Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



của khái niệm này là những văn bản pháp luật cũng ra đời theo, để quy định và điều chỉnh

các vấn đề mà hòa giải ở cơ sở gặp phải.

Ở nước ta hiện nay có rất nhiều hình thức hòa giải như:

+ Hòa giải tại Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Luật hôn nhân và

gia đình;

+ Hòa giải các tranh chấp nhỏ tại cộng đồng dân cư thơng qua hòa giải;

+ Hòa giải các tranh chấp theo quy định của Bộ luật Lao động;

+ Hòa giải bằng trọng tài thương mại theo quy định của Luật Thương mại.

Khác với các loại hình hòa giải nêu trên, hòa giải ở cơ sở trước hết phải xuất phát

từ đặc điểm lịch sử, truyền thống, văn hóa thuần phong mỹ tục và tâm lý dân tộc. Ở Việt

Nam, với tình hình phát triển của xã hội hiện nay ngày càng văn minh, ngày càng hiện đại

thì hoạt động hòa giải ở cơ sở ngày càng có vai trò to lớn trong việc giải quyết những

tranh chấp mâu thuẫn của nhân dân, tạo ra sức mạnh đoàn kết mạnh mẽ từ nhân dân, góp

phần bảo vệ bản sắc dân tộc Việt Nam, cũng từ đó góp phần giảm bớt các vụ, việc phải

chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian,

kinh phí cho Nhà nước và nhân dân, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế − xã hội phát triển.

Hiểu được vai trò, ý nghĩa quan trọng của hoạt động hòa giải ở cơ sở cho nên Nghị quyết

số 49−NQ−TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020 cũng đề ra nhiệm vụ: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp

thơng qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”.

Qua đó, căn cứ vào Điều 2 của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 thì ta có thể định

nghĩa hòa giải ở cơ sở như sau: Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ

các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp,

vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này3.

Cơ sở là thơn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng

đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố)4.

Các bên là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức có mâu thuẫn,

tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của luật này5.

1.2. Đặc điểm của hòa giải ở cơ sở:

- Hòa giải ở cơ quan là một trong những biện pháp hòa giải có người trung gian

giúp cho các bên tranh chấp, mâu thuẩn thương lượng, giải quyết tranh chấp, mâu thuẩn.

- Hòa giải mang tính tự nguyện, khơng bắt buộc.

- Phạm vi hòa giải ở cơ quan là tranh chấp, mâu thuẩn phát sinh giữa người dân với

nhau.

Hòa giải ở cơ quan là một trong những biện pháp hòa giải mang lại hiệu quả cao

nhất vì được nhân dân ủng hộ, nó khác với việc giải quyết các tranh chấp được thực hiện

3



Khoản 1 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

Khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

5

Khoản 3 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

4



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



4



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



thông qua bởi cơ quan cơng quyền, vì nó khơng mang tính chất bắt buộc, cưỡng chế thi

hành mà có thể hiện của thỏa thuận ý chí của các bên, điều này phù hợp với một trong

những nguyên tắc cơ bản của đời sống xã hội.

Trong quá trình phát triển nền văn hóa của từng vùng, miền khác nhau, đi đơi phát

triển các tổ chức quần chúng gắn liền với đời sống nơng thơn trong bối cảnh đó, vai trò và

sức mạnh to lớn của cộng đồng, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở ngày càng được phát

huy hiệu quả thông qua việc hòa giải tranh chấp bất đồng trong nhân dân.

Các quan hệ xã hội bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy tắc đạo đức, phong tục tập

quán truyền thống hơn là quy phạm pháp luật. Trải qua hàng nghìn năm Việt Nam vẫn bảo

tồn bền vững các giá trị đạo đức, văn hóa xã hội truyền thống. Người dân sống có ý thức

tính đồn kết giữa con người với con người với nhau và cả cộng đồng dân cư, không chấp

nhận sự tồn tại của các yếu tố gây tổn hại đến mối quan hệ trong nhân dân.

Đây chính là luật lệ để pháp luật hòa giải ở cơ sở ra đời và phát huy tính hiệu quả

trong cơng tác hòa giải trong tranh chấp trong cộng đồng dân cư.

Nhà nước đã ban hành Luật số 35/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 Luật hòa

giải ở cơ sở, có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2014, thay thế cho Pháp lệnh về tổ chức và

hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhằm hướng dẫn

và điều chỉnh hoạt động của các tổ chức này, các hòa giải viên thường là những người có

phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt và uy tín với nhân dân được nhân dân tín nhiệm.

