Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tình hình khai thác nước

Tình hình khai thác nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện

kim, hóa chất..., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước

sử dụng cho cơng nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia

chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần

300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước

để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp. Năm 2000 nhu cầu nước sử dụng cho cơng

nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần so với năm 1900. Phần

nước tiêu hao khơng hồn lại do sản xuất cơng nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2%

tổng lượng nước tiêu hao khơng hồn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử

dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô

nhiễm (Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990). Nhu cầu về nước dành cho sản xuất

trên tồn cầu dự tính sẽ tăng 400% từ năm 2000 đến năm 2050, nhiều hơn rất

nhiều so với các ngành khác.

• Nhu cầu về nước trong nơng nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông

nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi

một lượng nước ngày càng cao. Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai do

thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sơng trên tồn thế

giới có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa

mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi

nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa

khơ. Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng

sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì

cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần

đến 10.000 tấn nước. Trong tổng số khối lượng nước được khai thác sử dụng

trên toàn thế giới hiện nay là 3.800 tỷ m 3, thì việc tưới tiêu nước trong nông

nghiệp sử dụng 70% (2.700 tỷ m3). Gần 95% lượng nước tại các nước đang

phát triển được sử dụng để tưới tiêu cho đất nông nghiệp. Nhu cầu về nước

9



trong nông nghiệp năm 2000 lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu

về nước trên tồn thế giới.

• Nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh

sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5 - 10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do sự

phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và

giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước

sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Năm 2000, nhu cầu

về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm

7% tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990).

• Ngồi ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con

người như giao thông vận tải, giải trí ở ngồi trời như đua thuyền, trượt ván, bơi

lội ... nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội.

3.2 Ở Việt Nam

3.2.1 Nước mặt

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung

bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng. So với nhiều nước,

Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu

người đạt tới 17.000 m3/ người/ năm do tổng lượng nước mưa nhận được hàng năm

là khoảng 1240 km3 ( lượng nước mưa trên lãnh thổ Việt Nam và lượng nước từ

bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua 2 con sông lớn: sông Hồng và sông Cửu

Long). Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng

chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác

được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước

mặt của các dòng sơng và phần lớn tập trung cho sản xuất nông nghiệp (Cao Liêm

- Trần đức Viên, 1990).



10







Nơng nghiệp: Việt Nam là một nước có xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới

hiện nay, cũng đồng nghĩa với tăng nhanh lượng nước sử dụng cho nơng

nghiệp. Bên cạnh đó, trong sản xuất nơng nghiệp, thủy lợi luôn là vấn đề được

ưu tiên hàng đầu. Trong cơng tác thủy lợi, ngồi hệ thống tưới tiêu còn có tác

dụng chống lũ, cải tạo đất...Theo sự ước tính, trong năm 2000 để đưa diện tích

tưới cho nơng nghiệp lên 6,5 triệu ha, tổng lượng nước cần khoảng 60 km 3, cho

chăn nuôi khoảng 10 -15 km3, nhu cầu về nước cho 80 triệu dân khoảng 8 km 3;

tính chung nhu cầu về nước sẽ tăng lên khoảng từ 90 -100 km 3. Như vậy riêng

năm 2000 lượng nước cần cho sự phát triển đạt xấp xỉ khoảng 30% lượng nước

được cung cấp trên toàn lãnh thổ. Ðặc biệt là nhu cầu này phần lớn tập trung

vào mùa khô khi mực nước trong các sơng ngòi xuống thấp, điều này cho thấy

nếu không quản lý và phân phối tốt sẽ xảy ra tình trạng thiếu nước gay gắt như

hiện nay.



• Cơng nghiệp, sinh hoạt: Trong những năm gần đây nhu cầu nước sử dụng cho

công nghiệp và sinh hoạt không ngừng tăng lên theo đà phát triển của công

nghiệp, sự gia tăng dân số, mức sống của người dân không ngừng được nâng

cao và sự phát triển của các đơ thị.

3.2.2 Nước ngầm

Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn tài

nguyên nước ở Việt Nam. Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử dụng cho sinh

hoạt đã có từ lâu đời nay tuy nhiên việc khai thác nước ngầm chủ yếu bằng các

phương tiện thủ công. Sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại cũng đã được

tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở các

trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn mà thơi.



11



III. Ý nghĩa của việc tính tốn nhu cầu sử dụng nước:

- Tính tốn chính xác được nhu cầu sử dụng nước của từng ngành, từng khu

vực phù hợp và hiệu quả.

- Phân phối chuẩn cho các ngành với nhu cầu nước, không thừa không thiếu

và tận dụng làm nhỏ nhất chi phí cơ hội sử dụng nước.

- Góp phần quản lí tài ngun nước bền vững

- Phân phối được từ nơi có nguồn nước dồi dào đến được nơi có ít nước

trong cùng một lưu vực.

- Góp phần bảo vệ tài ngun khác, mơi trường và phát triển bền vững.

IV. Cung cầu nước trên lưu vực sơng Hương

1. Tình hình sử dụng nước năm 2007 và dự báo nhu cầu dùng nước ở lưu vực

sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế

1.1 Tình hình sử dụng nước năm 2007

Sông Hương là nguồn cung cấp nước quan trọng cho hầu hết các ngành kinh

tế, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân Thừa Thiên Huế. Do mức độ sử

dụng, hình thức khai thác khác nhau nên được chia làm 7 vùng gồm: Vùng Cát

Phong Điền, Vùng đồng bằng hạ lưu Bắc sông Bồ, vùng đồng bằng Nam sông BồBắc sông Hương, Vùng thượng nguồn sông Bồ, vùng đồng bằng Nam sông Hương,

Vùng sông Tả Trạch, vùng sơng Hữu Trạch.

Dưới đây là tình hình sử dụng nước ở lưu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên

Huế, đơn vị: 106 m3/năm.

Hiện trạng sử dụng nước trên lưu vực sông Hương năm 2007

Đơn vị: 106 m3/năm

Ngành dùng

nước



Trồng



Chăn



Sinh



Thủy



Công



trọt



nuôi



hoạt



sản



nghiệp



12



Tổng



Vùng

Vùng cát Phong



81,24



1,55



1,74



0,09



0,00



84,62



lưu Bắc sông Bồ

Vùng đồng bằng



102,14



1,59



2,48



6,84



0,00



113,05



Nam sông Bồ



56,87



1,23



7,18



2,47



11,04



78,80



44,09



1,03



0,88



1,31



0,00



47,32



Nam sông Hương

Vùng sông Tả Trạch



226,23



3,22



10,70



14,08



31,71



285,95



17,76



1,01



1,52



2,05



0,00



22,35



Vùng sông Hữu



21,15



0,77



0,66



1,68



0,00



24,27



549,49



10,41



25,18



28,53



42,76



656,36



Điền

Vùng đồng bằng hạ



-Bắc sông Hương

Vùng thượng nguồn

sông Bồ

Vùng đồng bằng



Trạch

Tổng



Qua bảng trên chúng ta có thể thấy:

- Nước dùng cho nông nghiệp (Bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi) chiếm

85,3%.

- Nước dùng cho sinh hoạt chiếm 3,84%.

- Nước dùng cho Công nghiệp chiếm 6,52.

- Nước dùng cho chăn nuôi thủy sản chiếm 4,34%

Số liệu này được tính tốn dựa vào sự phát triển của các ngành kinh tếvà các

chỉ tiêu dùng nước tương ứng:

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình khai thác nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×