Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 . ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5 . ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn đã đưa ra và đánh giá được những kết quả của từng phương án

xử lý chất thải chăn ni lợn. Luận văn đã phân tích lợi ích và chi phí của các

phương án xử lý chất thải để đưa ra phương án xử lý đem lại hiệu quả cao nhất.

Luận văn đã đánh gia được sự ảnh hưởng của một số yếu tố như quy mô

chăn nuôi, diện tích đất sử dụng cho chăn ni, trình độ và nhận thức của chủ hộ

chăn ni, nguồn lực tài chính của hộ chăn nuôi, nguồn cung cấp thông tin về

hoạt động chăn nuôi lợn. Đây là căn cứ khá quan trọng để có những giải pháp tác

động đến những yếu tố này nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi lợn

cho hộ.

Từ các kết quả trên, luận văn đã đề xuất được 5 nhóm giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi lợn của huyện Ứng Hòa. Các giải pháp tác

động đến nhiều vấn đề, từ giải pháp về mặt kinh tế, quản lý và tổ chức, tuyên

truyền giáo dục, hộ trợ kỹ thuật của các cấp các ngành, giải pháp cho từng phương

án xử lý chất thải chăn nuội lợn... Đó là những giải pháp khá hồn thiện và đầy đủ

để có thể nâng cao hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại địa phương cũng như

làm cơ sở để đề xuất những giải pháp hiệu quả hơn trong tương lai.



5



PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1. Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và giảm thiểu ô nhiễm

môi trường

a. Môi trường

Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, “mơi trường là tồn bộ các

hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tao ra xung quanh mình, trong đó

con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên

nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”.

Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời

sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.

Như vậy, môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo,

lý học, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội cùng tồn tại trong một không gian bao

quanh con người. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết tương tác lẫn nhau và

tác động lên từng các thể hay cả cộng đồng cùng tồn tại và phát triển.

b. Ô nhiễm môi trường

Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005): “Ơ nhiễm mơi trường là

sự làm thay đổi tính chất của mơi trường, vi phạm tiêu chuẩn mơi trường”.

Ơ nhiễm mơi trường còn được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng

lượng vào mơi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến

sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô

nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải

rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như

nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là ô nhiễm nếu trong đó

hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng

tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.

c. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường là những việc làm trực tiếp hay gián tiếp

nhằm giảm ô nhiễm môi trường xuống giới hạn cho phép được quy định trong

tiêu chuẩn môi trường.



6



2.1.1.2. Khái niệm chất thải chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi

a. Chất thải chăn nuôi

Chất thải chăn nuôi là một tập hợp phong phú bao gồm các chất ở tất cả

các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong q trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến

hay sử dụng chất thải (Bùi Hữu Đồn, 2011).

Chất thải chăn ni là hỗn hợp của phân, nước tiểu của vật nuôi trộn lẫn

với một số thành phần khác như thức ăn thừa, chất độn chuồng hay chứa các chất

dinh dưỡng khơng được tiêu hóa, các sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất của

vật nuôi và tập hợp ốc vi sinh vật phong phú phát thải từ đường tiêu hóa của vật

ni. Chất thải chăn nuôi bao gồm một tập hợp phong phú của các chất hữu cơ,

vơ cơ các dư lượng hóa dược thú y, các chất kích thích sinh trưởng, chất phụ gia,

kháng sinh và các chất được phối hợp trong khẩu phần thức ăn cho gia súc, gia

cầm (Trương Thanh Cảnh, 2010).

Các chất thải chăn nuôi phát sinh chủ yếu từ: (a) Chất thải của bản thân

gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông, vảy, da và các phủ tạng loại thải của

gia súc, gia cầm; (b) Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng

cụ và thiết bị chăn nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn nuôi; (c)

Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú ý bị loại ra trong q trình chăn ni;

(d) Bệnh phẩm thú ý, xác gia súc, gia cầm chết; (e) Bùn lắng từ các mương dẫn,

hồ chứa hay lưu trữ, chế biến và xử lý chất thải.

