Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN KHUYẾN

NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cảnh vắng bóng người, cá tha hồ vùng vẫy, bướm thảnh thơi bay lượn bên những

cành lá trúc, đến bên bức rèm thưa.

Bên cạnh “tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” là cảnh “ngõ trúc quanh co khách

vắng teo”, các câu thơ đối xứng nhau tạo nên các tầng bậc trong tri nhận của độc giả.

Đồng thời thấy được sự cân đối, hài hòa trong cách dụng ngơn của nhà thơ.

Lời thơ Nguyễn Khuyến kín đáo, ngay cả trong thơ tả cảnh. Cái kín đáo trong

nghệ thuật tả cảnh của nhà thơ là tính chất gợi hình của lời thơ, câu thơ:

Nước biếc trơng như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc ánh trăng vào.

(Thu vịnh)

Hai câu thơ gợi cho ta hình ảnh mơng lung của mùa thu. Sương thu phơn phớt, hòa

với hơi nước từ mặt hồ bốc lên, tạo thành một bức màn sương khói trong buổi chiều

thu. Rồi trăng lên, ánh trăng cô độc chiếu vào cửa sổ một gian phòng vắng người, cảnh

rất mơ hồ, yên tĩnh.

Cái ánh trăng kia hòa lẫn với làn sương rồi phản chiếu mặt ao có khác nào một

ngơi sao lấp lánh trên nền trời đêm sâu thẳm, một ánh lửa nhỏ trong một không gian

tối càng làm tăng thêm cái huyền ảo, mơ hồ cho cảnh vật. Cảnh thu là vậy, còn cảnh

lụt:

Bóng thuyền thấp thống rờn trên vách

Câu thơ khiến người ta hình dung được cảnh nước dâng cao lên thềm nhà, người

chạy lụt thì cứ trơng hình ảnh bóng thuyền thấp thoáng in trên vách mà lo lắng. Cảnh

nước mênh mông với một con thuyền âm thầm trôi đi nhè nhẹ, văng vẳng có tiếng sáo

diều từ đâu đưa lại như ốn than, như trách móc càng làm tăng thêm cái tịch mịch,

lắng đọng của không gian:

Tiếng sáo vo ve chiều nước đọng,

Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trơi.

(Nước lụt Hà Nam)

Rồi đến nghệ thuật dùng từ để tả cảnh, chúng ta thấy Nguyễn Khuyến dùng từ rất

gợi cảm:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

(Thu điếu)

Ba chữ “bé tẻo teo” vừa là những từ ngữ thông dụng của thôn quê diễn tả cái nhỏ

bé của chiếc thuyền, lại cho ta thấy cái yên tĩnh của khơng gian. Chiếc thuyền kia có

khác nào chiếc lá nhỏ nằm trên mặt hồ. Cái vắng lặng của cảnh vật càng thấy rõ hơn

khi:

35



Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

(Thu điếu)

Sóng nước chỉ hơi gợn tí, lăn tăn, mặt hồ im phăng phắc. Một chiếc lá đưa vèo rồi

cũng chìm sâu vào cái mênh mông, vắng lặng ấy. Thi sĩ đã dùng chữ “vèo” một cách

tài tình, khiến chúng ta liên tưởng chiếc lá vơ tình cũng cảm thơng với cái n tĩnh,

vắng lặng của không gian.

Nhà thơ cũng dùng âm thanh để tô điểm thêm cho cảnh. Âm thanh trong cảnh trí

của Nguyễn Khuyến là những âm thanh nhẹ nhàng làm tăng thêm cái buồn cho cảnh

vật:

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

(Thu điếu)

Con cá kia lặng lẽ đớp bọt làm cánh bèo xao động, vài tiếng động nhỏ làm tăng

thêm cái vắng lặng, buồn tẻ của cảnh mùa thu.

Cái cảnh sắc thôn quê trong thơ Nguyễn Khuyến là sự đổi thay di động:

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên khơng ngỗng nước nào.

Hoa kia vơ tình vẫn trổ, một tiếng ngỗng trên không như đánh thức dĩ vãng, bầu

trời chìm sâu vào u tịch.

