Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bố chánh Quảng Ngãi. Năm 1879 Nguyễn Khuyến được điều về Kinh sung chức Trực

học sĩ và làm Toản tu ở Quốc sử quán. Năm 1883, triều đình Huế cử ông làm phó sứ

cùng với Lã Xuân Oai, Tuần phủ Lạng Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng) làm chánh sứ đi

cơng cán nhà Thanh, nhưng tình hình biến đổi, tháng 8 năm 1883, Thuận An thất thủ,

việc đi sứ bị đình, ông lại về chức cũ. Tháng 12 năm ấy, thực dân Pháp đánh Sơn Tây

là Nguyễn Đình Nhuận chạy lên Hưng Hóa, kháng chiến cùng với Nguyễn Quang

Bích. Bọn thực dân bắt Nguyễn Hữu Độ cử Nguyễn Khuyến làm quyền Tổng đốc

nhưng ơng dứt khốt từ chối, lấy cớ đau mắt nặng xin cáo quan về làng.

Nguyễn Khuyến làm quan mười một năm (1872- 1883), còn phần lớn cuộc đời

ơng là ở quê nhà, một vùng đồng chiêm trũng nước. Thời gian làm quan cũng như lúc

về nhà, Nguyễn Khuyến sống gần gũi với quần chúng, hiểu biết những lo toan và tâm

tình của họ.



1.1.2. Thời đại

Cuộc đời của Nguyễn Khuyến nằm trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách nhưng dù

ở cảnh ngộ nào ông cũng giữ được phẩm chất trong sạch của một nhà nho khí tiết, một

nhà thơ yêu nước, yêu quê hương. Phẩm chất tốt đẹp đó cùng với tâm hồn rộng mở,

giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên, có điều kiện sinh hoạt gần

gũi với nhân dân lao động ở nông thôn trở thành nguồn mạch chủ yếu tạo ra giá trị

trong thơ Nguyễn Khuyến.

Cụ Nguyễn Khuyến ngồi đức tính thơng thường của một sĩ phu chân chính ơng

còn rất kiên nhẫn, bền gan, liêm khiết, vui vẻ và bình dị.

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa

Chợ búa trầu chè chẳng dám mua

(Chốn quê)

Anh em hàng xóm xin mời cả

Chú Đáo xóm đình lên với tớ

Ơng Từ cuối chợ lại cùng ta

(Lên lão)



1.2. Sự nghiệp sáng tác

1.2.1. Chữ Hán

Nguyễn Khuyến sáng tác nhiều. Đương thời ông nổi tiếng là một thi nhân tài hoa,

tác phẩm của ông được tập hợp riêng trong những cuốn sách in hoặc chép tay cả thơ

chữ Nôm và chữ Hán gồm nhiều thể loại: Thơ đường luật, cổ phong, ca từ, lục bát, hát

nói, câu đối, văn sách… nội dung thơ chữ Hán và chữ Nơm hồn tồn thống nhất, rất

phong phú về đề tài, về phương pháp biểu hiện cảm xúc.



5



Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khuyến được cắm mốc lớn từ khi ông cáo quan về ở

ẩn, đây là bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của ơng, bởi cáo quan khơng có nghĩa

là ơng đi ở ẩn mà là phản ứng có ý thức của một nhà nho chân chính. Nói đến Tam

Nguyên Yên Đổ là nói đến một nhà thơ nổi tiếng, một người đã từng đỗ đầu cả ba kì

thi, điều đó chứng tỏ văn chương của ơng đã đạt đến mẫu mực. Nguyễn Khuyến sáng

tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, nhưng số lượng chữ Nôm không nhiều mà phần lớn

viết bằng chữ Hán. Tuy nhiên Tam Nguyên Yên Đổ chỉ nổi tiếng bằng thơ Nôm, chữ

Nôm là chữ dân tộc, dễ hiểu và độc giả lại dễ nắm bắt, có thể diễn tả mọi cung bậc tình

cảm của con người.



1.2.2. Chữ Nôm

Quả thật thơ Nôm Nguyễn Khuyến có thể sánh với bất cứ nhà thơ nào trong làng

văn học dân tộc. Thơ chữ Nôm của ông hướng nhiều tới cảnh ruộng đồng, ao hồ làng

mạc và bà con hàng xóm với tinh thần cởi mở hồ đồng, đồng thời bộc bạch nỗi niềm

của nhà thơ.

