Tải bản đầy đủ - 37 (trang)
4 Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về hợp nhất và sát nhập

4 Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về hợp nhất và sát nhập

Tải bản đầy đủ - 37trang

1.4.3 Chưa quy định cụ thể hình thức thanh toán trong sáp nhập và hợp nhất doanh

nghiệp

Luật doanh nghiệp 2005 quy định về sáp nhập, hợp nhất thì không quy định cụ thể hình

thức thanh toán. Chẳng hạn như trường hợp, một công ty phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông của

công ty khác để đối lấy số cổ phiếu của cổ đông của công ty đó, hay nói cách khác đây là hình thức

sáp nhập kiểu hoán đổi cổ phiếu. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 vẫn chưa có khung pháp lý

quy định vấn đề này. Điều này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho các công ty, đặc biệt là các công ty

cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi tiếp hành sáp nhập và hợp nhất doanh

nghiệp.

Từ các phân tích ở trên có thể thấy, các quy định liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp

nhất doanh nghiệp ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản khác nhau. Tuy nhiên, các quy

định này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động sáp nhập và hợp

nhất doanh nghiệp, tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về mặt“thay tên, đổi họ” cho doanh

nghiệp. Trong khi đó, sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp là một giao dịch thương mại, tài chính,

nó đòi hỏi phải có quy định cụ thể, phải được cung cấp thông tin nhanh chóng, chuyển giao và xác

lập sở hữu, chuyển dịch tư cách pháp nhân, cổ phần, cổ phiếu, các nghĩa vụ tài chính, người lao

động, thương hiệu... Đồng thời, còn hàng loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến sáp nhập và hợp nhất

doanh nghiệp mà pháp luật nước ta còn chưa có quy định cụ thể như kiểm toán, định giá, tư vấn,

môi giới, bảo mật, thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp…

Hộp 1: Công ty xi măng Hà tiên 2 sáp nhập vào Hà tiên 1

Tại đại hội, nhiều cổ đông cá nhân của Hà Tiên 2 đã lên tiếng phản đối việc sáp nhập này vì cho rằng sẽ

gây thiệt hại cho nhà đầu tư lẫn hoạt động của chính công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên, với sự đồng ý

của 77,3% số cổ phần có quyền biểu quyết tham dự đại hội (cao hơn tỉ lệ pháp luật quy định là 75%), việc

sáp nhập đã được đại hội thông qua.

Theo phương án được thông qua, Hà Tiên 2 sẽ sáp nhập vào Hà Tiên 1 bằng cách chuyển toàn bộ tài

sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của Hà Tiên 2 sang Hà Tiên 1. Hà Tiên 1 sẽ phát hành thêm cổ

phiếu để đổi lấy 100% số lượng cổ phiếu đang lưu hành của Hà Tiên 2 và tỉ lệ chuyển đổi sẽ là 1:1. Tuy

nhiên, trước khi chuyển đổi, để đảm bảo lợi ích của cổ đông, Hà Tiên 2 sẽ chia cổ tức bằng tiền mặt tối

thiểu là 1.000 đồng/cổ phần, tức 10%.

Theo Công ty chứng khoán Bản Việt, đơn vị thực hiện tư vấn cho việc sáp nhập giữa hai công ty trên,

mức chênh lệch mà cổ đông Hà Tiên 2 nhận được cao hơn so với giá thị trường của cổ phiếu công ty này là

hơn 20%, bao gồm giá Hà Tiên 2 đang thấp hơn khoảng 13% so với giá Hà Tiên 1, và 10% cổ tức tương

đương 8,5% trên giá thị trường.