Lắm khi thi sĩ còn muốn để ý đến những tiếng động rất nhỏ quanh mình:

Chng trưa vẳng tiếng, người khơng biết,

Trâu thả sườn non ngủ gốc cây

(Nhớ cảnh chùa Đọi)

Nhà thơ thổn thức với quê hương bằng những ngôn từ đẹp, tinh tế. Hai câu thơ tả

cảnh nhưng lại chất chứa một tấm chân tình:

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt

Mắt lão khơng vầy cũng đỏ hoe

(Thu ẩm)

Nguyễn Khuyến ao ước quê nhà sẽ đổi thay, mong muốn một ngày mai tươi đẹp:

May được nồm nam cơn gió thổi

Đàn ta, ta gẩy khúc Nam nghe.

(Vào hè)

Ngôn ngữ tả cảnh rất điêu luyện, cách dùng từ tinh tế, từ ngữ thường giàu nhạc

điệu, có khả năng gợi tả cao. Nhà thơ sử dụng vốn ngôn ngữ bình dân nhưng khơng hề

rơi vào thơng tục hóa, cảnh nào cũng được vẽ, được chạm khắc tài tình đạt đến tầm

cao nghệ thuật.

36



Tóm lại, về nghệ thuật tả cảnh trong thơ Nguyễn Khuyến khơng có tính cách q

phái, đài các, cổ điển như ở Nguyễn Du, lời thơ của ơng ít trau chuốt, cảnh vật trong

thơ ơng thuần phác, tự nhiên.

3.1.2. Ngơn ngữ trào phúng, dí dỏm

Ngơn ngữ trào phúng của Nguyễn Khuyến hóm hỉnh, nhiều cung bậc, cách trào

phúng của nhà thơ rất riêng. Cái cười của ông đối với kẻ thù rất tinh tế, nhà thơ so

sánh cờ nước Pháp với váy phụ nữ:

Ba vuông phất phới cờ bay dọc

Một bức tung hoành váy xắn ngang

(Lấy Tây)

Hay:

Đã bấy lâu nay bác tới nhà,

Trẻ thời đi vắng chợ thời xa.

Ao sâu nước cả khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách trầu khơng có,

Bác đến chơi đây ta với ta.

(Bạn đến chơi nhà)

Cả bài thơ là một nụ cười hóm hỉnh, tế nhị, kín đáo. Bạn đến chơi nhà, về vật chất

cái gì cũng có, nhưng rốt cuộc lại khơng có cái gì đãi bạn. Bài thơ gợi lên một tình bạn

chân thành, cao đẹp, khơng mảy may vụ lợi.

Ơng có biệt tài, cường điệu và chơi chữ rất tài tình:

Văn hay chữ tốt ra tuồng

Văn dai như chão chữ vuông như hòm

Vẽ thầy như vẽ con tơm

Vẽ tay ngối cám, vẽ mồm húp tương.

(Ðùa chế ông Ðồ Cự Lộc)

Trong cuộc sống đời thường ở làng quê, trước bao nhiêu mối quan hệ thân thuộc,

gần gũi, ơng nói bằng cách nói dân gian, cách nói khẩu ngữ, tiêu biểu như bài thơ Lên

lão, Khai bút, Bạn đến chơi nhà… Hoặc cái dí dỏm của câu đối tết viết dùm người

hàng thịt:

Tứ thời bát tiết canh chung thủy

Liễu đôi bồ Ngạn dục điểm trang



37



Các bài thơ tiêu biểu: Than già, Bác đến chơi nhà, Tự trào, Bóng đè cơ đầu, Tạ

lại người cho hoa trà, Lấy Tây, Ðùa chế ông đồ Cự Lộc, Câu đối tết… đều là những

vần thơ trào phúng độc đáo của Nguyễn Khuyến.

Tiếng cười trong thơ ơng có lúc bơng đùa, có khi cay độc, lại có khi chỉ trích nhẹ

nhàng hoặc có khi uất ức đập mạnh... Tiếng cười đó khơng ồn ào mà thâm trầm sâu

sắc. Ông tự cười tuổi già của mình:

Khập khềnh bốn mắt tranh mờ tỏ

Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say

Còn một nỗi này thêm chân ngắt:

Đi đâu dở những cối cùng chày

Tiếng cười với nhiều cung bậc đã tạo nên một phong cách thơ Nguyễn Khuyến

độc đáo.



3.1.3. Ngôn ngữ xác thực, gợi cảm, gợi tả

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến trở thành thứ ngôn ngữ của nhân dân: xác thực, gợi

cảm, gợi tả, hồn nhiên mà vẫn sáng sủa. Ông tiếp thu những tinh hoa ngôn ngữ của

văn học dân gian, những bài thơ cấu tứ ca dao, tục ngữ và ngôn ngữ hàng ngày của

nông dân:

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ?