Chất thải chăn nuôi chứa nhiều thành phần có khả năng gây ơ nhiễm mơi

trường, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của gia súc, gia cầm và sức

khỏe con người. Quy mô chăn nuôi càng nhiều thì lượng chất thải càng nhiều, vì

vậy quy mơ càng lớn càng gây ô nhiễm môi trường nếu không có biện pháp xử lý

chất thải phù hợp (Trịnh Quang Tuyên, 2008).

Chất thải chăn nuôi được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng có thể

hiểu một cách chung nhất: chất thải chăn nuôi là sản phẩm phụ không mong

muốn của q trình chăn ni; chất thải chăn ni gồm ba loại: chất thải rắn,

lỏng và khí. Việc phân loại chất thải chăn ni chỉ mang tính chất tương đối,

trong thực tế chất thải chăn nuôi tồn tại cả ở dạng phân lỏng hay trung gian giữa

lỏng và rắn hay tương đối rắn. Nhưng chủ yếu thường là dạng hỗn hợp của cả

chất thải rắn, lỏng (hỗn hợp bao gồm phân tươi, nước tắm và rửa chuồng lợn).



7



b. Các vấn đề phát sinh do chất thải chăn nuôi

Gây ô nhiễm môi trường khơng khí: Tác hại của khí thải chăn ni không

những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe gia súc, gia cầm mà còn ảnh hưởng trực

tiếp đến sức khỏe người nơng dân. Mơi trường khơng khí trong chuồng ni bị ô

nhiễm là nguyên nhân làm gia tăng bệnh về đường hô hấp, tim mạch ở người và

động vật. Trong báo cáo của FAO (2006), chăn ni có vai trò đáng kể làm trái

đất nóng lên và là một trong những đe dọa lớn cho mơi trường tồn cầu.

Gây ơ nhiễm đất: Chất thải chăn nuôi khi không được xử lý sẽ gây ô

nhiễm đất. Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng tồn tại của mầm bệnh trong đất,

cây cỏ có thể gây bệnh cho người và gia súc, đặc biệt là các bệnh về đường ruột

như thương hàn, phó thương hàn, viêm gan, giun đũa, sán lá... Theo Menzi

(Menzi, 2001) gia súc thải ra từ 70 – 90% lượng N, khoáng (P, K, Mg) và kim

loại nặng, chất này được thải ra từ môi trường nước hay tồn tại trong đất sẽ gây

ra nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường. Khi dùng nước thải chưa xử lý người ra

thấy rằng có Salmonella trong đất ở độ sâu 50cm và tồn tại được 2 năm, trứng ký

sinh trùng cũng khoảng 2 năm. Mẫu cỏ sau 3 tuần ngưng tưới nước thải có 84%

trường hợp có Salmonella và vi trùng đường ruột khác, phân tươi cho vào đất có

E.coli tồn tại được 62 ngày, ngồi ra khống và kim loại nặng bị giữ lại trong đất

với liều lượng lớn có thể gây ngộ độc cho cây trồng.

Gây ô nhiễm nguồn nước: Khi lượng chất thải chăn nuôi không được xử

lý đúng cách thải vào môi trường quá lớn làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ,

vô cơ trong nước, làm giảm quá mức lượng oxy hòa tan, làm giảm chất lượng

nước mặt, ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật nước, là nguyên nhân tạo nên dòng nước

chết ảnh hưởng đến sức khỏe con người, động vật và môi trường sinh thái.

So với nước bề mặt thì nguồn nước ngầm ít bị ô nhiễm hơn. Tuy nhiên với

quy mô chăn nuôi ngày càng tập trung, lượng chất thải ngày một nhiều, phạm vi

bảo vệ khơng đảm bảo thì lượng chất thải chăn nuôi thấm nhập vào đất đi vào

mạch nước ngầm và giảm chất lượng nước. Bên cạnh đó, các vi sinh vật nhiễm

bẩn trong chất thải chăn ni ó thể xâm nhập vào nguồn nước ngầm, ảnh hưởng

này có tác dụng lâu dài và khó có thể loại trừ.

