Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới

qua các năm từ năm 2003 đến năm 2012

Năm



Diện tích (ha)



Năng suất (tấn/ha)



Sản lượng (tấn)



2003



2477136



279439



69220916



2004



2368077



285526



67614648



2005



2386120



279082



66592198



2006



2224681



295286



65691792



2007



2198204



283159



62244048



2008



2234387



290304



64865039



2009



2251847



289299



65145711



2010



2258783



289097



65300717



2011



2365622



293849



69513476



2012



2391747



293112



70104972



Trung bình



2315660



287815



66629351

Nguồn: FAOSTAT (2014)



- Về sản lượng: Sản lượng rau họ hoa thập tự năm 2012 đạt 70104972

tấn. Như vậy, sản lượng năm 2012 đạt cao nhất trong những năm qua. Năm thấp

nhất là năm 2007, sản lượng chỉ đạt 62244048 tấn, thấp hơn so với sản lượng

trung bình 4385304 tấn, so với năm 2012 (sản lượng đạt cao nhất), năm 2007

thấp hơn 7860924 tấn, như vậy đến năm 2012 sản lượng đã tăng 12,63 % so với

năm 2007. Năm 2007 coi như là một cái mốc đánh giá, từ năm 2003 đến năm

2007 thì sản lượng ln giảm sau các năm, nhưng từ năm 2007 trở lại đây thì sau

các năm sản lượng luôn tăng, đáng kể nhất sự tăng, năm 2011 đã tăng lên

4000000 tấn so với năm 2010 trước đó.

Nghiên cứu tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự ở một số khu vực trên

thế giới năm 2012 kết quả thu được ở bảng 2.2.



44



Bảng 2.2. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở một số khu

vực trên thế giới năm 2012

STT



Khu vực



Diện tích

(ha)



Năng suất

(kg/ha)



Sản lượng

(tấn)



1



Châu Á



1768656



303146



53616145



2



Châu Âu



413175



276693



11432255



3



Châu Mỹ



82380



258052



2125838



4



Châu Phi



124088



226092



2805533



5



Tổng hợp



2391747



293112



70104972



Nguồn: FAOSTAT (2014)



Qua bảng 2.2 chúng tơi thấy: Cả thế giới có 2391747 ha diện tích đất

trồng rau thập tự. Trong khi Châu Á có diện tích trồng lên đến 1768656 ha,

chiếm 73,94% tổng diện tích của cả thế giới. Trong khi Châu Á chiếm diện tích

trồng rất lớn thì Châu Mỹ chỉ có 82380 ha, chiếm 3,44% diện tích trồng của cả

thế giới. Ngay cả Châu có diện tích trồng đứng thứ 2 là Châu Âu cũng chỉ có

413175 ha, chiếm 17,27%, nhưng so với Châu Á, sự chênh lệnh về diện tích là

quá lớn, diện tích trồng rau họ hoa thập tự của Châu Á gấp xấp xỉ 4 lần diện tích

của Châu đứng sau nó (Châu Âu).

- Về năng suất: Châu Á là Châu lục có diện tích cao nhất, nhưng bên cạnh

đó Chấu Á cũng có năng suất đạt cao nhất, năm 2012 năng suất của Châu Á đạt

303146 kg/ha, so với năng suất trung bình tồn thế giới, năng suất của Châu Á

cao hơn gần 10000 kg/ha. Đứng thứ 2 là Châu Âu với năng suất đạt được là

276693 kg/ha, năng suất của Châu Âu thấp hơn Châu Á 26453 kg/ha thấp hơn

9,56%, và thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới 16419 kg/ha, thấp

hơn 5,93%. Châu Mỹ là châu có diện tích thấp nhất nhưng năng suất cũng đạt

258052 kg/ha, cao hơn Châu Phi, châu có năng suất đạt thấp nhất (226092 kg/ha)

là 31960 kg/ha. Châu Phi có năng suất thấp nhất trên thế giới, tính với Châu Á

năng suất của Châu này thấp hơn 77054 kg/ha.

