp có thể giúp người dân am hiểu hơn về pháp luật.

- Tổ hòa giải không được đầu tư xây dụng cơ sở vật chất, đa số khi hòa giải tận

dụng nhà dân là chính. Khi hòa giải như vậy khó tập trung được đưa ra những ý kiến hay,

dẫn đến chất lượng hòa giải không cao.

3.3. Định hướng nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở

3.3.1. Định hướng hồn thiện pháp luật về cơng tác hòa giải ở cơ sở

Từ những phân tích, đánh giá trên đây, cho thấy Tổ chức hòa giải ở cơ sở trong

điều kiện hiện nay cần phải sửa đổi, bổ sung hoàn thiện theo hướng như sau:

Quan tâm chỉ đạo cơng tác hòa giải ở cơ sở, cụ thể ở những khu dân cư và đề cao

vai trò của các khóm và các chi hội đồn thể của khóm trong việc vận động nhân dân hòa

giải các vụ việc tranh chấp.

Phát huy vai trò nòng cốt của các thành viên tại các khóm, có nhiều chính sách

khuyến khích cho hòa giải viên để khích lệ, động viên họ, từ đó nâng cao cơng tác hòa

giải ở cơ sở, muốn làm được điều đó thì đề nghị Đảng và Nhà nước cần quan tâm như

sau:

Thứ nhất, tổ hòa giải là tổ chức tự quản do nhân dân chọn và bầu ra để thực hiện

nhiệm vụ hòa giải tranh chấp, các hòa giải viên phần lớn trình độ năng lực thấp kém,

không chuyên môn nghiệp vụ, chỉ được tập huấn cơng tác hòa giải một cách sơ sài.

Vì vậy cần có sự quan tâm về mặt nhân sự như: trình độ học vấn, bồi dưỡng kỹ

năng dài hạn để họ am hiểu được pháp luật và biết ghi chép biên bản hòa giải rõ ràng.

Thứ hai, chính vì vậy cơng tác hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả chưa cao, dẫn đến tình

trạng kéo dài hòa giải nhiều lần không thành, căn cứ pháp lý về thủ tục hòa giải ở cơ sở

của Tổ hòa giải hiện nay nhiều văn bản quy định chưa rõ, chưa phù hợp với thực tế cơng

tác hòa giải ở cơ sở.

Vậy cần phải cố gắng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ về hòa giải ở

cơ sở, quy định rõ hơn về vai trò, trách nhiệm, chế độ đãi ngộ hòa giải viên, hình thức xử

phạt đối với các bên khơng thực hiện cam kết của mình tại cuộc hòa giải thành, để vừa

mang tính răn đe, vừa nâng cao vai trò của tổ hòa giải ở cơ sở.

3.3.2. Tăng cường cơng tác hòa giải ở cơ sở



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



28



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Để tăng cường chất lượng hiệu quả cơng tác hòa giải ở cơ sở cần lưu ý thực hiện

một số vấn đề sau:

Thứ nhất, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân phường quan tâm thường xuyên bồi dưỡng,

hướng dẫn nghiệp vụ cho Tổ hòa giải, phân cơng cán bộ Tư pháp phường kèm cập, giúp

đỡ Tổ hòa giải, hòa giải viên, nâng cao kỹ năng, uy tín trong xã hội, nhất là kiến thức

pháp luật.

Hai là, phải phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành

viên của mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tạo điều kiện để các tổ hòa giải ở cơ sở hoạt

động. Có như vậy thì chất lượng cơng tác hòa giải ở cơ sở sẽ được nâng cao.

Ba là, Ủy ban nhân dân phường cần xây dựng kế hoạch thường xuyên kiểm tra các

tổ hòa giải để phát hiện những sai sót kịp thời hướng dẫn khắc phục, đồng thời có phân

cơng cán bộ hướng dẫn về mặt nghiệp vụ, viết biên bản, lưu hồ sơ… đảm bảo đúng quy

định của pháp luật.

Bốn là, địa phương nên quan tâm hỗ trợ thêm kinh phí cho Tổ hòa giải, hòa giải

viên có kinh phí hoạt động, nhằm khích lệ, động viên họ hoạt động đạt hiệu quả hơn.

3.3.3. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật

Tăng cường công tắc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và các văn bản có

liên quan để nâng cao hiểu biết về pháp luật cho nhân dân ở cơ sở, nhất là những điểm

mới của pháp luật.