Trời sinh ra cũng để mà chơi

Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời

Chơi thủng trống long dùi âu mới thích

Đĩ bao tử càng chơi càng lịch

Tha hồ cho khúc khích chị em cười

Người ba đấng của ba loài

Nếu những như ai thì đĩ mốc

(Đĩ cầu Nơm)

Trong bài Nghệ thuật thơ văn Nguyễn Khuyến của Văn Tân: “Để mỉa mai châm

biếm bọn đĩ như loại Tư Hồng chuyên đầu cơ tình thế để làm giàu, khác nào bọn quan

lại đem bán rẻ lòng trung nghĩa để cầu danh lợi. Nguyễn Khuyến đã dùng rất nhiều ca

dao tục ngữ, thành ngữ có liên quan đến bọn đĩ như “chơi cho thủng trống long dùi”,

“đĩ bao tử”, “người ba đấng của ba loài”,“ đĩ mốc” [17; 343]... Ông đã chọn những

chủ đề liên quan đến thời thế, đến nhân dân, và đều có trong thực tế. Từ chỗ chọn chủ

đề có thực, Nguyễn Khuyến đi đến chỗ chọn ngôn ngữ xác thực và gợi tả, gợi cảm.

Nhà thơ đã sử dụng những từ ngữ rất đắt, đặc biệt nhất là các từ láy có tính tượng

hình, gợi cảm cao: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng, quanh co, vắng teo.



38



Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng nước theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Thu điếu)

Bên cạnh những từ ngữ dùng để nói về tình cảm của nhà thơ đối với cảnh, Nguyễn

Khuyến còn sử dụng nhiều tình thái từ một cách tự nhiên, gợi cảm, nhà thơ khơng nói

trực tiếp đến việc bạn mất, nhưng người đọc ai cũng hiểu:

Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

(Khóc Dương Kh)

Đây là một cách nói giảm, nhà thơ khơng muốn trực tiếp nói đến sự thực phũ

phàng ấy. Hơn nữa, cụm từ “thơi đã thơi rồi” còn thể hiện tình cảm nuối tiếc lẫn sự

bất lực của nhà thơ, tiếng than nhẹ nhàng đầy tình cảm. Mất bạn, Nguyễn Khuyến cảm

nhận không gian rộng lớn dàn trải, “nước mây” đâu cũng thấm đậm một nỗi buồn

thầm lặng khơn ngi: “Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta”.



3.2. Hình ảnh trong thơ Nguyễn Khuyến

Hình ảnh sử dụng trong thơ Nguyễn Khuyến thường đơn sơ nhưng lại rất khêu

gợi, thể hiện qua những chi tiết thật bình dị mà sống động. Nó có giá trị nâng các câu

thơ từ đó làm tăng sức biểu cảm. Hình ảnh hoa nở, trăng trơi, chiếc thuyền thấp

thống, bé tẻo teo, ngõ trúc quanh co, thấp le te, đóm lập lòe… là những từ, cụm từ

đầy sức sống.

Âm thanh của tiếng muỗi, tiếng dế, tiếng ngỗng, tiếng trâu thở, tiếng hạc bay, tiếng

chó sủa, tiếng sóng vỗ đã lột tả được đặc điểm của ngoại cảnh và tâm lý:

Bóng thuyền thấp thống dờn trên vách

Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà

(Vịnh lụt)

Màu sắc tuyệt diệu có khả năng gợi tả cao: Màu xanh của nước, màu xanh của trời,

xanh của ngọc, xanh của tre, xanh của bèo, màu đỏ hoe của mắt, màu sương chiều,

màu sáng của trăng đã tạo nên màu sắc đậm nhạt khác nhau, mờ ảo thanh đạm hay

lặng lẽ. Làn ao lóng lánh bóng trăng loe gây ấn tượng thị giác mạnh.



39



Nguyễn Khuyến là bậc thầy trong việc sử dụng ngơn ngữ và hình ảnh nhất là trong

việc tả cảnh sắc thiên nhiên. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam

vì những cảnh, người, vật qua lăng kính cảm nhận của ơng đều đậm đà phong vị của

quê hương, đất nước. Nguyễn Khuyến đã có những cống hiến quan trọng làm cho

ngôn ngữ văn học đi sát với đời sống và ông đã thành công trong việc chuyển cái tinh

túy của đời thường thành thơ.