- Về sản lượng: Toàn bộ thế giới năm 2012 đạt 70104972 tấn rau họ hoa

thập tự. Châu Á có sản lượng rau cao nhất (đạt 53616145 tấn), chiếm 76,48% so

với tổng sản lượng rau họ hoa thập tự của toàn thế giới; tiếp đến là sản lượng rau

họ hoa thập tự của châu Âu (đạt 11432255 tấn), chiếm 16,31% tổng sản lượng



45



rau toàn thế giới và sản lượng rau họ hoa thập tự của Châu Mỹ là thấp nhất (đạt

2125838 tấn), chiếm 3,03% tổng sản lượng rau họ hoa thập tự toàn thế giới.

Như vậy, từ kết quả nghiên cứu đánh giá của bảng 2.1 và 2.2 chúng tôi

nhận thấy: Mặc dù, rau họ hoa thập tự là loài rau có nguồn gốc ở vùng ơn đới

nhưng loại rau này chỉ cần có điều kiện khí hậu lạnh mát vẫn sinh trưởng, phát

triển và cho năng suất cao. Còn ở các nước châu Á (khí hậu nhiệt đới), loại rau

này chỉ trồng chủ yếu vào vụ đông xuân (tức chỉ trồng được 1 vụ/năm). Nhưng

trong thực tế, diện tích rau họ hoa thập tự ở châu Á lớn nhất thế giới (đạt

1768656 ha, chiếm 73,94% diện tích rau họ hoa thập tự tồn thế giới.

2.1.2. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á

Nghiên cứu tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á,

kết quả thu được ở bảng 2.3.

Bảng 2.3. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở một số nước

trong khu vực châu Á năm 2012

STT



Khu vực



1



Ấn Độ



2



Diện tích

(ha)



Năng suất

(kg/ha)



Sản lượng

(tấn)



375000



226667



8500000



Hàn Quốc



29765



711886



2118930



3



Philippin



8527



148183



126356



4



Thái Lan



34000



148529



505000



5



Trung Quốc



980000



334694



32800000



6



Việt Nam



45000



174444



785000



Nguồn: FAOSTAT (2014)



Như bảng trên, bảng 2.3 chúng tơi thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng

rau họ hoa thập tự ở các nước châu Á khơng đồng đều, có sự chênh lệch lớn.

Trong đó, Trung Quốc là nước có diện tích rau lớn nhất châu Á, đạt 980000 ha;

đứng ngay sau là Ấn Độ nhưng diện tích chỉ bằng ½ diện tích rau họ hoa thập tự

của Trung Quốc, diện tích trồng rau họ hoa thập tự của Ấn Độ là 375000 ha, chỉ

bằng 36,27% diện tích trồng rau họ hoa thập tự của Trung Quốc. Việt Nam là nước

đứng thứ 3 có diện tích trồng rau họ hoa thập tự là 45000 ha. So với Trung Quốc

và Ấn Độ diện tích trồng đó của Việt Nam là rất ít chỉ bằng 4,59% so với Trung



46



Quốc và bằng 12% so với Ấn Độ. Trong bảng trên thấy diện tích trồng rau họ hoa

thập tự của Philippin là thấp nhất.

- Về năng suất: Theo như Hàn Quốc là nước có năng suất rau đạt 458333

kg/ha cao nhất thế giới, về năng suất rau thập tự Hàn Quốc vẫn là nước có năng

suất ra họ hoa thập tự cao nhất, đạt 711886 kg/ha; tiếp đến năng suất rau của

Bahrain đạt 334694 kg/ha và Timor là nước có năng suất rau họ hoa thập tự thấp

nhấ, đạt 148183 kg/ha. Việt Nam có năng suất đạt 174444 kg/ha, đứng thứ tư về

năng suất trong khu vực.

- Về sản lượng: Với diện tích cao nhất khu vực và năng suất cũng đứng

thứ hai trong khu vực, sản lượng rau họ hoa thập tự của Trung Quốc cao nhất.