Hòa giải tranh chấp khơng chỉ được người dân sử dụng mà còn được Nhà nước

khuyến khích thực hiện, các tổ chức hòa giải được thành lập ở cơ sở có nhiệm vụ hòa giải

các mâu thuẩn nhỏ trong cộng đồng dân cư.

Trên thực tế pháp luật hòa giải ở cơ sở được áp dụng để hòa giải các vụ việc xảy ra

ban đầu mang tính chất đơn giản, khơng phức tạp mang lại hiệu quả cao, góp phần vào

việc ổn định trật tự an toàn xã hội.

Trong những năm gần đây, cơng tác hòa giải ở cơ sở đạt được nhiều kết quả khích

lệ khi ngày càng có nhiều vụ việc tranh chấp, mâu thuẩn được hòa giải thành đội ngũ hòa

giải viên được củng cố, kiện tồn và nâng cao năng lực, nghiệp vụ hòa giải. Tuy nhiên,

khi thực hiện cơng tác hòa giải, cần phân biệt rõ giữa hòa giải ở cơ sở với hòa giải trong

các tranh chấp ở xã phường, vì hai khái niệm này, mặc dù giống nhau về ý nghĩa và mục

đích nhưng về bản chất, tổ chức, hoạt động và thủ tục tiến hành lại có sự khác nhau.

* Về văn hóa pháp lý áp dụng:

Hoạt động hòa giải ở cơ sở được điều chỉnh bởi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và

các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 15/2014/NĐ−CP ngày 27/2/2014 của

Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở;

Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP−UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 giữa

Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về hướng dẫn phối hợp

thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở…

* Về phạm vi hòa giải:



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



5



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở: Theo Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ−CP

ngày 27/2/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật

Hòa giải ở cơ sở thì phạm vi của hòa giải ở cơ sở bao gồm: mâu thuẩn giữa các bên (do

khác nhau về quan niệm sống , lối sống, tính hình khơng hợp hoặc mâu thuẩn trong việc

sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, cơng trình phụ, giờ

giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác); tranh chấp phát sinh từ quan

hệ dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất; tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia

đình; vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những vi phạm đó chưa đến mức

bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính; vi phạm pháp luật hình sự

trong một số trường hợp được pháp luật quy định…

* Về bản chất:

Hoạt động hòa giải ở cơ sở là phương thức tổ chức giải quyết những mâu thuẩn,

tranh chấp trên cơ sở khuyến khích, thuyết phục các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau

nhằm xóa bỏ mâu thuẩn, bất đồng, từ đó đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật và

đạo đức xã hội, góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết trong nội bộ nhân dân, tương thân

tương ái, giữ gìn đạo đức, tình làng nghĩa xóm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an tồn xã

hội trong cộng đồng dân cư.

* Về đối tượng thực hiện việc hòa giải:

Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoạt động hòa giải ở cơ sở được thực hiện

bởi các hòa giải viên thuộc các tổ hòa giải. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân

được thành lập ở cơ sở (gồm thôn, làng, ấp, bản, bn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố và

cộng đồng dân cư khác) để hoạt động hòa giải. Cơ cấu tổ chức của tổ hòa giải gồm có tổ

trưởng và các hòa giải viên; mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa

giải viên nữ (Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số tổ hòa giải phải có hòa

giải viên là người dân tộc thiểu số). Hòa giải viên được bầu ra trong số những người có

các tiêu chuẩn như: có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả

năng thuyết phục, vận động nhân dân, có hiểu biết pháp luật. Sau khi bầu chọn được hòa

giải viên, Trưởng ban cơng tác Mặt trận lập danh sách đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra

quyết định cơng nhận hòa giải viên. Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số

các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.

1.3. Vai trò của cơng tác hòa giải ở cơ sở

1.3.1. Vai trò của cơng tác hòa giải ở cơ sở đối với hệ thống pháp luật Việt Nam:

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước

ta dành sự quan tâm đặc biệt, nhất là hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nghị quyết

Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ, “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo Nhà nước ta thực sự là của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế,

quản lý xã hội… Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành

có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân

tộc”.