Gây bệnh và những nguy cơ tới sức khỏe con người và vật nuôi: Chất thải

chăn nuôi là nguồn dinh dưỡng quý giá cho cây trồng, ngồi ra chất thải chăn

ni còn có thể được dùng là thức ăn cho chính gia súc gia cầm cùng như trong



8



nuôi trồng thủy sản. Tuy vậy, nếu không được quản lý tốt, chất thải chăn nuôi sẽ

là nguồn ô nhiễm vi sinh vật, là nguồn lây lan dịch bệnh và có nguy cơ ảnh

hưởng tới sức khỏe của vật nuôi và con người. Chất thải chăn ni chứa một

lượng lớn vi sinh vật có nguồn gốc từ phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa của

vật nuôi... Trong đó có rất nhiều loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng có khả năng

gây bệnh cho người, động vật khi chúng có điều kiện tiếp xúc với vật ni mẫn

cảm, nguồn nước hoặc rau quả.

c. Xử lý chất thải chăn ni

Xử lý chất thải là q trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm

giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc khơng có ích trong rác thải;

thu hồi, tái chế, tái sử dụng các thành phần có ích trong rác thải (Bùi Quang

Tuấn, 2012).

Xử lý chất thải là một trong những nội dung quan trọng của chu trình quản

lý chất thải. “Quản lý chất thải là các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển,

giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải” (Luật Bảo vệ

môi trường, 2005). Quản lý chất thải thực chất là một quy trình bao gồm các hoạt

động tập hợp, đóng gói và lưu trữ tạm thời chất thải tại nhiều điểm thu gom tới

địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận; sau đó

chuyên chở chất thải/rác thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu trữ, trung chuyển đến

nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. Tại đây, chất thải

được xử lý bằng việc sử dụng công nghệ nhằm làm giảm các thành phần có hại

hoặc khơng có ích còn lại các thành phần có thể sử dụng được thu hồi để chế

biến thành các sản phẩm mới phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất

của con người.

Xử lý chất thải chăn nuôi là một công việc rất cần được thực hiện trong

các cơ sở chăn nuôi kể cả các hộ chăn ni nhỏ gia đình. Nó lại càng quan trọng

trong điều kiện chăn nuôi chật hẹp nhất là khi khu vực chăn ni còn nằm trong

khu dân cư cũng như trong cùng một khn viên có người sinh sống. Bên cạnh

đảm bảo yêu cầu bảo vệ mơi trường, việc xử lý chất thải chăn ni có thể kết hợp

với chế biến và sử dụng chất thải chăn ni làm tăng lợi ích kinh tế của người

chăn ni.

Như vậy, xử lý chất thải chăn ni có thể được hiểu là việc áp dụng các

biện pháp, phương pháp nhằm tiêu hủy bớt, giảm bớt thành phần có hại trong



9



chất thải trước khi đưa vào môi trường hay biến đổi nguồn chất thải chăn ni đó

phục vụ trở lại sản xuất nông nghiệp thông qua một số công đoạn. Mục đích của

việc xử lý chất thải chăn ni nhằm giảm bớt các yếu tố gây hại tới môi trường

khi nó được thải ra, góp phần bảo vệ mơi trường.

Mục tiêu quan trọng của việc xử lý chất thải chăn ni: (a) Hạn chế đến

mức thấp nhất sự thất thốt các chất dinh dưỡng trong chất thải ra môi trường gây

ô nhiễm và làm giảm giá trị kinh tế của chăn nuôi; (b) Giảm sự phân hủy sinh học

theo hướng bất lợi làm sản sinh nhiều chất gây ô nhiễm và phát tán các chất hữu

cơ, các chất ô nhiễm trong nước thải vào nguồn tiếp nhận nước thải sau xử lý; (c)

Hạn chế sự tạo thành và phát tán khí độc và khí gây mùi vào mơi trường khơng khí

trong q trình phân giải chất thải; (d) Hạn chế hay tiêu diệt các mầm bệnh phát

sinh từ gia súc, gia cầm hay từ chất thải như các ký sinh trùng, vi sinh vật có khả

năng gây bệnh truyền nhiễm; (e) Tận dụng chất thải chăn nuôi cho các mục đích

kinh tế như sử dụng làm phân bón cho cây trồng, sử dụng làm thức ăn nuôi cá,

giun hay sản xuất khí sinh học (Trương Thanh Cảnh, 2010).