3.2.1. Cụ thể, sinh động

Nguyễn Khuyến là một nhà nho yêu nước chân chính, ln ln quan tâm đến vận

mệnh của Tổ quốc, đời sống của nhân dân, đồng tình với nguyện vọng của nhân dân.

Hình tượng thơ của ơng cụ thể và sinh động. Đó là hình ảnh con đĩ tám tầng mà lại

được vua phong cho hàm tứ phẩm nghi nhân, hay là hình tượng người nơng dân những

năm mất mùa mà vẫn phải nộp “thuế quan Tây”, rồi phải đi vay nợ lãi “lãi mẹ lãi con

sinh đẻ mãi”, hoặc đó là hình tượng người nơng dân đang sống ở đồng ruộng thì bị

thực dân Pháp lơi lên chỗ “nước thiêng ma độc”, “rừng xanh núi đỏ”.

Ông miêu tả thiên nhiên với những hình ảnh cụ thể, sinh động có ao thu, nước

trong veo, thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, mây lơ lửng, ngõ trúc… Đây là hình ảnh rất

đỗi quen thuộc ở vùng đồng bằng chiêm trũng xứ Bắc trong bài Thu điếu.



3.2.2. Hình ảnh nhiều màu sắc

Thơ Nguyễn Khuyến sử dụng nhiều gam màu khác nhau, mỗi màu đều có những

đặc trưng riêng của nó, tất cả làm cho bức tranh thiên nhiên trong thơ ông trở nên đẹp

đẽ, đầy sức sống. Nhà thơ sử dụng những màu sắc thơng thường như xanh, đỏ, trắng,

vàng, đó là những sắc màu vốn có của thơn q, gắn với quê hương, xóm làng.

Màu xanh của nước, màu xanh của trời, xanh của ngọc, xanh của tre, xanh của

bèo, màu đỏ hoe của mắt, màu sương chiều, màu sáng của trăng, trong đó xanh và

trong là hai màu sắc chủ đạo. Màu xanh trong tâm hồn Yên Đổ vừa thể hiện cá tính,

vừa mang đậm hồn quê Việt Nam.

Màu xanh đang lên, đang lấn tới trông thấy được của những cây trồng trong vườn

nhỏ:

Tiểu viên tài thụ tam phần lục

(Cây trồng ở vườn nhỏ đã ba phần xanh biếc)

(Tức mục)

Là màu xanh của những cây trúc lô nhô bên bờ dậu:

Ly bạn sâm si bán lục trúc

(Bên bờ dậu lô nhô những cây trúc xanh nửa vời)

(Vịnh cúc – II)

Hay màu xanh đầy sức sống của tre, trúc sum suê trong vườn:

40



Ngã ấp Bùi viên xứ...

Viên bạn: hữu tu trúc y y

Nhất hà lục lục

(Làng ta ở xứ vườn Bùi

Quanh vườn tre trúc sum sê

Sao mà xanh mướt)

(Bùi viên biệt thự hỷ thành)

Ơng còn thấy màu xanh mút mắt của cánh đồng xanh mướt, màu xanh tươi mát

của đám rau tần:

Phú chiểu lục tần khiêu nhất lý

Đương môm thúy trúc vũ song hồ

(Trên đám rau tần xanh phủ mặt ao,

Một con cá chép nhảy lên

Trong bụi tre xanh trước cửa có đơi bướm bay liệng)

Hoặc:

Nước biếc trơng như tầng khói phủ

(Thu vịnh)

Đây là một sự giao thoa giữa xanh và trong. Bằng nghệ thuật miêu tả, khả năng

quan sát tỉ mỉ và tinh tế, hòa tâm hồn của mình vào bức tranh thiên nhiên của quê

hương với hình ảnh nhiều màu sắc, nhà thơ đã vẽ lên những hình ảnh thơ rất đẹp và thi

vị. Nhưng trước cái buồn, màu sắc tươi sáng nhường chỗ cho những gam màu phai

nhạt:

Ngõ trước vườn sau um những cỏ

Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê

(Vào hè)

Bên cạnh màu xanh của cỏ là màu vàng phai, màu thắm nhạt của hoa. Những màu

ấy dưới ánh nắng hè gay gắt gợi lên cảm giác bứt rứt, u uẩn.

Màu sắc cảnh vật trong thơ ca Nguyễn Khuyến phần nhiều là những màu nhạt,

những màu buồn. Nếu có một màu đậm như một làn sương, một hơi khói, một chút

mây cũng đủ làm cho màu sắc trở nên mơ hồ.

