Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1. MỞ ĐẦU

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhờ có sự phát triển cơng nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa nói chung và sự phát

triển của Khu cơng nghiệp Lễ Mơn nói riêng đã giúp cho nền kinh tế của tỉnh tăng

liên tục hàng năm, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, tránh tình trạng ly

hương làm ăn.

Bên cạnh những đóng góp tích cực, q trình phát triển cơng nghiệp nói

chung và hệ thống các KCN nói riêng đang tạo ra nhiều thách thức lớn về ô

nhiễm môi trường do chất thải rắn (CTR), nước thải và khí thải cơng nghiệp, đặc

biệt là nước thải cơng nghiệp là một vấn đề đang gây nhiều bức xúc hiện nay.

Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện

nay đang gặp tương đối nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường do nước thải công

nghiệp. Chủ yếu nguyên nhân do việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải chưa đúng

mức hoặc có nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý. Khu công nghiệp Lễ Môn

là một trong các khu công nghiệp trong tỉnh đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải

tập trung. Tuy nhiên, với quy mô KCN Lễ Môn ngày càng phát triển về số lượng,

loại hình, do đó, hệ thống xử lý nước thải tập trung đầu tư từ những ngày đầu

hình thành khu cơng nghiệp đang đứng trước nguy cơ khơng đáp ứng được nhu

cầu xử lý. Nếu tình trạng ô nhiễm do nước thải từ khu công nghiệp Lễ Môn xảy

ra sẽ gây ảnh hưởng đến một phạm vi môi trường, dân cư rất lớn trong phạm vi

thành phố Thành Hóa. Do đó, cần phải đánh giá được các ưu điểm và hạn chế

của hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Lễ Môn nhằm đưa ra

đề xuất biện pháp xử lý nước thải hiệu quả và phù hợp nhất. Vì vậy việc thực

hiện đề tài: "Đánh giá hiệu quả hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu

công nghiệp Lễ Môn tại phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh

Thanh Hóa" là hết sức cần thiết.

1.2. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại KCN Lễ Môn chưa đáp ứng được

nhu cầu xử lý dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường.

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Phân tích hiện trạng, đánh giá hiệu xuất xử lý của hệ thống xử lý nước thải

tập trung của KCN qua chất lượng nước thải đầu vào, đầu ra làm cơ sở cho việc

đề xuất các giải pháp khắc phục.

1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi về không gian: Khu công nghiệp Lễ Mơn tại phường Quảng

Hưng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.



2



- Phạm vi về thời gian: thu thập số liệu phục vụ nghiên cứu là các số liệu

từ năm 2015-2016.

1.5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Những đóng góp mới: bổ sung tư liệu về hiệu quả xử lý nước thải của

KCN Lễ Môn.

- Ý nghĩa khoa học: xác định được mối quan hệ giữa hoạt động công nghiệp

và môi trường.

- Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các cơ quan

quản lý nhà nước, đơn vị quản lý trực tiếp KCN Lễ Môn và các cơ sở sản xuất,

kinh doanh trong khu công nghiệp thấy được cần phải thực hiện nghiêm túc các

biện pháp xử lý nước thải, vận hành đúng quy trình hệ thống xử lý, tăng cường

kiểm tra, giám sát việc thực hiện.



3



PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU CƠNG NGHIỆP

2.1.1. Lịch sử phát triển khu công nghiệp trên thế giới

Khu công nghiệp là một khái niệm chung bao gồm nhiều hình thức từ các hình

thức truyền thống như: khu mậu dịch tự do, cảng tự do… xuất hiện từ thế kỷ XIX

đến các hình thức mới xuất hiện cuối thế kỷ XX như khu công nghệ cao, khu chế

xuất, khu công nghiệp tập trung, khu văn phòng, khu thương mại... Trên thế giới, sự

tồn tại của khu công nghiệp đã trải qua nhiều bước phát triển, có thế kể ra bốn thế hệ

của khu công nghiệp; gọi chung là Business Park (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).

Thế hệ đầu tiên của khu công nghiệp, được xây dựng vào những năm

1970, có thể được phân biệt với các thế hệ khác bởi cách sắp xếp văn phòng,

kho tàng, kiến trúc khá đơn giản. Các khu vực của các tòa nhà hành chính

chiếm 10 - 15% tổng diện tích của cơng viên, cơng trình theo mẫu và cho thuê

(Geneva,1993). Mặc dù hoàn hảo trong ý tưởng nhưng nhìn chung, tiêu chuẩn

về quy hoạch và kiến trúc là thấp. Với chức năng cơ bản là công nghiệp và tỷ lệ

các bộ phận chức năng, đặc biệt là cây xanh chưa hợp lý; KCN thế hệ thứ nhất

luôn biệt lập vào ban ngày, vắng vẻ vào ban đêm và khó có thể đạt được một

chất lượng mơi trường, dịch vụ và hạ tầng cao (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).