Đứng thứ 2 về diện tích trồng và cũng đứng thứ hai về sản lượng thu được, Ấn

Độ năm 2012 có sản lượng rau họ hoa thập tự đạt 8500000 tấn. Philippin là nước

có sản lượng rau họ hoa thập tự thấp nhất châu Á, đạt 126356 tấn. Việt Nam là

nước có diện tích đứng thứ 3 và năng suất đứng thứ tư, sự chênh lệch về diện tích

là không qua lớn so với Hàn Quốc nhưng sự chênh lệch và năng suất là quá lớn

nên sản lượng rau họ hoa thập tự của Việt Nam chỉ đứng thứ tư trong khu vực,

với sản lượng thu được 785000 tấn.

2.1.3. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, có bốn mùa trong năm, trong đó

có một mùa đông lạnh rất thuận lợi cho việc trồng các loại rau họ hoa thập tự.

* Về diện tích: trong mười năm kể từ năm 2003 đến năm 2012 diện tích

trồng rau họ hoa thập tự có sự biến động liên tục qua các năm. Trong 10 năm, năm

2003 có diện tích gieo trồng là thấp nhất chỉ đạt 34804 ha, trong đó năm 2010 có

diện tích đạt lớn nhất 47151 ha. Diện tích gieo trồng tính từ năm 2003 đến năm

2010 của rau họ hoa thập tự trong nước ta liên tục tăng, tăng 12347 ha. Đến năm

2011 diện tích đột ngột giảm xuống còn 43591 ha, nhưng đến năm 2012 diện tích

lại tăng (đạt 45000 ha) trở lại tuy chưa nhiều so với năm trước đó 2011.

* Về năng suất: diện tích thì khơng ngừng tăng qua các năm nhưng về

năng suất rau họ hoa thập tự khơng có sự biến đổi nhiều. Năng suất giao động từ

170000 – 180000 tấn/ha. Duy nhất năm 2009 có năng suất chỉ đạt 164286 tấn/ha.

Năm 2004 đạt cao nhất 180556 tấn/ha.



47



* Về sản lượng: Diện tích thay đổi, năng suất biến động nên sản lượng rau

họ hoa thập tự có sự biến động mạnh qua các năm. Sản lượng năm 2003 đạt thấp

nhất, đạt 606226 tấn, trong đó năm 2010 sản lượng đạt được 805288 tấn. Như

vậy, giữa năm có sản lượng thấp nhất và năm có sản lượng cao nhất về sản lượng

có sự chênh nhau tới 199062 tấn.

Bảng 2.4. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) tại Việt Nam

qua các năm từ năm 2003 đến năm 2012

Năm



Diện tích (ha)



Năng suất (tấn/ha)



Sản lượng (tấn)



2003



34804



174183



606226



2004



36000



180556



650000



2005



40000



175000



700000



2006



39920



172176



687325



2007



42435



170392



723059



2008



42612



174677



744333



2009



45329



164286



744694



2010



47151



170789



805288



2011



43591



177759



774868



2012



45000



174444



785000

Nguồn: FAOSTAT (2014)



2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SÂU HẠI RAU HỌ HOA THẬP TỰ

TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

2.2.1. Tình hình nghiên cứu về sâu hại họ hoa thập tự trên thế giới

Theo Chamberlin’ J. R. và Kok L. T. chỉ ra rằng trên bắp cải có rất nhiều

sâu hại khác nhau. Nhưng trong đó sâu tơ là lồi xuất hiện nhiều nhất

(Chamberlin’ J. R. and Kok L. T., 1986). Điều này cũng được Avciu và Ozbeck

H khẳng định một lần nữa (Avciu and Ozbeck H., 1990). Theo Wakisaka et al.

(1989) chỉ ra sâu tơ phát triển chậm ở mùa hè khi nhiệt độ cao hơn 300C, tại thời

điểm này mật độ của chúng là không tăng và sức sinh sản của chúng giảm.