Tập Quế sơn thi tập có khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và chữ Nôm, khoảng

100 bài với nhiều loại thể khác. Có bài tác giả viết bằng chữ Hán rồi dịch ra tiếng Việt,

hoặc ngược lại, ông viết bằng chữ Việt rồi dịch sang chữ Hán. Trong bộ phận thơ

Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình.



1.3. Nội dung thơ Nguyễn Khuyến

1.3.1. Tư tưởng nhân văn trong thơ Nguyễn Khuyến

Phần lớn thơ Nguyễn Khuyến được sáng tác trong thời gian ở ẩn, mặc dù vậy thơ

ơng vẫn mang một tấm lòng trung trinh đối với đất nước. Là một nhà nho vừa là một

ông quan từng hưởng bổng lộc của triều đình nên tư tưởng yêu nước của Nguyễn

Khuyến trước hết gắn liền với tư tưởng trung quân. Trong Di chúc, ông thể hiện rõ

quan điểm của mình:

Ơn vua chưa chút báo đền

Cúi trơng hổ đất ngẩng lên thẹn trời

Nguyễn Khuyến tự hào về học vấn của mình. Ơng lấy đó làm vốn sống để dạy

con:

Khi đưa Thầy con rước đầu tiên

Cờ biển vua ban ngày trước

Hình ảnh Vua ở đây là thống nhất với Nước, với Tổ quốc, bởi theo quan niệm

chính thống của Nho gia Nước với Vua là một. Vì chưa trả được ơn vua có nghĩa là

chưa trả được ơn nước. Hình ảnh đất nước thường xuyên xuất hiện trong thơ Nguyễn



6



Khuyến, có khi rất cụ thể như trong bài: Hoàn kiếm hồ, nhà thơ ngậm ngùi, nuối tiếc

bởi sự thay đổi của Thăng Long:

Hành mao hà xứ khởi lâu các,

Già pháo dạ thanh vô quản huyền.

Huyền điểu quy lai mê cựu kính,

Bạch âu mộ hạ túc hành yên

Dịch nghĩa

(Nhà tranh ở nơi nào không thấy, chỉ thấy lâu đài,

Tiếng nổ đì đùng khơng nghe tiếng đàn sáo.

Chim cuộc trở về quên mất đường cũ

Con cò tối đến lại trú trong đám khói lạnh).

Có khi đó là hình ảnh đất nước nói chung trước sự xâm lăng của giặc:

Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,

Nước độc ma thiêng mấy vạn người.

Khoét rộng ruột gan trời đất cả,

Phá tung phên dậu hạ di rồi…

Sống giữa thời kỳ nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến khơng đành nhìn giang sơn

rơi vào tay giặc, lại khơng cam tâm ở lại triều đình để làm bù nhìn nên ơng quyết định

xin cáo quan về ở ẩn. Lòng Nguyễn Khuyến khơng phải khơng day dứt và đấu tranh tư

tưởng. Ơng biết chắc rằng:

Khứ quốc khởi vơ bằng bối tại,

Quy gia vị tất tử tôn hiền?

(Cảm tác)

Dịch nghĩa:

(Bỏ chức há không bạn bè ở lại

Về nhà vị tất con cháu đã khen thay?)

Nhưng cuối cùng ông đã quyết định về ở ẩn. Hơn thế nữa, có lúc ơng còn ân hận

mình khơng cáo quan về sớm.

Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước

Ngán kẻ phương trời chẳng dứt dây

(Nghe hát đêm khuya)

Mãi về cuối đời trong bài Di chúc, nhà thơ vẫn nhắc lại việc trở về của ông,

Nguyễn Khuyến vẫn không ân hận mà còn muốn người đời ghi nhận hành động ấy:

Đề vào mấy chữ trong bia

Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu



7



Về sau, thời cuộc biến chuyển, nhiều người tiếp tục từ quan. Nguyễn Khuyến thấy

rất rõ họ không phải là kẻ bất tài, mà trái lại, đó là những kẻ dũng thối:

Khả hạnh chư quân năng dũng thoái,

Vị ưng nhất chức tẫn phi tài

Bách niên tứ hà vi giả,

Ngô ấp khâu lăng diệc mỹ tai!