Nếu “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”, hay “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” thì

dưới bầu trời xanh ấy lại có cảnh: “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt” hay “Nước

biếc coi như từng khói phủ”. Vì vậy mới thấy khơng gian, cảnh vật dưới ngòi bút của

thi nhân Nguyễn Khuyến được mở rộng ở nhiều chiều kích, dạng thức, cung bậc.

Trong thơ Nguyễn Khuyến còn có màu vàng của lúa chín sớm, một màu sắc thân

quen, đặc trưng của chốn thôn quê:

41



Nhĩ bối mạc liên cùng ngã thậm

Cận văn tảo huệ phất phân hoàng

(Các ngươi chớ buồn vì túng đói q

Gần đây nghe tin lúa sớm có chỗ đã vàng)

(Hạ nhật sơ tình)

Đó cũng có thể là màu vàng của con chim sẻ, chim oanh trong vườn, màu vàng

của ánh trời chiều khi chợ tan, khói thưa:

Thị tán n sơ, nhật chính hồng

(Chợ tan, khói thưa, ánh trời ngả vàng)

(Vãn phố quy phàm)

Nhà thơ còn nói đến màu đỏ như hoa dâm bụt, rặng vải đỏ, vài con bướm đỏ bay

qua vườn nhà, mặt trời đỏ, thậm chí là đơi mắt màu đỏ. Với ông, màu sắc trở nên sống

động, có thể nói là “gắt” hay “quá”. Đã “xanh” thì là “xanh ngắt”, đã “đỏ” thì cũng

phải “đỏ hoe”:

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

(Thu ẩm)

Nguyễn Khuyến thật tài tình khi sử dụng màu sắc tuy đơn giản nhưng tô vẽ “gia

công” làm tôn lên vẻ đẹp của những bức tranh quê vừa gần gũi nhưng lại thoát tục,

thanh tao trong những tác phẩm của mình.



3.2.3. Kết hợp hài hòa giữa âm thanh và màu sắc

Để sử dụng thành cơng những màu sắc trong thơ đã khó, nhưng để kết hợp hài hòa

giữa âm thanh và màu sắc trong những bài thơ thì Nguyễn Khuyến quả là một thi sĩ đa

tài. Âm thanh và màu sắc được kết hợp nhuần nhuyễn, tạo nên một khung cảnh bức

tranh thiên nhiên tuyệt đẹp tựa như những bức tranh thủy mặc trong thơ Ðường:

Năm gian nhà cỏ thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ năm ba chén đã say nhè

(Thu ẩm)



42



Hoặc:

Bóng thuyền thấp thống dờn trên vách

Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà

Tiếng sóng vo ve chiều nước vọng

Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trơi

(Vịnh lụt)

Trong bài thơ, Nguyễn Khuyến đã kết hợp cả âm thanh và màu sắc: tiếng sóng

nước “long bong”, “vo ve” cùng với màu của ánh trăng: “trăng loe”, “trăng trôi” đã để

lại ấn tượng thẩm mỹ sâu sắc trong lòng người đọc.



3.3. Một số biện pháp tu từ

3.3.1. Từ láy

Có thể nói khơng có một nhà thơ nào khơng nhận ra vai trò của “từ láy” trong

ngôn ngữ thi ca. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại vận dụng phương thức láy theo những

cách thức khác nhau và từ đó tạo ra những giá trị nghệ thuật khác nhau. Nguyễn

Khuyến đã sử dụng từ láy một cách khéo léo:

Sơn thanh thanh, vân mịch mịch, thủy sàn sàn

(Non xanh xanh, mây lặng lẽ, nước dạt dào)

(Bùi viên đối ẩm trích cú ca)

Hay:

Sóng dập dờn sắc nước lẫn chiều mây

Bát ngát nhẽ ghẹo người du lãm

(Chơi Tây hồ)

Và:

Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

(Thu ẩm)

Ơng còn miêu tả:

Bóng thuyền thấp thống dờn trên vách

Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà

(Vịnh lụt)

Nhà thơ sử dụng nhiều từ láy âm và láy hình, từ đó cảm nhận thơ ơng chúng ta

phải sử dụng nhiều giác quan khác nhau.