Đảng và Nhà nước cần chỉ đạo các cơ quan báo, đài phát thanh, đài truyền hình,

đài truyền thanh thành phố, đài truyền thanh phường nên dành thời lượng thường xuyên

tuyên truyền pháp luật nói chung, pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống nói riêng; đến

quần chúng nhân dân bằng các hình thức phong phú và thiết thực, bài viết, chuyên đề,

biểu dương kịp thời những người làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật, phê phán những

hành vi vi phạm…

Mặc khác đưa tủ sách pháp luật về tại các khóm để gần gũi người dân hơn, có điều

kiện tìm hiểu tốt hơn, ngược lại nếu để tủ sách pháp luật tại phường chỉ có người dân đến

quan hệ thủ tục hành chính mới tìm hiểu được.

Do trình độ một số người dân còn hạn chế, nên việc tiếp thu pháp luật còn gặp

nhiều khó khăn, nên muốn công tác tuyên truyền đạt kết quả tốt thì cán bộ làm cơng tác

tun truyền phải có kỹ năng chuyên nghiệp, có chuẩn bị đề cương, biện pháp tuyên

truyền, có thể chắt lọc những nội dung quan trọng của pháp luật, đồng thời phải có thời

gian truyền đạt tương đối cho người dân tiếp thu, không nên tuyên truyền qua loa, hình

thức, dẫn đến hiệu quả đạt khơng cao.

3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác hòa giải ở cơ sở trên

địa bàn phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

3.4.1. Giải pháp nhằm hồn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Bộ Tư pháp cần ban hành các văn bản vi phạm pháp luật cụ thể hóa, hướng dẫn

thống nhất về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ

quan Tư pháp địa phương trong phạm vi và quyền hạn mà luật quy định thực hiện quản lý

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



29



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Nhà nước về cơng tác hòa giải. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước với các tổ

chức chính trị ─ xã hội trong cơng tác hòa giải, thủ tục bầu tổ trưởng và tổ viên tổ hòa

giải, trình tự tiến hành hòa giải, chế độ khen thưởng đối với cá nhân, tổ chức có thành tích

trong cơng tác hòa giải cần phải được bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của

pháp luật để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, bảo đảm cho viện kiện toàn và nâng cao hiệu quả

hoạt động hòa giải ở cơ sở.

3.4.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơng tác hòa giải ở cơ

sở trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Để hoạt động hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả cao hơn, cơng tác hòa giải ở cơ sở mà

cụ thể là trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ cần chú trọng các nội dung về quản lý Nhà nước

và quản lý xã hội liên quan đến hòa giải. Về quản lý Nhà nước cần tập trung củng cố các

nội dung sau:

Một là, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải cho

các thành viên Tổ hòa giải dài hạn, phân cấp cho các cơ quan này tổ chức thực hiện bồi

dưỡng tập huấn cho đội ngũ hòa giải viên của địa phương trên cơ sở có sự hướng dẫn của

Bộ về nội dung và chương trình bồi dưỡng.

Hai là, để củng cố về mặt tổ chức hòa giải, đồng thời để thực hiện việc dân chủ ở

cơ sở, việc bầu tổ viên, tổ trưởng tổ hòa giải và việc rà soát, đánh giá về tổ chức và hoạt

động của tổ hòa giải phải được thực hiện nghiêm túc, từ đó giúp đội ngũ hòa giải viên ổn

định về tổ chức và tạo thuận lợi cho các cấp chính quyền lập kế hoạch bồi dưỡng, tập

huấn pháp luật cho các hòa giải viên hàng năm.

Ba là, kinh tế và tài chính cũng là một vấn đề quan trọng đối với hòa giải viên. Bộ

Tư Pháp cần phối hợp với Bộ Tài Chính xem xét, cân đối lại quy định về mức bồi dưỡng

cho cán bộ hòa giải sao cho hợp lý hơn, phù hợp với tình hình kinh tế, mức chi phí sinh

hoạt hiện nay. Bên cạnh đó Ủy ban nhân dân phường cần phải quan tâm, tạo điều kiện cho

hòa giải viên phát triển kinh tế, ổn định tài chính gia đình. Đồng thời, có những chính

sách hỗ trợ thêm cho hòa giải viên, có kế hoạch khen thưởng thường xuyên và kịp thời

theo quy định của pháp luật, tạo tâm lý an tâm, thúc đẩy động lực cho hòa giải viên gắn

bó, chun tâm hơn khi tham gia vào cơng tác hòa giải.