2.1.1.3. Phương án xử lý chất thải chăn nuôi

Phương án xử lý chất thải có thể được hiểu theo nghĩa là những dự kiến về

cách thức, trình tự tiến hành cơng việc xử lý chất thải trong điều kiện, hồn cảnh

nào đó.

Phương án xử lý chất thải chăn nuôi thực chất là các phương án xử lý chất

thải được áp dụng cho chất thải chăn nuôi. Một số phương án xử lý chất thải

trong chăn ni góp phần giảm ơ nhiễm mơi trường như: (1) Quy hoạch chăn

nuôi; (2) Xử lý chất thải chăn ni bằng hầm Biogas (hệ thống khí sinh học); (3)

Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học (xử lý chất thải bằng men sinh học, chăn

ni đệm lót sinh học); (4) Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ Compost; (5) Xử

lý bằng công nghệ ép tách phân; (6) Xử lý nước thải bằng oxi hóa (xử lý bằng

sục khí, bằng o – zơn, bằng Hydro – peoxit). (7) Thay đổi khẩu phần ăn cho vật

nuôi, sử dụng men vi sinh vật trộn vào thức ăn của vật ni.

2.1.1.4.. Phân tích phương án xử lý chất thải chăn ni về mặt lợi ích – chi phí

a. Khái niệm phân tích lợi ích – chi phí

Phân tích có thể được hiểu là việc phân chia đối tượng nhận thức thành

nhiều bộ phận, từ đó xem xét cụ thể theo từng bộ phận để chỉ ra mối quan hệ cấu

thành và quan hệ nhân quả giữa chúng, đồng thời đưa ra những đánh giá, nhận



10



xét nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu. Nhưng trong đề tài, phân tích được giới hạn

trong phạm vi đi sâu để phân tích chi phí, lợi ích và các yếu tố ảnh hưởng đến

vấn đề nghiên cứu.

Phân tích lợi ích – chi phí là một kỹ thuật giúp cho các nhà ra quyết định

đưa ra chính sách hợp lý về sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên khan hiếm,

làm giảm hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực phát sinh trong các chương trình,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Hơn nữa, phân tích lợi ích – chi phí là một

cơng cụ chính sách cho phép các nhà hoạch định chính sách quyền được lựa chọn

các giải pháp thay thế có tính cạnh tranh với nhau (cụ thể trong trường hợp đánh

giá tác động tới môi trường) (Vũ Thế Chinh, 2003).

Dưới góc độ xem xét dự án, phân tích chi phí - lợi ích là một trong những

kỹ thuật phân tích dự án đã được đề xuất hoặc ban hành để xác định xem tiến

hành các dự án đó tác động thế nào đến lợi ích cộng đồng hoặc để lựa chọn giữa

hai hoặc nhiều dự án loại trừ lẫn nhau. CBA tiến hành thông qua việc gán giá trị

tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh các giá trị

của các đầu vào và các đầu ra. Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị

lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển

khai (Trần Võ Hùng Sơn, 2001). Phân tích lợi ích – chi phí còn là cơng cụ xác

định và so sánh chi phí và lợi ích của một chương trình, chính sách để đánh giá

chương trình, chính sách làm tăng hay giảm phúc lợi kinh tế của xã hội.

Trong phân tích và đánh giá chính sách cơng, phân tích lợi ích – chi phí

CBA (Cost-Benefit Analysis) là cơng cụ kỹ thuật cho phép đưa ra một tính tốn

định lượng, quy đổi tất cả các chi phí và lợi ích về một đơn vị đo lường thống

nhất là giá trị tiền tệ giúp cho người ra quyết định dễ dàng lựa chọn phương án

của. Thơng qua phân tích chi phí-lợi ích, một chính sách hay một hoạt động được

thực hiện khi và chỉ khi lợi ích của chính sách hay hoạt động đó thu về lớn hơn

so với chi phí bỏ ra. Trong trường hợp có nhiều chính sách hay hoạt động phải

lựa chọn trong hồn cảnh nguồn lực có hạn thì chính sách, hoạt động nào có lợi

ích ròng lớn nhất sẽ được lựa chọn.