Từ láy làm cho thơ Nguyễn Khuyến giàu hình ảnh, nhạc điệu, những từ lấp láy

được ông khai thác nhiều như: nhập nhèm, khấp khểnh, le te, lập lòe, vo ve, tênh hếch,

tẻo teo, làng nhàng, lóng lánh, long lanh, long bong… Có khi ơng láy lại nhiều lần

một phụ âm trong một câu thơ:

43



Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

(Thu ẩm)

Hoặc láy lại nhiều lần một vần “eo” trong một câu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẹo teo

(Thu điếu)

Với hai câu thơ được láy như vậy, người đọc cảm nhận được cái “lạnh lẽo” của

mùa thu xứ Bắc.

Nguyễn Khuyến khơng chỉ dùng những từ láy sẵn có mà còn sáng tạo những từ láy

rất lạ, láy sóng ba rất độc đáo:

Quyên đã gọi hè quang quác quác

Gà từng gáy sáng tẻ tè te

(Chim chích chòe)



3.3.2. Ẩn dụ

Nguyễn Khuyến sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ không phải ngẫu nhiên mà để nói

lên ý nghĩ của mình đối với thời cuộc. Để chửi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta,

cướp của, phá nhà của nhân dân ta; để lên án những chính sách tàn bạo của thực dân

bắt nơng dân ta đưa đi những nơi như Yên Bái, Lào Cai… làm đường xe lửa hoặc làm

giàu cho chúng. Cách nói ẩn dụ trong thơ Nguyễn Khuyến thể hiện thái độ phê phán,

kết án và có giá trị đấu tranh cao độ đối với bè lũ thực dân. Câu thơ vì thế rất tinh tế,

nhưng sâu cay, thâm thúy.

Nguyễn Khuyến trước sau kiên trì thái độ bất hợp tác với giặc, ơng đã mượn “Lời

gái góa” và hình ảnh Mẹ Mốc để nói lên ý chí sắt đá của mình.

Chàng chẳng biết gái này gái góa

Buồn nằm sng, sng cả áo cơm

Khéo thay cái mụ tá ơm

Đem chàng tuổi trẻ ép làm lứa đôi

Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc

Gái già này sức vóc được bao ?

Muốn sao, chiều chẳng được sao

Trước tuy sum họp, sau nào được lâu?

Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc

Chẳng ngờ rằng đói rách hổ ngươi

Vốn xưa cha mẹ dặn lời

Tư bôn lại phải kẻ cười người chê

Hỡi mụ hỡi, thương chi thương thế ?



44



Thương thì hay, nhưng kế chẳng hay

Thương thì gạo vải cho vay

Lấy chồng thì gái góa này xin van!

(Lời gái góa)

Trong bài Mẹ Mốc:

So danh giá ai bằng Mẹ Mốc,

Ngồi hình hài, gấm vóc cũng thêm ra,

Tấm hồng nhan đem bơi lấm xố nhồ,

Làm thế để cho qua mắt tục.

Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,

Tâm trung thường thủ tự kiên kim.

Nhớ chồng xa mn dặm khơn tìm,

Giữ son sắt cho tròn một tiết.

Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,

Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ.

Đắp tai, ngoảnh mặt làm ngơ,

Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.

Khôn em dễ bán dại này!

(Mẹ Mốc)

Những “tấm hồng nhan”, “mỹ ngọc”, “kiên kim”, “son sắt”, “sạch như nước, trắng

như ngà, trong như tuyết”, “gương trinh vằng vặc”… là những hình ảnh để nói lên tấm

lòng trinh bạch, tiết tháo của một thi sĩ yêu nước. Dù “khôn dại”, nhà thơ quyết “kệ,

thây”, ngoảnh mặt, đắp tai để giữ tấm lòng trung trinh, son sắt.



3.3.3. Nghệ thuật chơi chữ

Nguyễn Khuyến là người lúc nào cũng có thể đề chữ, làm thơ, viết câu đối. Nghệ

thuật chơi chữ trong thơ ơng vì thế tinh tế, sắc sảo lại gần gũi đời sống dân quê, gắn bó

với cuộc sống của bà con làng xóm:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ

Xin đơi câu đối để thờ ơng.

(Cho hàng xóm xin câu đối tết)

Câu đối trong bài “Vợ người thợ nhuộm khóc chồng” là một sáng tạo độc đáo

trong cách chơi chữ, làm cho hình thức diễn đạt và nội dung tư tưởng, tình cảm quyện

chặt với nhau, quy định lẫn nhau như một tất yếu.

Giá trị của những câu đối thợ rèn, hàng thịt mang ý nghĩa cô đọng:

Điều dại điều khôn nhờ bố đỏ,

Tím gan tím ruột với ơng xanh.

(Vợ người thợ nhuộm khóc chồng)



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×