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



6



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Từ đó, Nhà nước đã thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng thành

hệ thống pháp luật và tổ chức triển khai thực hiện trên phạm vi toàn xã hội. Đó là những

văn bản pháp quy buộc hệ thống chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị − xã hội, các

lực lượng có liên quan phải chấp hành theo đúng chức năng, quyền hạn của mình. Tuy

nhiên, đó chỉ mới là điều kiện cần, vì một hệ thống pháp luật được xây dựng có thể hồn

thiện ở kỹ thuật lập pháp, ở cách phân loại và cấu trúc các lĩnh vực pháp luật khác nhau, ở

việc sử dụng chính xác các thuật ngữ pháp luật và ngơn ngữ để thể hiện, nhưng tự nó

khơng thể mang lại giá trị lớn dù thể hiện được những ý tưởng lập pháp rất nhân văn và

dân chủ. Chính vì vậy, việc hồn thiện hệ thống pháp luật về hòa giải ở cơ sở cũng góp

phần quan trọng trong q trình hồn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.3.2. Vai trò của hòa giải ở cơ sở đối với xã hội

Kinh nghiệm cho thấy, những địa phương làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở thì tình

hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo đà cho phát triển kinh tế − xã hội, nâng cao đời

sống người dân. Ngược lại, ở những nơi coi nhẹ cơng tác hòa giải, tình hình mâu thuẩn,

tranh chấp có chiều hướng tăng, dẫn đến mất trật tự, trị an xã hội. Thông thường, những

mâu thuẩn, va chạm trong cuộc sống, lúc đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm

giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh chóng trở thành phức tạp, thậm chí là ngun nhân

xuất hiện những “điểm nóng” về khiếu kiện. Chính vì vậy hòa giải ở cơ sở đóng một vai

trò hết sức quan trọng, cụ thể như sau:

- Hòa giải ở cơ sở có tác dụng tích cực, thiết thực giúp các bên tự nguyện giải

quyết dứt điểm các mâu thuẫn một cách có hiệu quả, nhẹ nhàng, êm thấm, có lý, có tình

vừa hạn chế, khắc phục được hậu quả đáng tiếc xảy ra, vừa giữ gìn được tình cảm gia

đình, tình làng nghĩa xóm.

- Hòa giải có tác dụng cơ bản là giải quyết kịp thời ngay từ đầu các tranh chấp,

mâu thuẫn không để “việc đơn giản thành việc phức tạp”, ngăn ngừa những vi phạm pháp

luật có thể nảy sinh từ các tranh chấp.

- Hòa giải ở cơ sở được thực hiện tốt sẽ góp phần giảm bớt khiếu kiện, các vụ việc

phải đưa ra chính quyền hoặc Tòa án giải quyết, qua đó tiết kiệm thời gian, tiền của nhân

dân và tiền của Nhà nước.

- Giữ gìn đòan kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm,

truyền thống tốt đẹp của các gia đình và cộng đồng dân cư, xây dựng nếp sống văn minh,

gia đình văn hóa mới.

- Trong q trình hòa giải kết hợp tun truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, qua

đó góp phần nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của nhân

dân.

Hòa giải ở cơ sở là một hoạt động, một thủ tục nhỏ trong cái nhìn tổng thể của hệ

thống pháp luật Việt Nam, nhưng vai trò và hiệu quả của nó mang lại cho xã hội khơng

nhỏ. Chính vì điều đó mà hòa giải ở cơ sở đóng một vai trò khơng thể thiếu trong hệ

thống pháp luật Việt Nam.



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



7



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



1.4. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của cơng tác hòa giải ở cơ sở

Ngun tắc hòa giải ở cơ sở là những quan điểm, tư tưởng đúng đắn được áp dụng

xuyên suốt trong quá trình tiến hành hòa giải, trong các hoạt động hòa giải ở cơ sở mà còn

phải tn thủ các ngun tắc sau đây6:

“Tơn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa

giải ở cơ sở.

Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong

tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn

nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến

quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.

Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thơng tin đời tư của các

bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật này.

Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp

của người khác; khơng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích cơng cộng.

Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Khơng lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi

của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử

lý về hình sự.”

Hoạt động hòa giải ở cơ sở đòi hỏi phải tn thủ quy tắc có lý, có tình nghĩa là hòa

giải phải dựa trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội. Trước hết cần đề cao yếu tố tình

cảm, dựa vào đạo đức xã hội để phân tích, động viên các bên ứng xử phù hợp với chuẩn

mực đạo đức: như con cái phải có hiếu với cha mẹ, anh chị em phải biết thương yêu, đùm

bọc lẫn nhau, vợ chồng sống với nhau phải có tình có nghĩa… cùng với việc giải thích,

động viên, thuyết phục các bên ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức xã hội, tổ hòa giải

phải dựa vào pháp luật để phân tích, tư vấn pháp luật, đưa ra những lời khuyên và hướng

dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật nhằm

giữ gìn đồn kết trong cộng đồng dân cư, củng cố phát huy tình cảm và đạo lý truyền

thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, đảm

bảo trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Việc hòa giải tự kết thúc khi các bên đã đạt được thỏa thuận và tự nguyện thực

hiện thỏa thuận. Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẫn giữa các bên gây gắt, có thể gây

hậu quả xấu, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự trong địa bàn xã, ấp thì hòa giải phải kịp thời

kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp giải quyết. Để đảm bảo cho hoạt động

hòa giải được thực hiện theo đúng ngun tắc và tránh sai phạm trong q trình hòa giải.