Bốn là, trong q trình hòa giải, Tổ hòa giải cần nên phân tích cụ thể và viện dẫn

các điều luật để nhân dân hiểu rõ thêm, từ đó có ý thức tự giác thực hiện được tốt hơn.

Sau khi hòa giải thành, tổ hòa giải đã giải quyết vụ việc đó nên cùng nhau thường xuyên

giám sát, đôn đốc nhắc nhở việc tự nguyện thực hiện thỏa thuận của các bên trong tranh

chấp đó mà không nên đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Nếu cần thiết tổ hòa giải có thể

đem vụ việc đó ra mà hòa giải lại nhằm đơn đốc các bên thực hiện thỏa thuận hòa giải,

tránh trường hợp các bên cố tình sao lãng khơng chịu thực hiện. Qua đó hạn chế đến mức

thấp nhất việc hòa giải thành nhưng lại không thực hiện được trên thực tế.

Năm là, thời gian tới việc nhận đơn yêu cầu, khiếu nại của nhân dân thì tổ hòa giải

cần nên bố trí hòa giải đúng thời gian theo luật định.



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



30



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Sáu là, đối với hòa giải vụ việc, trước khi hòa giải người chủ trì hòa giải cần nên

đưa ra tham khảo ý kiến thành viên hòa giải, nhằm định hướng cho vụ việc hòa giải mang

lại chất lượng hơn.

Bảy là, cơ quan tư pháp cần xem xét cung cấp tài liệu, văn bản pháp luật cần thiết

cho Tổ hòa giải, biên soạn với nội dung ngắn gọn cơ động, dễ hiểu phù hợp với trình độ

của đội ngũ này để nghiên cứu phục vụ cho hoạt động hòa giải.

3.4.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với hoạt động hòa

giải ở cơ sở

Là một trong những vấn đề quan trọng cần phải được cơ quan quản lý Nhà nước ở

địa phương quan tâm nhiều hơn. Bởi những mâu thuẫn tranh chấp đều bắt nguồn từ nhân

dân. Vì thế Ủy ban nhân dân phường cần phối hợp với các ban ngành đoàn thể ở địa

phương thực hiện tốt các công tác quản lý xã hội sau đây:

Thứ nhất, cần phải chú trọng quan tâm việc đẩy mạnh gia tăng sản xuất trong đời

sống nhân dân nhằm nâng cao chất lượng đòi sống nhân dân, từ đó ổn định đời sống kinh

tế của người dân trong phường.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyền truyền phổ biến pháp luật không chỉ theo chiều

rộng mà còn cả theo chiều sâu bằng nhiều cách như: thơng qua phương tiện truyền thông

của địa phương, qua các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật hòa giải ở cơ sở … Đào tạo đội

ngũ cán bộ về kiến thức tuyên truyền pháp luật để mỗi người họ là một trung tâm tuyên

truyền pháp luật, đưa pháp luật đến với từng người, từng nhà, từng tổ, từng khóm.

Thứ ba, các tổ hòa giải cần phải thực hiện lối sống gần dân để tìm hiểu thêm về

nguyện vọng của người dân, kịp thời nắm bắt tình hình ở địa phương mình, thấu hiểu dân

sẽ là tiền đề để phục vụ tốt cho cơng tác hòa giải ở cơ sở của tổ hòa giải. Từ đó góp phần

cải thiện chất lượng hòa giải, nâng cao các vụ việc hòa giải thành, nối lại tình làng nghĩa

xóm trong nhân dân.

Thứ tư, cơ quan chính quyền địa phương là “chiếc cầu nối” những người dân với

nhau. Vì thế, việc tổ chức các buổi tiếp xúc với dân, thường xuyên khơi gợi lại truyền

thống tương thân, tương ái, khơi dậy tinh thần đoàn kết trong quần chúng nhân dân bằng

các chương trình văn nghệ về sự đồn kết, tình thương u để siết chặt hơn mối quan hệ

xóm làng.