Trong giai đoạn từ năm 1975 và 1985, các khu cơng nghiệp văn phòng, đã

được sử dụng bởi các cơng ty kinh doanh với khoa học, công nghệ và kinh doanh

chiếm không gian lớn hơn nhiều. Đặc điểm khu công nghiệp thế hệ thứ hai này là

một kiến trúc phức tạp hơn (Nguyễn Văn Tuấn, 2010). Các KCN thế hệ thứ hai có

xu hướng lấp đầy các khoảng trống còn lại ở vành đai đô thị, nhằm khôi phục và

tiếp thêm sức sống cho các khu vực ngoại ô và nhằm xoá bỏ ấn tượng xấu về

kiến trúc và cảnh quan của các khu vực cơng nghiệp. Ví dụ khu Chiswick

(London, Anh), Irvine Spectrum (California, Hoa Kỳ) (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).

Kể từ nửa cuối những năm 1980, thế hệ thứ ba khu công nghiệp được xây

dựng. Các Business Park thế hệ thứ ba tuân thủ các nguyên tắc quy hoạch tổng

thể và xây dựng cơ sở hạ tầng của một đơ thị nhỏ mới. Các cơng trình phục vụ

cơng cộng được hợp thành một địa điểm nổi bật hay một trung tâm đô thị nhỏ

phục vụ các đơn vị phát triển. Các đơn vị phát triển này với mật độ và kích thước

lơ đất khác nhau tạo ra sự đa dạng cho mọi đối tượng sử dụng trong KCN. Đại



4



diện trong số này là một vài KCN thế hệ thứ ba như khu Stockley (Heathrow,

Anh), Meridian (Carolina, Hoa Kỳ) (Nguyễn Cao Lãnh, 2009). Các tòa nhà hành

chính và danh mục đầu tư các dịch vụ đặc trưng cho thế hệ thứ tư của khu cơng

nghiệp đó bắt đầu phát sinh từ giữa những năm 1990 (Geneva, 1993). Kể từ nửa

cuối những năm 1990, khu công nghiệp đã là một phần của một mạng lưới quốc

tế các khu hợp tác. Tất cả Business Park thế hệ thứ tư đều đạt được một trình độ

tổ chức kỹ thuật, xã hội rất cao và có thể trở thành địa điểm nổi bật, có giá trị và

quan trọng của tồn vùng. Ví dụ khu Marina Village (California, Hoa Kỳ),

Edinburgh (Edinburgh, Scotland) (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).

Nền tảng của các khu cơng nghiệp được tìm thấy tại Anh, là nơi có hệ

thống nhà máy và khu công nghiệp đầu tiên được thành lập. Đây là những

thiết lập bởi nhiều đơn vị sản xuất, các nhà máy đầu tiên xuất hiện ngẫu nhiên,

tuy nhiên, sự xuất hiện sau đó lại đại diện cho một hành động có tổ chức theo

ý tưởng nhất định về quy hoạch đô thị và chính sách khu vực. Khu cơng

nghiệp đầu tiên, Trafford Park, được thành lập bởi một công ty tên là

Shipcanal và Docks gần Manchester vào năm 1896 (Geneva, 1993).

Các khu công nghiệp được thành lập ở Đức, cũng vậy. Khu công nghiệp

đầu tiên được thành lập năm 1963 (Euro-Industriepark Munchen). Số lượng lớn

khu công nghiệp và công viên với các công ty công nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện

sớm hơn trong nửa cuối của năm 1980 và cơ bản là một sáng kiến của nhà đầu tư

tự do. Có 22 khu công nghiệp và đầu tư xuất hiện ở Tây Đức vào năm 1984. Bên

cạnh đó, các khu tư nhân được thành lập. Có sự xuất hiện ở khu vực đơng dân cư,

diện tích khá nhỏ và tập trung vào các lĩnh vực thị trường khác nhau. Khu vực

với nhiều loại hình khác nhau có thế kể đến khu Dussseldorf (23 dự án hoàn

thành vào năm 1992) và Frankfurt am Mein (19 dự án hoàn thành vào năm

1992), vẫn còn tồn tại và phát triển đến ngày nay (Geneva, 1993).

Theo chương trình mơi trường Liên Hợp Quốc có thể phân các khu công

nghiệp trên thế giới thành các loại hình sau đây: Khu cơng nghiệp tập trung; khu

chế xuất; khu tự do; khu chế biến công nghiệp; trung tâm công nghệ cao; khu

công nghệ sinh học; khu công nghệ sinh thái.

Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết tất cả các quốc gia, đặc biệt là

các nước đang phát triển, để phục vụ các hoạt động công nghiệp hơn là nghiên

cứu hay theo hướng thương mại.



5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×