Như vậy, CBA là một pháp thường được tiến hành trong quá trình ra

quyết định nên chấp nhận hay loại bỏ một phương án dựa trên tính hiệu quả của

nó hoặc quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều phương án có tính chất loại trừ

lẫn nhau. Nó là một phương pháp hữu ích và logic để xem xét các vấn đề, giúp

đánh giá một cách rõ ràng, đơn giản và chính xác những chi phí cũng như lợi ích



11



của các phương án từ đó cá nhân, tổ chức cũng như cộng đồng có cơ sở đưa ra

những quyết định có hiệu quả cao nhất.

b. Các bước tiến hành trong phân tích tích lợi ích – chi phí

Các bước chính được thực hiện trong phân tích chi phí – lợi ích được tóm

tắt thơng qua sơ đồ 2.1.



Sơ đồ 2.1. Các bước dùng trong phân tích chi phí - lợi ích

Trên cơ sở các chỉ tiêu đã tính tốn ở bước 4, chúng ta sẽ sắp xếp thứ tự

ưu tiên của các phương án đã đề ra ở bước 1. Sự sắp xếp này căn cứ vào: (1) Đối

với chỉ tiêu NPV, thông thường lựa chọn phương án mang lại giá trị dương và

sắp xếp các phương án nào có NPV cao nhất lên đầu; (2) Đối với chỉ tiêu B/C,

thường dùng phương án nào có tỷ suất lớn hơn 1 và sắp xếp giải pháp nào có B/C

cao nhất lên đầu.

c. Lựa chọn các thơng số liên quan

Tất cả chi phí và lợi nhuận trong tương lai được quy về giá trị hiện

thời (giảm giá trị) do vậy trong phân tích, việc xác định trục thời gian và hệ

số chiết khấu có tính chất đặc biệt quan trọng.

Chọn biến thời gian thích hợp: về mặt lý thuyết, phân tích kinh tế các

dự án phải được kéo dài trong khoảng thời gian vừa đủ để có thể bao hàm

hết mọi lợi ích và chi phí của dự án. Trong việc lựa chọn biến thời gian thích



12



hợp cần lưu ý đến 2 nhân tố quan trọng: (1) Thời gian tồn tại (sống) hữu ích

dự kiến của dự án để tạo ra và các lợi ích kinh tế cơ sở mà dựa vào dự án đó

được thiết kế; (2) Hệ số chiết khấu được sử dụng trong phân tích kinh tế của

dự án. Hệ số chiết khấu càng lớn thì thời gian sống hữu ích dự kiến sẽ càng

ngắn, bởi vì nó làm giảm đi giá trị tại lợi ích của dự án theo thời gian trong

tương lai.

Trong phân tích chi phí-lợi ích để lựa chọn hệ số chiết khấu thích hợp cần

chú ý các điều kiện sau: Thứ nhất, trong phép phân tích kinh tế chỉ sử dụng một

hệ số chiết khấu mặc dù khi phân tích có thể thực hiện lặp đi lặp lại với nhiều giá

trị khác nhau của hệ số chiết khấu. Thứ hai, hệ số chiết khấu không phản ánh lạm

phát, mọi giá cả sử dụng trong phân tích là giá thực gọi là hệ số chiết khấu thực.

Ngược lại hệ số chiết khấu bao hàm cả lạm phát gọi là chiết khấu danh nghĩa.

Chiết khấu: Chiết khấu là một cơ chế mà nhờ đó so sánh chi phí và lợi ích

ở các thời điểm khác nhau trên trục thời gian. Chiết khấu có một vai trò hết sức

quan trọng, bởi một sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ chiết khấu sẽ luôn luôn làm thay

đổi giá trị hiện tại ròng như vậy sử dụng tỷ lệ chiết khấu sai sẽ cho giá trị sai.