Tóm lại, Đảng bộ và chính quyền địa phương cần quan tâm nhiều hơn đến đời

sống của nhân dân, không chỉ về mặt kinh tế mà cả trong những nét văn hóa, lối sống

hàng ngày để đồn kết họ lại với nhau, sống yên vui hạnh phúc dưới một mái nhà chung.

Như vậy, sẽ hạn chế được những vụ việc tranh chấp không đáng trong nhân dân làm ảnh

hưởng đến tình làng nghĩa xóm, ảnh hưởng đến sự quản lý của địa phương, nghiêm trọng

hơn nữa là những xung đột khơng thể tự hòa giải được có thể dẫn đến những hậu quả khó

lường. Qua đó tạo điều kiện ổn định để người dân chuyên tâm tham gia sản xuất, phát

triển kinh tế gia đình, góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước.



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



31



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



KẾT LUẬN

Trong giai đoạn xây ựng đất nước hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của các điều

kiện kinh tế, xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần đã đặt ra tiền đề cho sự phhát triển

của cac quan hệ xã hội. Sự phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội chủ nghĩa. Đồng

thời nhà nước ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật,

quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân được tơn trọng. Việc hồn thiện chế độ hòa giải là

một nội dung trong q trình hồn thiện pháp luật.

Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước

ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế tuy có những khó khăn nhất định do ảnh

hưởng của kinh tế thế giới nhưng vẫn tiếp tục tăng cường đời sống vật chất và tinh thần

của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự toàn xã hội được giữ

vững. Những thành tựu này đã góp phần tạo đà cho đất nước tiếp tục ổn định và phát triển

định hướng xã hội chủ nghĩa. Có được kết quả đó là do nổ lực, quyết tâm của tồn Đảng,

tồn dân, trong đó có phần đóng góp quan trọng của hoạt động hòa giải cơ sở, bởi vì cơng

tác hòa giải ở cơ sở giải quyết triệt để mâu thuẫn, xích mích trong cộng đồng dân cư, từ

đó góp phần lớn trong việc giữ gìn đồn kết trong nội bộ nhân dân.

Luật hòa giải ở cơ sở ra đời trên tinh thần kế thừa những quy định của Pháp lệnh

nhưng đồng thời cũng có những quy định tiến bộ phù hợp hơn với tình hình thực tế hiện

nay. Luật hòa giải ở cơ sở ra đời khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh, từ đó đảm

bảo cơng tác hòa giải ở cơ sở sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong tương lai.

Q trình hòa giải là sự vận dụng phương pháp có lý, có tình, dựa trên cơ sở các

quy định của pháp luật, vừa khơi dậy tình làng, nghĩa xóm. Tính chất đặc trưng này đòi

hỏi những hòa giải viên là người có uy tín trong cộng đồng lại am hiểu pháp luật, đồng

thời cần liên kết với các lực lượng xã hội khác nhau. Bên cạnh một số mặt tích cực, cũng

còn một số tồn tại như: một số nơi còn coi nhẹ vai trò của cơng tác hòa giải ở cơ sở, trình

độ và năng lực một số tổ viên tổ hòa giải còn hạn chế, việc đảm bảo thi hành các vụ việc

hòa giải thành vẫn chưa cao.

Trên đây là một số vấn đề cơ bản trong cơng tác hòa giải cơ sở được đúc kết qua

việc học tập được từ những bài giảng của thầy, cơ ở trường Đại học Cần Thơ và có kết

hợp thực tiễn tại UBND phường Vĩnh Mỹ cùng những tài liệu giáo khoa phối hợp với các

văn bản được Nhà nước ban hành quy định về cơng tác hòa giải cơ sở.

Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân nếu quan tâm đến cơng tác hòa gải cơ sở sẽ đảm bảo

cho các hoạt động của nền hành chính nhà nước được thơng suốt. Nhờ đó góp phần nâng

cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và thúc đẩy nhanh chóng cơng cuộc cải cách

hành chính hiện hay.

Mỗi cơ quan hành chính nhà nước cần phải có một nhận thức đúng đắn về vị trí và

vai trò của cơng tác hòa giải cơ sở để có thể đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm đưa

cơng tác hòa giải tại cơ quan, đơn vị mình đi vào nề nếp góp phần tích cực nâng cao hiệu

lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của cơ quan đơn vị./.



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



32



SVTH: Phạm Phước Sang



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×