(Vũ hậu xuân túy cảm thành)

Dịch nghĩa:

Ðáng mừng các bạn mạnh dạn dám lui về,

Ðâu phải là đối với chức vụ mình khơng làm nổi

Cuộc đời trăm năm xe ngựa có ra trò gì,

Mà ở q chúng ta gò núi vẫn tươi đẹp lắm

(Cảm hoài sau bữa chén xuân sau cơn mưa )

Sau khi cáo quan, Nguyễn Khuyến sống ở làng quê và xem quê hương như chiếc

nôi, chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống bình dị của mình. Ông sống khiêm tốn, trong

sạch, giữ tiết tháo, chan hòa với mọi người. Ông thường làm các bài thơ ngâm vịnh ca

ngợi vẻ đẹp của các loài hoa, ca ngợi cơng dụng các lồi cây, qua đó muốn nói đến cái

đức ở đời.

Nguyễn Khuyến còn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn của con người nhằm khẳng định

phẩm chất trong sạch của ông. Nhà thơ quan niệm:

Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc

Tâm trung thường thủ tự kiên kim

(Mẹ Mốc)

Nhà thơ ca ngợi sự tiết tháo của người đàn bà đáng thương trong bài thơ Mẹ Mốc:

Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết.

Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ.

Nguyễn Khuyến là nhà thơ coi trọng danh dự và khí tiết, ơng trăn trở:

Phiên âm:

Thế đồ kim hựu đa kha khảm,

Lợi cục nan năng quả oán vưu.

Vị ngã phất tu chung hữu khích,

Thức nhân thỏa diện tích bằng ưu.

(Tiểu thán)

Dịch nghĩa:

(Trên đường đời, nay lại gặp nhiều bước gập ghềnh,

Trong cuộc đời khó giữ được ít lời ốn trách.

8



Kẻ phẩy râu cho mình, rốt cuộc cũng gây nên hiềm khích,

Người ta nhổ vào mặt mình chùi đi, đời xưa còn cho là đáng lo).

(Vài lời than)

Có thể nói, hành động thoái ẩn của Nguyễn Khuyến cũng là cách để nhà thơ giữ

phẩm cách của mình. Nhiều bài thơ tiêu biểu có tính chất triết lý cao như Di chúc,

Vườn Bùi chốn cũ, Vịnh cây tùng, Cây lược đồi mồi, Mẹ Mốc, Xuân dạ lân nga, Nhân

tặng nhục, Tiểu thán...

1.3.2. Tấm lòng yêu nước thiết tha

Dù làm quan hay ở ẩn thì mối quan tâm lo lắng cho đất nước ln thường trực

trong lòng Nguyễn Khuyến. Đó là nỗi đau của nhà thơ khi khơng làm được gì để thay

đổi cuộc đời, vì thế lời thơ của ơng thường đượm buồn, đầy nước mắt khi nói về đất

nước. Ngày còn làm quan, việc thực dân khai thác tài nguyên đã làm Nguyễn Khuyến

thực sự đau xót với những câu thơ đậm chất tự sự:

Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm

Nước độc ma thiêng mấy vạn người

Khoét rộng ruột gan trời đất cả,

Phá tung phên dậu hạ di rồi...

Thôi thôi đến thế thì thơi nhỉ,

mây trắng về đâu nước chảy xi..

(Hồi cổ)

Trước thời cuộc đầy biến động, nhà thơ trăn trở:

Ðời loạn người về như hạt độc

Tuổi già hình bóng tựa mây cơi.

(Cảm tác)

Hay:

Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dặn các con)

Ông ưu tư :

Cố quốc sơn hà chân thảm đạm

(Hung niên)

Và:

Nhất độ giang sơn nhất bạc đầu

(Thu tứ)



9



Nhà thơ mượn tiếng cuốc kêu để thể hiện tâm trạng nhớ nước da diết, khắc khoải.

Bài thơ Cuốc kêu cảm hứng như một lời nỉ non tâm sự đầy xao xuyến khi nhớ tới non

sơng.

Nói chung, âm điệu trong phần lớn thơ trữ tình của Nguyễn Khyến là buồn. Nghe

tiếng hát giữa đêm khuya hay tết đến, xuân về đều khiến nhà thơ buồn tê tái:

Xuân về ngày loạn còn lơ láo

Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ...