Nhưng vào mùa xuân chúng phát triển nhanh hơn và mật độ cũng tăng nhanh

48



(Talekar N.S., 1990). Ở Jamaica, Alam M. M. đã chỉ trên rau bắp cải có 17 lồi sâu

hại, trong đó có 7 lồi sâu hại chính, riêng sâu tơ Plutella xylostella L. và sâu

khoang Spodoptera litura F. gây hại 74 - 100% năng suất bắp cải (Alam. M. M.,

1992). Theo Shelton et al., (2001) nghiên cứu thì năm 1991 ở Mỹ có 3 lồi chính,

còn tại Canada có 3 lồi sâu hại chính trên cây họ cải (Harcourt D.G., 1985). Theo

Koshihara ở Nhật Bản có 5 lồi (Koshihara T., 1985); ở Trung Quốc theo Liu chỉ

ra năm 1996 ơng và cộng sự tìm ra có 7 lồi (Liu et al., 2005); ở Úc theo

Hesisswolf et al. (1996) có 6 lồi gây hại chính, trong đó sâu tơ là lồi khó

phòng trừ nhất và sâu ăn đọt cải (Hellula undalis Fabricius, Crocidolomia

binotalis Zeller) có khả năng gây thiệt hại lớn nhất nếu khơng kiểm sốt được

chúng ngay từ đầu vụ.

2.2.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại rau họ hoa thập tự trong nước

Ở nước ta sâu hại trên họ hoa thập tự có đến 30 lồi khác nhau, trong đó có 5

lồi gây hại chủ yếu đó là Sâu tơ (Plutella xylostella L.), bọ nhảy (Phyllotreta

striolata Fabr.), rệp muội (Brevicoryne barassicae L.), sâu xanh bướm trắng

(Pieris rapae L.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) (Nguyễn Đức Khiêm và

cs., 2005).

Theo Nguyễn Xuân Thành (2003) chỉ ra trên rau họ hoa thập tự có 9 lồi gây

hại phổ biến. Theo Nguyễn Văn Thuần và Hà Quang Hùng (2009) về thành phần

sâu hại trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân 2008 – 2009 tại Hà Nội rất phong phú

và đa dạng. Trong quá trình điều tra và thu thập mẫu, ông đã xác định được 22 loài

sâu hại thuộc 7 bộ và 14 họ. Tại các huyện Gia Lâm, Thường Tín và Hồi Đức,

thành phố Hà Nội, Đặng Thị Dung và Phan Thị Thanh Huyền (2010) chỉ ra có năm

lồi sâu thuộc bộ cánh vảy gây hại cho rau họ hoa thập tự. Trong đó, sâu tơ (Plutella

xylostell L.), sâu khoang (Spodoptera litura F.) là 2 loài quan trọng. Chúng xuất hiện

và gây hại cao nhất vào giai đoạn trải lá bàng của cây bắp cải.

2.3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHẾ PHÂM NẤM

BEAUVERIA BASSIANA, METARHIZIUM ANISOPLIAE VÀ CÁC CHẾ

PHẨM CÓ NGUỒN GỐC SINH HỌC TRONG VÀ NGỒI NƯỚC

2.3.1. Tình hình nghiên cứu chế phẩm Beauveria bassiana

* Trên thế giới:

Trên thế giới đã có rất nhiều các cơng trình nghiên cứu về nấm Beauveria

bassiana. Nấm ký sinh cơn trùng đóng vai trò to lớn trong việc khống chế cơn

49



trùng hại. Tuy vậy ví dụ đầu tiên phải kể đến không phải là đối với con trùng hại

mà là côn trùng vật nuôi. Vào thế kỷ XVI, XVII, nghề tằm tơ rất phát triển ở Pháp

và Ý. Nhưng cũng trong thời kỳ này, nghề tằm tơ bị thiệt hại nặng nề do bệnh tằm

vơi (Muscardine) hay còn gọi là nấm bạch cương. Mãi tới năm 1835, cơng trình

đầu tiên về đặc điểm gây bệnh và biện pháp phòng trừ bệnh này của nhà khoa học,

cha đẻ “bệnh lý học côn trùng” Agistino Bassi được công bố. Sau này, để ghi nhận

công lao của người đã phát hiện ra nó, lồi nấm được mang tên Beauveria

bassiana (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2004).