1.5. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về hòa giải ở cơ sở



6



Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



8



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



Sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã ban hành các văn bản

pháp luật về hòa giải như: Sắc lệnh số 12/SL ngày 24 tháng 1 năm 1946 và Sắc lệnh số

51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946, trong đó có quy định Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ hòa

giải tất cả các vụ việc về dân sự, thương mại. Cùng với chế định hòa giải của Ban Tư

pháp xã, còn có chế định hòa giải của Tòa án Sơ cấp (trước năm 1950) và của Tòa án

nhân dân huyện (sau năm 1950).

Từ năm 1961, tổ hòa giải được thành lập ở thơn, xóm hoặc liên thơn xóm. Trong

thời kỳ này nhiệm vụ quản lý cơng tác hòa giải phải được chuyển giao cho Tòa án nhân

dân tối cao thực hiện vì Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa khơng có Bộ Tư pháp.

Đến năm 1964, tổ hòa giải thành lập ở cơ sở là một tổ chức xã hội, khơng phân xử

mà chỉ giải thích, thuyết phục để giúp đỡ các bên tự nguyện giải quyết các xích mích,

tranh chấp một cách có tình, có lý.

Đến thời kỳ nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hòa giải ở cơ sở

được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật.

Hiến pháp năm 1980 đã lần đầu thể chế hóa hoạt động hòa giải ở cơ sở: “Ở cơ sở

thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật

và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”.

Nhằm khẳng định và tiếp tục phát huy vai trò, ý nghĩa quan trọng của hòa giải ở cơ

sở. Được Đảng quan tâm và đã có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, được thể hiện

rõ trong Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa VII) đó là: “Coi

trọng vai trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ

sở”. Trong nghị quyết số 49−NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chình trị về chiến

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đề ra nhiệm vụ: “Khuyến khích việc giải quyết

một số tranh chấp thơng qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Cụ thể hóa quy định của

Hiến pháp, ngày 25 tháng 12 năm 1998 Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số

09/1998/PL−UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ngày 18 tháng 10

năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ−CP quy định chi tiết một số

điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Các văn bản quy phạm pháp

luật này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Đây là hai văn bản có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy đủ, đồng bộ và toàn diện các vấn

đề về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Chế định về hòa giải ở cơ sở chính thức được

ra đời.

Từ những hiệu quả của cơng tác hòa giải ở cơ sở qua những lần sơ kết, tổng kết

trước cho thấy hiệu quả đạt rất cao so với các cơ quan Nhà nước, cho thấy tổ chức hòa

giải ở cơ sở là một tổ chức tự quản do dân bầu ra có ảnh hưởng rất lớn đối với họ, vì vậy

mọi tranh chấp nhỏ xảy ra trong cộng đồng dân cư đều bị ngăn chặn và dập tắt ngay từ

đầu, hạn chế xảy ra xung đột. Đúc kết từ kết quả thực tiễn của cơng tác hòa giải ở cơ sở,

hệ thống pháp luật bảo vệ chưa được đảm bảo nên Quốc hội nâng lên một tầm cao mới từ

Pháp lệnh thành Luật số 35/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013. Luật hòa giải ở cơ sở

có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, qua Luật hòa giải ở cơ sở có thể thấy được sự

quan tâm hơn của Nhà nước đối với các tổ chức quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận

tổ quốc và các đồn thể ở khóm.

GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



9



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠNG TÁC HỊA GIẢI Ở CƠ SỞ

2.1. Chủ thể có trách nhiệm tổ chức, thực hiện cơng tác hòa giải ở cơ sở

2.1.1. Tổ hòa giải ở cơ sở và Tổ trưởng tổ hòa giải

2.1.1.1. Tổ hòa giải

Theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở thì quy định của pháp luật về Tổ

hòa giải ở cơ sở được quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013

như sau: “Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt

động hòa giải theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013”7.