Hơn nữa, sự thay đổi về tỷ lệ chiết khấu sẽ có thể làm thay đổi lợi ích xã hội ròng

của một phương án cho biết từ dương sang âm (hay ngược lại), hoặc làm thay đổi

thứ tự của nhiều phương án lựa chọn.

Do đó, khi sử dụng chiết khấu cần đảm bảo hai điều kiện tiên quyết: Thứ

nhất, mọi biến số đưa vào tính chiết khấu (ví dụ chi phí tài nguyên, lợi nhuận, đầu

ra,…) phải được quy đổi về cùng một hệ đơn vị (đơn vị tiền tệ); Thứ hai, phải thừa

nhận giả định cho rằng: giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi ích hiện tại là lớn hơn

một đơn vị chi phí hoặc lợi ích trong tương lai (Nguyễn Thế Chinh, 2003).

d. Đặc điểm phân tích lợi ích – chi phí các phương án xử lý chất thải

chăn ni

Phân tích lợi ích – chi phí áp dụng lý thuyết kinh tế để lựa chọn thông

qua phương pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học. Qua đó các phương án

được xác định, các kết quả được nhận dạng và định giá. Tổng lợi ích ròng đối với

xã hội được tính tốn và so sánh, đưa ra quyết định cuối cùng một cách hiệu quả

nhất (Nguyễn Thế Chinh, 2003).

Phân tích lợi ích – chi phí của các phương án xử lý chất thải chăn nuôi là

một khái niệm khá phức tạp và rất khó đánh giá xác định. Việc phân tích lợi ích –



13



chi phí được xác định qua mối quan hệ giữa 2 đại lượng là lợi ích hay kết quả sản

xuất đạt được từ hoạt động xử lý chất thải chăn nuôi và chi phí bỏ ra để thực hiện

các hoạt động nhằm thu được kết quả, lợi ích đó. Chi phí bỏ ra, lợi ích mà các hộ

chăn ni nhận được từ các phương án xử lý chất thải là rất khó xác định một số

chính xác cụ thể, bởi vì nó thu được và phát sinh trong một thời gian dài với các

khoản khơng bằng nhau và ln thay đổi vì nhu cầu sử dụng của các hộ có sự

khác nhau. Bên cạnh đó, những kết quả về mặt xã hội, mơi trường sinh thái, độ

phì của đất hay các vùng sản xuất thì khơng thể lượng hóa và chỉ được bộc lộ

trong thời gian dài. Đó là việc khó khăn trong việc xác định đúng và đủ các yếu

tố để tính tốn lợi ích – chi phí (Nguyễn Quốc Chỉnh, 2010).

Muốn đưa ra được phương án đem lại hiệu quả cao nhất trong hàng loạt

các phương án đề xuất thì cần phải có một căn cứ, cơ sở nào đó để so sánh.

Phương pháp CBA sẽ cho chúng ta hình dung ra được tồn bộ những chi phí cũng

như lợi ích mà mỗi phương án đưa ra có thể đem lại, và dựa trên kết quả phân tích

đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp với mục tiêu đề ra. Kết quả của

sự lựa chọn này sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn. Đây là một công cụ thực sự có

hiệu lực thuyết phục khi đưa ra mơt quyết định (Nguyễn Thế Chinh, 2003).

Như vậy, phân tích lợi ích chi phí các phương án xử lý chất thải có thể

được hiểu đơn giản là một phương pháp phân tích kinh tế, so sánh những lợi ích

thu được do thực hiện các hoạt động xử lý đem lại với những chi phí và tổn thất

do việc thực hiện các hoạt động đó gây ra. Để có được kết quả phân tích đáng tin

cậy, q trình tiến hành CBA đôi khi không đơn giản bởi việc xác định đúng và

đủ các khoản chi phí cũng như lợi ích các phương án mang lại là hết sức quan

trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả cuối cùng và ý nghĩa của kết quả đó.