Năm 1895, nhà bác học Snoi đã tiến hành một loạt thí nghiệm dùng nấm

trắng Beauveria globuliera để gây bệnh trên bọ xít (Bliscus lencopteraSay) hại

lúa mỳ và ơng nhận thấy có hiệu quả. Năm 1885-1890, tại Trung tâm nuôi tằm ở

Pháp, nhà bác học Louis Paster đã phát hiện ra các vi sinh vật gây bệnh trên con

tằm vôi như là nấm Beauveria bassiana và vi khuẩn Bacillus thuringiensis, sau

gian đó ơng đã tìm ra các biện pháp phòng trừ sâu hại cây trồng bằng nấm côn

trùng (Phạm Thị Thùy, 2010).

Ở Bắc Mỹ người ta đã phát hiện ra 175 lồi cơn trùng bị nấm Beauveria

bassiana ký sinh, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã tìm thấy khoảng 60 lồi cơn

trùng bị nấm Beauveria bassiana ký sinh. Trong thí nghiệm sử dụng nấm

Beauveria bassiana để phòng trừ một số đối tượng sâu hại, các nhà khoa học

cho biết nấm có khả năng lây nhiễm trên nhiều lồi cơn trùng thuộc bộ cánh

cứng Coleoptera, bộ cánh nửa Hemiptera, bộ cánh đều Homoptera, bộ cánh

thẳng Orthoptera, bộ cánh bằng Isoptera; đặc biệt nhiều nhiều sâu non bộ cánh

vẩy Lepidoptera và nhiều loại sâu hại khác... Tuy nhiên ở mỗi bộ cơn trùng

khác nhau, hoạt tính lây lan của nấm Beauveria bassiana là khác nhau (dẫn theo

Phạm Thị Thùy, 2004).

Năm 1969, Hamill et al. đã xác định được độc tố diệt côn trùng của nấm

B. bassiana và đặt tên cho độc tố này là Beuvericin (Hamill et al., 1969).

Nấm trắng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên hơn 70 loại cây

trồng ở Xô Viết cũ và những quốc gia vệ tinh để phòng trừ nhiều dịch hại khác

nhau (Ferron P., 1978). Aguda và cộng tác viên năm 1984 đã dùng nấm B.

bassiana để phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen hại lúa

(Aguda et al., 1984). Ở Trung Quốc nấm trắng được sử dụng để phòng trừ



sâu róm thơng Dendrolimus spp. với hiệu lực đạt 43 – 93% (Pan W.Y. and

H. Zheng, 1988).



50



* Ở Việt Nam:

Tại nước ta theo Trần Văn Mão chỉ ra chế phẩm nấm Beauveria bassiana

được sử dụng từ năm 1979 trên sâu róm và một số côn trùng nông nghiệp (Trần

Văn Mão, 2004).

Theo Nguyễn Thị Thùy, vì nấm có màu trắng nên tại Trung Quốc và Việt

Nam gọi là nấm bạch cương. Nấm Beauveria bassiana thường xuất hiện trên

con tằm tơ. Sợi nấm có màu trắng đến crem có pha một ít màu đỏ, da cam, đơi

khi pha một ít màu lục, có thể tiết vào môi trường sắc tố vàng, màu đỏ nhạt

hoặc màu xanh ra trời. Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang, có chiều dài

khoảng 3-5 µm phát triển dày đặc trên mơi trường, về sau xuất hiện chi chít các

cuống sinh bào tử. Trên cơ thể côn trùng các sợi nấm mọc rất nhanh và chẳng

mấy chốc đã bao phủ kín bề mặt cơ thể, sợi nấm dạng phấn trắng khi khô biến

thành vàng sữa (Nguyễn Thị Thùy, 2004).

Những bào tử nấm bạch cương thường bay trong khơng khí khi dính vào

cơn trùng, gặp điều kiện thích hợp sẽ nảy mầm và mọc thành sợi nấm đâm

xuyên qua vỏ kitin. Chúng phát triển ngay trong cơ thể côn trùng cho đến khi

xuất hiện các tế bào nấm đầu tiên (có dạng chuỗi ngắn như nấm men), côn trùng

đã phải huy động hết các tế bào bạch huyết (lympho-cyte) để chống đỡ, những

nấm bạch cương đã sử dụng những vũ khí hố học rất lợi hại là độc tố

Boverixin, proteaza và một số chất khác làm cho tế bào bạch huyết của tằm

không chống đỡ nổi lên lần lượt bị huỷ diệt. Khi độc tố nấm đã tiêu diệt hết các

tế bào bạch huyết cũng là lúc côn trùng bị chết, cơ thể côn trùng bị cứng lại là

do các sợi nấm đan xen lại với nhau; bào tử của nấm bạch cương đã được sử

dụng một cách có hiệu quả để phòng trừ nhiều loại cơn trùng hại cây trồng

(Nguyễn Văn Tuất, 2004).