1.3.3. Thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến

Lúc Nguyễn Khuyến ra làm quan, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đã nổ

ran khắp trong Nam, ngoài Bắc, xã hội biến động dữ dội. Đối với nhà nho từng lấy

việc làm quan làm con đường thực hiện lý tưởng thì việc từ quan về nhà khơng phải

chuyện dễ.

Nhà thơ đả kích những việc làm gây tiếng vang ầm ĩ lúc bấy giờ, lên án những thủ

đoạn bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp. Bọn chúng đã đẩy hàng vạn người dân vô tội

đến chốn ma thiêng nước độc. Các bài thơ Hội Tây, Hoài cổ, Văn tế Cơ ri vi e â… đã

phản ánh thực trạng đó bằng bút pháp hiện thực trào phúng sâu sắc:

Hỡi ơi!

Ơng ở bê Tây,

Ơng qua bảo hộ.

Cái tóc ơng quăn,

Cái mũi ơng lõ,

Ðít ơng cưỡi lừa,

Miệng ơng ht chó,

Lưng ơng đeo súng lục liên,

Chân ơng đi giày có mỏ,

Ơng dẹp cờ đen

Ðể n con đỏ.

Ai ngờ:

Nó bắt được ơng,

Nó chặt mất sỏ.

Cái đầu ơng đâu?

Cái đít ơng đó.

Khốn khổ thân ơng

Ðéo mẹ cha nó.

(Văn tế Cơ ri vi e â)



10



Nguyễn Khuyến từng làm quan nên đã thấy rõ hiện thực quan trường và thế giới

khoa bảng nói chung là đổ nát và thảm hại. Ngòi bút của ơng đã vạch trần nhiều mặt

xấu xa, thối nát của bọn quan lại, đó là bất tài, vô dụng, dốt nát, hay chỉ là thứ phỗng

đá không hơn không kém, trơ trơ trước sự nguyền rủa của nhân dân.

Thái độ của Nguyễn Khuyến rất dứt khoát, bằng lối nói mát chửi mát, nói ngọt mà

lọt đến xương, Nguyễn Khuyến đả kích, châm biếm, xỏ ngầm rất thâm thúy. Thậm chí

khi cần, ơng còn chuyển roi quất mạnh đánh đau bằng các biện pháp nghệ thuật độc

đáo như chơi chữ, nói láy, dùng từ đa nghĩa, dùng âm của chữ Hán chuyển sang tiếng

Việt.

Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,

Tiên là ý chú muốn vòi xu

Từ vàng sao chẳng ln từ bạc

Khơng khéo mà roi nó phết cho

(Bồ tiên thi)

Các bài thơ tiêu biểu: Ông phỗng đá, Lời vợ người hát chèo, Hỏi thăm quan tuần

bị mất cướp, Bồ tiên thi, Tặng ông Ðốc học Hà Nam đều là những bài thơ vạch mặt chỉ

tên những tên quan bất tài, hống hách bằng thái độ châm biếm sâu cay:

Ơng đứng làm chi đó hỡi ơng?

Trơ trơ như đá, vững như đồng.

Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?

Non nước đầy vơi có biết khơng?

(Ơng phỗng đá)

Trong bài thơ chữ Hán Quá quận công Hữu Ðộ sinh từ hữu cảm (Cảm nghĩ lúc

qua sinh từ quận công Nguyễn Hữu Ðộ) là thái độ khinh bỉ, mỉa mai của Nguyễn

Khuyến. Nhà thơ đả kích tên Nguyễn Hữu Ðộ, sau khi hắn chết, đi qua sinh từ của

hắn, nhà thơ nghĩ:

Công tại, tứ thời tập quan đới,

Ðắc dự giả hỉ, bất dự bi.

Công khứ, quan đới bất phục tập,

Hương hỏa tịch tịch hồ ly ly.

Dản kiến đệ nhị vơ danh cơng,

Triêu tịch huề trượng lai vu ty.

Trần gian hưng phế đẳng nhàn sự,

Bất tri cửu ngun thùy dữ quy?

Dịch nghĩa:

Khi ơng còn thì áo mũ cân đai bốn mùa tấp nập,

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×