2.1.2. Vai trò của phân tích các phương án xử lý chất thải chăn ni

Có hai lý do để sử dụng CBA: Một là, CBA giúp người phân tích hiểu rõ

hơn về các phương án;Hai là, CBA sẽ giúp cho việc người ra quyết định có thêm

cơ sở để lựa chọn, cải thiện hiệu quả của sự phân bổ nguồn lực. Theo đó, phân

tích các phương án xử lý chất thải chăn ni có vai trò quan trọng trong việc

cung cấp thêm thông tin làm cơ sở ra quyết định cho người chăn ni nói chung,

hơn nữa nó còn góp phần là căn cứ để đề ra chính sách giải quyết bài tốn ơ

nhiễm mơi trường trong chăn nuôi đặc biệt là quy mô nông hộ. Việc phân tích

nhằm trả lời câu hỏi: Hộ nào? Xử lý thế nào? Tại sao lại làm như vậy? Lợi ích,

chi phí thế nào? Đã đạt hiệu quả hay chưa?



14



Phân tích chi phí – lợi ích các phương án xử lý chất thải đóng vai trò cung

cấp thơng tin về hiệu quả kinh tế của mỗi phương án. Trên cơ sở đó, xem xét

thêm lợi ích về mặt xã hội, môi trường để thấy được sự phù hợp của từng phương

án trong những bối cảnh thực tế khác nhau. Điều đó giúp ích cho người chăn

ni đầu tư vào các phương án có hiệu quả.

Một vấn đề được quan tâm hiện nay là sự liên quan giữa các hoạt động

chăn ni đến phát thải khí nhà kính (KNK) trong vấn đề Biến đổi khí hậu. Chăn

ni hiện đóng góp khoảng 18% hiệu ứng nóng lên của Trái đất do thải ra các khí

gây hiệu ứng nhà kính. Những chất thải khí này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian

tới. Chính vì vậy, việc tìm giải pháp phù hợp cũng như các phương án tối ưu để

quản lý, xử lý chất thải chăn ni thích hợp, khống chế ơ nhiễm, tận dụng nguồn

chất thải giàu hữu cơ vào mục đích kinh tế là một việc làm hết sức cần thiết đồng

thời góp phần thực hiện chiến lược bảo vệ mơi trường đến năm 2020. Để giải

quyết vấn đề đó, cần tiến hành phân tích lợi ích – chi phí các phương án xử lý

chất thải sẽ giúp chúng ta có cơ sở cho việc lựa chọn phương án phù hợp đối với

hộ chăn nuôi vừa hiệu quả về mặt kinh tế lại ít gây ơ nhiễm mơi trường.Và quan

trọng hơn nữa là kết quả của sự lựa chọn này sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn.

2.1.3. Nội dung phân tích các phương án xử lý chất thải chăn nuôi

Đề tài tài tập trung nghiên cứu phân tích lợi ích – chi phí của ba phương

án xử lý chất thải chăn nuôi ở dạng rắn, lỏng và hỗn hợp của hộ: thu gom chất

thải rắn để bón cho cây trồng, làm thức ăn cho cá hoặc để bán; sử dụng công

nghệ khí sinh học biogas; phương án kết hợp giữa xử lý qua hầm biogas và thu

gom. Trên cơ sở đó giải thích sự lựa chọn áp dụng các phương án khác nhau của

hộ dưới góc độ cá nhân. Trong các phương án xử lý chất thải từ chăn nuôi, mỗi

phương án có lợi ích và chi phí khác nhau. CBA là một công cụ mà sẽ giúp người

chăn nuôi lợn đưa ra quyết định tốt hơn về việc đầu tư cho xử lý chất thải chăn

nuôi của họ bằng cách đo lường và so sánh giữa chi phí và kết quả của các

phương án khác nhau.

Tất cả các mục chi phí và lợi ích của mỗi phương án được giả định là ổn

định và hầm khí sinh học biogas được cho là kéo dài một thời gian dài (15 năm

theo thiết kế). Tuy nhiên, những giả định này có thể khơng thích hợp cho tất cả

các trường hợp. Vì vậy, trong nghiên cứu này, giả định tỷ lệ chiết khấu có thể

thay đổi ở các mức như: 5%, 10% và 12%. Việc tính tốn CBA khi giả định thay

đổi nhằm mục đích tìm ra những phương án tốt nhất, phù hợp nhất trong từng

điều kiện.



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 . ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×