Theo Nguyễn Văn Tuất nấm Beauveria bassiana có hiệu quả với sâu

xanh ăn lá bồ đề ở công thức có nồng độ cao nhất 3x108 CFU/ml đạt 68,5% sau

10 ngày trong điều kiện tự nhiên có nhiệt độ trung bình là 26,1oC và ẩm độ TB

là 79,8%, nồng độ thấp hơn khơng có hiệu quả (Nguyễn Văn Tuất, 2004).

Tại nước ta, việc sử dụng nấm Beauveria bassiana để trừ sâu đã đạt được

nhiều thành tựu đáng kể. Theo Nguyễn Văn Tuất thống kê 10 chủng Beauveria

(nấm trắng) trên sâu róm thơng ở Thanh Hố, Nghệ An... trên sâu xanh bướm

trắng tại Hà Nội, trên rầy nâu, rầy xanh hại lúa, rầy chổng cánh hại cam quýt, sâu

tơ, sâu đo hại rau tại Cần Thơ, An Giang, Trà Vinh và trên bọ cánh cứng hại dừa

tại Bến Tre, Phú Quốc (Nguyễn Văn Tuất, 2004). Trừ sâu đo xanh hại đay ở Liên

51



Khê, Khoái Châu, Hưng Yên và ở Phúc Thọ, Đan Phượng, Hà Nội từ năm 19921994 trên diện tích 100 ha đạt kết quả tốt. Trừ rầy nâu hại lúa ở các tỉnh Tiền

Giang, Minh Hải năm 1992-1994, ở Duy Tiên, Hà Nam năm 1994-1995, ở Bà

Rịa - Vũng Tàu năm 1994-1995 trên diện tích 50 ha. Trừ châu chấu hại lúa ở

Nghệ An, Hà Tĩnh năm 2003-2004 trên diện tích 50 ha. Chế phẩm nấm Bb được

Bộ NN & CNTP công nhận tiến bộ kỹ thuật năm 1996 và được Bộ NN &PTNT

cho đăng kí đặc cách là thuốc sinh học Boverit trừ sâu đo xanh, rầy nâu, bọ xít

xanh hại lúa và sâu róm thơng được sử dụng ở Việt Nam từ 2001 đến nay. Trừ

sâu hại rau, đậu ở Hải Phòng năm 2001-2002 và Hà Tĩnh (2003) trên diện tích

vài chục ha đạt kết quả tốt, được địa phương đánh giá cao. Ngoài ra nấm

Beauveria bassiana còn được nghiên cứu và ứng dụng để trừ một số loại sâu gây

hại chính trên cây rừng như: Chế phẩm nấm Boverit (Beauveria bassiana) do

Viện Bảo vệ thực vật sản xuất để phòng trừ sâu róm hại rừng thơng ở Sơn La,

Thanh Hóa vào năm 1996-1999 trên diện tích hàng nghìn ha, năm 2002-2006,

Viện BVTV lại phối hợp với các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Lạng Sơn và Bắc Giang

ứng dụng chế phẩm nấm Boverit trừ sâu róm thơng trên diện tích hàng vạn ha,

đạt kết quả tốt. Chế phẩm Beauveria bassiana đã được cấp bằng độc quyền sáng

chế và đã đoạt giải nhì giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam

VIFOTEC và bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn LĐVN năm 1999; Trừ

sâu xanh (Fentonia sp.) hại lá bồ đề ở Tân Hưng, Yên Bình, Yên Bái đạt kết

quả 75,7% sau 3 tuần phun trên diện tích 100 ha vào năm 2003-2004; Trừ sâu

kèn hại cây keo tai tượng ở Đảo Độc lập, Suối Hai, Ba Vì trên diện tích 20 ha đạt

kết quả cao vào năm 2004-2005 (Phạm Thị Thùy, 2013). Nguyễn Thị Lộc và

cộng sự 2010 đã dùng chế phẩm Beauveria bassiana (VL3 – RMCQ) để trừ rầy

mềm và rầy chổng cánh hại cam quýt, kết quả thu được cho thấy chế phẩm có

hiệu lực khá cao và có hiệu lực duy trì trong thời gian 14 ngày kể từ ngày phun

(Nguyễn Thị Lộc và cs., 2010).

2.3.2. Tình hình nghiên cứu chế phẩm Metarhizium anisopliae.

* Trên thế giới

Năm 1878, tác giả Metschnhikov E đã phát hiện và phân lập được nấm

xanh Entomophthora anisopliae trên sâu non bọ cánh cứng hại lúa mỳ

(Anisopliae austrinia), về sau này ông đổi tên là Metarhizium anisopliae.Tác

giả đã nghiên cứu môi trường nhân nuôi nấm trên, rồi thử lại bằng cách sử dụng

bào tử nấm thuần khiết gây bệnh trên ấu trùng và dạng trưởng thành của sâu

non bọ đầu dài hại củ cải đường (Bothinoderes punctiventris), nhận thấy có

52



hiệu quả. Sau đó, Metschnhikov cùng với Isac Craxinstic tiến hành sản xuất bào

tử nấm Metarhizium anisopliae dạng thuần khiết rồi trộn với chất bột nền và

đưa ra đồng ruộng để diệt sâu non và trưởng thành bọ đầu dài hại củ cải đường

(Bothinoderes punctiventris), các tác giả xác nhận hiệu quả của nấm đạt được

55- 80% sau 10-14 ngày thử nghiệm (Phạm Thị Thùy, 2004).

Metarhizium anisopliae (Metsch.) Sorokin thuộc họ Moniliaceae, bộ

Hyphomy-cetes, lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), được phân lập từ nhiều lồi

cơn trùng bị nhiễm bệnh và sản xuất bằng công nghệ lên men. Sợi nấm phát triển

trên bề mặt cơn trùng có màu trắng đến hồng, cuống sinh bào tử ngắn mọc tỏa tròn

trên đám sợi nấm dày đặc. Bào tử trần hình que có kích thước 3,5x6,4x7,2 µm,

màu từ lục xám đến ơliu – lục, bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng

mắt thường người ta có thể thấy bào tử được ta ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một

lớp phấn khá rõ màu xanh lục. Sợi nấm khi phát triển bên trong cơn trùng có chiều

rộng khoảng 3-4 µm, dài khoảng 20 µm, chia thành nhiều tế bào ngắn, trong tế bào

thấy rõ nhiều giọt mỡ. Nấm M. anisopliae có bào tử dạng hình trụ, hình hạt đậu,

khuẩn lạc mầu xanh, đôi khi mày hồng quế. Chúng phát triển thích hợp trên mơi

trường có pepton. Lồi nấm M. anisopliae có hai lồi dạng bào tử nhỏ và dạng bào

tử lớn. Theo tác giả Tsai và cộng sự nấm M. anisopliae là chủng gây bệnh mạnh

trên côn trùng thuộc họ cánh cứng Coleoptera. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu

và tìm thấy có khoảng 204 lồi cơn trùng thuộc họ Elaridae và Curculionidae dễ

nhiễm bệnh bởi nấm (Phạm Thị Thùy, 2010).

Nấm M. anisopliae gồm 4 ngoại độc tố có tên là Destruxin A, B, C, D.

Các ngoại độc tố đó là các sản phẩm thứ cấp vòng peptit, L- prolyn, L-leucine,

anhydride, L- prolyn-L-valine anhydride và Dest ruxin B. Năm 1961, 1962, Y.