Tuy nhiên, để có thể thực hiện sáp nhập, cổ đông của Công ty CP Ximăng Hà Tiên 1 phải thông qua

phương án và tỉ lệ chuyển đổi như trên trong đại hội cổ đông bất thường họp ngày 29-12. Công ty CP

Ximăng Hà Tiên 1 có vốn điều lệ 1.100 tỉ đồng và Hà Tiên 2 có vốn điều lệ 880 tỉ đồng, trong đó cổ đông

nhà nước là Tổng công ty Công nghiệp ximăng VN (ViCem) nắm giữ lần lượt 66% và 69% trong hai công



ty. Cả hai đơn vị đều đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, mã chứng khoán là HT1 và

HT2.

Nguồn: http://tuoitre.vn/Kinh-te/Tai-chinh-Chung-khoan/354564/Sap-nhap-Ximang - Ha Tien-1-va-Ha-Tien-2.html



1.4.4 Sự tồn tại của công ty bị sáp nhập sau khi hợp nhất, sáp nhập

Theo điều 153 Luật doanh nghiệp 2005, sau khi sáp nhập thì công ty bị sáp nhập chấm dứt

hoạt động, các quyền và nghĩa vụ được chuyển giao cho công ty được sáp nhập (nhận sáp nhâp).

Theo điều khoản này thì công ty bị sáp nhập sẽ chấm dứt hoạt động dưới hình nào? Theo Luật

doanh nghiệp 2005, một công ty bị chấp dứt hoạt động rơi vào hai trường hợp sau: Giải thể hoặc

phá sản. Trong trường hợp sáp nhập, thì công ty bị sáp nhập không rơi vào trường hợp phá sản, mà

rơi vào trường hợp còn lại. Theo điều 157, khoản 2 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty chỉ được

giải thể khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Như vậy, trong trường

hợp trên việc chuyển toàn bộ nghĩa vụ nợ và tài sản khác được thỏa thuận trong hợp đồn sáp nhập

có được xem là một biện pháp đảm bảo nợ hay không. Theo điều 324, khoản 1 Bộ luật dân sự

2005 thì các biện pháp bảo đảm là: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo

lãnh; phạt vi phạm. Và để đảm bảo an toàn, trong hợp đồng sáp nhập cần phải quy định rõ nghĩa

vụ bảo đảm là gì? Có thể công ty nhận sáp nhập đứng ra bảo lãnh cho các chủ nợ về các nghĩa vụ

nợ.

Tuy nhiên cần lưu ý rằng, điều 153 Luật doanh nghiệp chỉ quy định là thông báo cho

người lao động và chủ nợ, chứ không xem chủ nợ của công ty bị sáp nhập là một bên liên quan đến

quá trình sáp nhập và điều này có thể đưa đến rủi ro cho các chủ nợ. Bởi vì, trong quá trình sáp

nhập thì công ty bị sáp nhập sẽ làm thủ tục giải thể trước, nếu như sau khi làm thủ tục giải thể, vì

một lý do nào đó cuộc sáp nhập không thành, thì nghĩa nợ của công ty bị sáp nhập sẽ được xử lý

như thế nào. Hiện tại, Luật doanh nghiệp và các luật khác chưa quy định thể vần đề này.

Trong trường hợp việc sáp nhập là công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nếu thời

gian sáp nhập dài sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Vì các cổ đông của công ty bị sáp

nhập, lúc này đã chấm dứt hoạt động, sẽ gặp khó khăn cho việc chuyển nhượng cổ phiếu của

mình cho cổ đông khác. Lúc này, rỏ ràng các cổ đông của công ty bị sáp nhập không được xem là

chuyển nhượng cổ phiếu (vì công ty bị sáp nhập đã chấm dứt hoạt động) mà chỉ có thể gọi là

chuyển nhượng “quyền nhận cổ phiếu được sáp nhập” vào công ty nhận sáp nhập.

1.4.5 Vấn đề tập trung kinh tế trong luật cạnh tranh 2004 đối với hoạt động hợp nhất, sáp

nhập

Luật Cạnh tranh hiện nay cấm các hoạt động mua lại và sáp nhập có thể dẫn tới việc một

doanh nghiệp có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% trên thị trường liên quan. Trong trường hợp

một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (có nhiều thị trường khác nhau), thì tùy theo các

cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là doanh nghiệp đó có thể bị coi là có “tập trung kinh

tế” trên 50% hoặc có thể dưới. (Khoản 1, điều 30 Luật cạnh tranh 2004).



Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 đã kế thừa và loại bỏ những hạn chế của

Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam được ban hành theo

Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Ngân hàng Nhà nước, theo đó phạm vi

các đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhất được mở rộng; kế thừa tinh thần của Luật

Doanh nghiệp năm 2005 về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh năm 2004 về tập trung kinh tế,

đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với Tổ chức Thương mại Thế giới

(WTO) trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

Còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập trung trong ngân

hàng giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP. Luật Cạnh tranh quy định giới hạn

mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng dựa trên thị phần, trong khi Nghị định số 69/2007/NĐCP lại quy định giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng căn cứ trên vốn điều lệ.



Tiểu luận Luật Kinh Tế



GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải



CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BA VỤ M& A THỰC TIỄN

Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

2.1 THƯƠNG VỤ VINPEARL SÁP NHẬP VÀO VINCOM

2.1.1 Vinpearl và Vincom trước khi sáp nhập

2.1.1.1 Công ty Cổ Phẩn Vinpearl – Công ty bị sáp nhập

Lịch sử hình thành:

Công ty cổ phần Vinpearl, tiền thân là Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Du lịch, Thương mại

và Dịch vụ Hòn Tre được thành lập vào ngày 25/07/2001 với vốn điều lệ ban đầu là 60 tỷ đồng. Từ

tháng 6/2010, công ty chính thức đổi tên thành công ty Cổ Phần Vinpearl. Toàn bộ cổ phiếu của

công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM với mã chứng khoán VPL. Vốn điều

lệ tại thời điểm 06/2011 là 12.055 tỷ đồng.

Ngành nghề kinh doanh:

Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh chính mà Công ty theo giấy chứng nhận ĐKKD.

1. Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến khách sạn, du lịch của Công ty.

2. Kinh doanh nhóm ngành nghề liên quan đến bất động sản của Công ty

3. Kinh doanh nhóm ngành nghề khác phục vụ các hoạt động kinh doanh của Công ty

Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần Vinpearl



Nguồn: http://vinpearl.com/



Nhóm 10 – Đêm 4 – K22



Trang13



Tiểu luận Luật Kinh Tế



GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải



Danh sách công ty con của Vinpearl vào ngày 30/9/2011

Công ty



Vốn điều lệ

(tỷ đồng)



Tổng tỷ lệ biểu quyết



Công ty TNHH MTV Vinpearl Đà Nẵng



288



100%



Công ty TNHH MTV Vinpearl Hội An



300



100%



Công ty TNHH MTV phát triển và dịch vụ Vincharm



400



100%



Công ty TNHH Future Property Invest



1.056



100%



Công ty Cổ phần Du lịch Hòn Một



167,4



83,6%



110



80,0%



1.145



70,0%



Công ty TNHH Du lịch sinh thái Nam Qua

Công ty TNHH khách sạn và du lịch Tây Hồ View

Tình hình kinh doanh công ty cổ phần Vinpearl



Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Công ty Vinpearl năm 2008, 2009, 2010, 9m2011



Những thế mạnh nổi bật của Vinpearl

- Khả năng xây dựng và quản lý chuyên nghiệp các khu resort phức hợp quy mô lớn

- Phát triển thành công các dự án BĐS nghỉ dưỡng và khách sạn tại Việt Nam

- Quỹ đất rộng lớn, nằm tại các vị trí du lịch đắc địa, trải dài trên khắp Việt Nam

- Năng lực quản lý và vận hành chuyên nghiệp

2.1.1.2 Công ty Cổ Phẩn Vincom – Công ty nhận sáp nhập

Nhóm 10 – Đêm 4 – K22



Trang14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về hợp nhất và sát nhập

Tải bản đầy đủ ngay(37 tr)

×