Qua khái niệm cho thấy rõ Tổ hòa giải ở cơ sở khơng phải là một cơ quan hành

chính mang quyền lực nhà nước, hay một tổ chức mang quyền lực nào khác như Tòa án

nhân dân tổ chức hòa giải vụ, việc trong thời hạn xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hơn

nhân gia đình… hoặc các tổ chức mang tính quyền lực nhà nước khác. Ở đây, tính chất tự

quản của Tổ hòa giải ở cơ sở được thể hiện ở chỗ là các hòa giải viên được bầu là những

người có uy tín và tín nhiệm của người dân, họ cũng tự điều chỉnh công việc của bản thân

họ tốt. Chính vì tính chất tự quản này, cách thức bầu chọn và tính chất cơng việc của Tổ

hòa giải ở cơ sở có tính chất như vậy, nên Tổ hòa giải ở cơ sở khơng hoạt động như một

cơ quan Nhà nước, hoặc một tổ chức khác.

Theo quy định của pháp luật mà cụ thể tại Điều 12 của Luật hòa giải ở cơ sở năm

2013 quy định: “Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 3

hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân

tộc thiểu số tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số”8.

Như vậy, Tổ hòa giải ở cơ sở là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do nhân

dân bầu chọn và được thành lập ở cơ sở làng, xóm, ấp… Về bản chất Tổ hòa giải ở cơ sở

là một tổ chức quần chúng, không phải là tổ chức chính quyền được thành lập để hòa giải

tại chỗ, thường xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và những tranh chấp, mâu thuẫn,

xích mích nhỏ trong nhân dân, góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho

nhân dân tại cơ sở, nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp luật, hạn chế các vụ việc phải

đưa ra Tòa án giải quyết.

2.1.1.2. Tổ trưởng tổ hòa giải

Theo như quy định của pháp luật thì Tổ trưởng tổ hòa giải được quy định như sau:

Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa

giải9. Đây là quy định của luật hòa giải ở cơ sở quy định Tổ trưởng tổ hòa giải là người

7



Khoản 5 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

9

Khoản 1 Điều 14 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

8



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



10



SVTH: Phạm Phước Sang



Pháp luật về hòa giải ở cơ sở - thực tiễn tại phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang



dẫn đầu quản lý công việc của Tổ hòa giải để giải quyết các đơn khiếu kiện của người

dân.

Theo quy định của luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định về việc bầu Tổ trưởng

hòa giải như sau: “Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của

Trưởng ban cơng tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết cơng khai hoặc bỏ phiếu kín.

Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn bản gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp xã để ra quyết công nhận”10.

2.1.1.3. Trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của Tổ hòa giải

* Trách nhiệm của Tổ hòa giải:

- Tại Điều 13 của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 có quy định trách nhiệm của Tổ

hòa giải phải thực hiện những nhiệm vụ sau11:

- Tổ chức thực hiện hòa giải.

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành hòa giải vụ,

việc phức tạp.

- Phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên, Chi

hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân, Chi hội người cao tuổi, các tổ hòa giải và tổ chức,

cá nhân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.

- Kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp

xã về hoạt động hòa giải ở cơ sở, các điều kiện cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.

- Đề nghị khen thưởng tổ hòa giải, hòa giải viên có thành tích xuất sắc trong cơng

tác hòa giải.

* Quyền và nghĩa vụ của tổ hòa giải

Theo quy định tại Điều 15 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định Tổ hòa giải có

các quyền và nghĩa vụ sau đây:

- Phân cơng, điều hòa, phối hợp hoạt động của tổ viên Tổ hòa giải; phối hợp với

các tổ hòa giải trong việc nâng cao nghiệp vụ và trong hoạt động hòa giải tranh chấp liên

quan đến địa bàn hoạt động của Tổ hòa giải đó.

- Tổ chức các cuộc họp định kỳ và đột xuất để rút kinh nghiệm về cơng tác hòa giải

và đề xuất với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về các biện pháp nâng cao hiệu quả

của công tác hòa giải; cung cấp tài liệu và các thơng tin nâng cao nghiệp vụ hòa giải.

- Báo cáo định kỳ và đột xuất về cơng tác hòa giải cho Ủy ban nhân dân xã,

phường, thị trấn và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

- Đại diện Tổ hòa giải trong quan hệ với Trưởng thơn, xóm, bản, ấp, Tổ trưởng tổ

dân phố, cụm dân cư với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị − xã hội ở cơ sở.

- Đề nghị cho thơi làm hòa giải viên theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 của Luật

hòa giải ở cơ sở nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Theo nguyện vọng của hòa giải

10

11



Khoản 2 Điều 14 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

Điều 13 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013



GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lạc



11



SVTH: Phạm Phước Sang



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×