Kodaira đã tách được độc tố Destruxin A và Destruxin B từ dịch nuôi cấy nấm

M.anisopliae. Năm 1971, người ta đã tổng hợp nhân tạo được Destruxin B. Có

khoảng 70 lồi cơn trùng bị tiêu diệt bởi nấm lục cương M. Anisopliae (Phạm Thị

Thùy, 2010)

Nấm M. anisopliae không thể sinh trưởng tốt ở trên nền cơ chất không có

kitin, chúng sống được ở nhiệt độ thấp 8oC, có biên độ về độ ẩm rộng ở nơi tích

lũy nhiều CO2 và thiếu O2 chúng có thể sống tới 445 ngày. Ở nhiệt độ dưới 10oC

và trên 45oC thì nấm thưởng khơng hình thành bào tử. Nhiệt độ thích hợp cho sự

nảy mâm của bào tử là 25-30oC và sẽ bị chết ở nhiệt độ 49-55oC nhiệt độ cho

nấm phát triển tơt nhất là 25oC, pH thích hợp là 6 và có thể dao động trong

53



khoảng từ 3,3-8,5. Nấm M. anisopliae có khả năng phân giải tinh bột, xeluloza

và kitin. Nấm lục cương M. anisopliae có thể đồng hóa nguồn thức ăn cacbon

khác nhau. Chúng phát triển tốt trên môi trường chưa glucogen và lipit, và chúng

đòi hỏi độ ẩm khơng khí khá cao (Phạm Thị Thùy, 2004).

Khi bào tử nấm M. anisopliae bám trên bề mặt côn trùng trong khoảng

24h thì bào tử sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xun qua vỏ cơn trùng, sau đó

tiếp tục phân nhánh tạo nên một mạng sợi nấm chằng chịt bên trong cơ thể côn

trùng. Nấm M. anisopliae đã tiết ra các độc tố Destruxin A, B và chính các độc tố

gây chết cơn trùng. Nấm M. anisopliae có thể cần các điều kiện thích hợp như

nhiệt độ, độ ẩm, quá trình bệnh lý và hình thành các loại độc tố trong quá trình

phát triển (Phạm Thị Thùy, 2010).

Trên thế giới như Úc, Ý, Brazil, Mỹ, Mêxicô, Pháp, Tây Ban Nha, Đức,

Ấn Độ, Peru, Colombia, Venezuela,... đã sản xuất thành công các chế phẩm sinh

học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae như: Bio-Blast ,Ago Bio.Metarhizium

50, Biogreen, Bio 1020, Green Muscle, Granmet-P, Metarhizium Schweizer,

Bio-Magic, Meta-Sin, Metaquino, Bio-Path, Metadieca, Metazam, Metarhisa

WP, Biocontrol, Cobican…( Nguyễn Thị Lộc, 2010).

Tại Mexico, Bautista-Galvez và cộng sự đã nghiên cứu và tuyển chọn chế

phẩm nấm Metarhizium anisopliae trong việc phòng trừ Aeneolamia postica hại

mía (Bautista-Galvez et al., 2012).

* Ở Việt Nam:

Tại Việt Nam đã phân lập được 18 chủng Metarhizium (nấm xanh) gồm

16 chủng trên 7 loại sâu hại khác nhau như bọ cánh cứng hại dừa tại Bến Tre, Tiền

Giang, Trà Vinh, trên sâu đo hại quế tại Quảng Nam, sâu xanh bướm trắng hại rau,

sâu xanh đục quả đậu xanh, châu chấu lúa, ruồi đục quả cà phê, bọ xít xanh hại đậu

tương tại Hà Nội, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long. Phân lập 2 chủng trên bọ xít

nhãn ở Hà Nội và sùng hại mía ở Thanh Hố. Đã chọn được 4 chủng có hoạt lực

diệt côn trùng rất cao và hiện đang sử dụng để sản xuất chế phẩm là 2 chủng

Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Bắc. 2 chủng Beauveria

bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Nam (Nguyễn Văn Tuất, 2004).

Năm 2004, Nguyễn Thị Lộc và cộng sự đã phân lập được nấm

Metarhizium anisopliae được phân lập từ bọ cánh cứng hại dừa và một và loài

sâu hại khác nhiễm bệnh tự nhiên ở một số địa phương và đã được thử nghiệm về



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×