Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật

Tải bản đầy đủ - 0trang

Y = 79,52*



(5)



Để thấy rõ mức tác động của 1 lít thuốc BVTV đến năng suất, lấy đạo hàm hàm

sản xuất theo biến thuốc BVTV đầu vào sẽ có được hàm giá trị tác động biên của

thuốc BVTV đến năng suất măng tây.

=

Lượng thuốc BVTV tối ưu được tính theo cơng thức: MR = MC (6)

Ta có: MR =



*



(7)



MC =

Với giá bán trung bình của măng tây xanh là 70.000đ/kg và giá trung bình của 1

lít thuốc BVTV là 400.000đ được tính theo giá thị trường.

Từ phương trình (7) ta có:



* 70.000 = 400.000



Vậy: BVTV = 3.63 lít

Lượng thuốc BVTV tối ưu cho 1 kg măng tây trong 1 năm là 3.63 lít. Dựa vào

bảng 3.10, bình qn các hộ trồng măng tây sử dụng 4,07 lít thuốc BVTV cho

1000m2/năm, cho thấy lượng thuốc BVTV đã được sử dụng quá mức tối ưu. Đồng

thời, nếu thay lượng thuôc BVTV tối ưu vào hàm doanh thu biên (7) sẽ bằng 399.543đ

so với lượng phân hữu cơ trung bình là 364.597đ. Như vậy, các hộ trồng măng tây

xanh nên có kế hoạch giảm bớt lượng thuốc BVTV để đem lại hiệu quả kinh tế cao

hơn.

Nước tưới

Cố định các biến thuốc phân hữu cơ, thuốc BVTV, số năm trồng măng tây và

biến D=1 tại giá trị trung bình nhằm cho thấy mối quan hệ giữa biến thuốc bảo vệ thực

vật với năng suất măng tây, ta được:

Y = 54,56*



(8)



44



Để thấy rõ mức tác động của 1 m3 nước đến năng suất, lấy đạo hàm hàm sản

xuất theo biến NUOC đầu vào sẽ có được hàm giá trị tác động biên của nước đến năng

suất măng tây.

=

Lượng thuốc BVTV tối ưu được tính theo cơng thức: MR = MC (9)

Ta có: MR =



*



(10)



MC =

Với giá bán trung bình của măng tây xanh là 70.000đ/kg và giá trung bình của 1

m nước là 1.200đ được tính trung bình từ giá nước, khấu hao chi phí đầu tư ban

đầu,v.v.

3



Từ phương trình (10) ta có:



* 70.000 = 1.200



Vậy: NUOC = 614,97 m3

Lượng nước tưới tối ưu cho 1 kg măng tây trong 1 năm là 614,97 m3. Dựa vào

bảng 3.10, bình quân các hộ trồng măng tây sử dụng 682,34 m3 nước tưới cho

1000m2/năm, cho thấy lượng nước tưới đã được sử dụng quá mức tối ưu. Đồng thời,

nếu thay lượng nước tưới tối ưu vào hàm doanh thu biên (10) sẽ bằng 1.192đ so với

lượng phân hữu cơ trung bình là 1.085đ. Như vậy, các hộ trồng măng tây xanh nên có

kế hoạch giảm bớt lượng nước tưới để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

3.5.2. Tối ưu các yếu tố đầu vào: Phương pháp tưới phun mưa (D = 0)

Phương trình hàm năng suất dạng Cobb-Douglass:

Y=



*



*



*



*



Cố định các biến phân hữu cơ, lượng nước tưới, số năm trồng măng tây và biến

nước tưới tại giá trị trung bình nhằm cho thấy mối quan hệ giữa phương pháp tưới

phun mưa với năng suất măng tây, ta được:

Y = 118,05 *

Với phương pháp tưới phun mưa (D = 0), ta có: Y = 118,05

45



(11)



Với phương pháp tưới tràn (D = 1), ta có: Y = 105,47



(12)



Lượng chênh lệch năng suất măng tây xanh giữa 2 phương pháp tưới:

(11) – (12) = 12,58 kg/1000m2

Như vậy, lượng chênh lệch năng suất măng tây xanh giữa 2 phương pháp tưới

tràn và tưới phun mưa là 12,58 kg/1000m2. Qua đó cho thấy việc sử dụng phương

pháp tưới phun mưa sẽ cho năng suất cao hơn so với tưới tràn, đem lại hiệu quả kinh tế

tốt hơn.

Bảng 3.12. Mức tối ưu các yếu tố đầu vào

Yếu tố đầu vào

Phân hữu cơ

Thuốc BVTV

Nước tưới



Đơn vị

Tạ

Lít

m3



Giá trị trung bình

Giá trị tối ưu

43,49

38.51

4,06

3.63

682,34

614,97

Nguồn: Tính toán và tổng hợp, 2018.



Qua Bảng 3.12. cho thấy người dân đầu tư vượt mức tối ưu làm tăng chi phí và

giảm lợi nhuận, đặc biệt là thuốc BVTV còn gây ô nhiễm thực phẩm ảnh hưởng đến

người tiêu dùng.

3.7. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây măng tây xanh

Măng tây xanh đang dần trở thành loại cây chủ lực được sản xuất ở Ninh Thuận

nhờ vào giá trị dinh dưỡng cao, tính thích nghi với mơi trường tốt và cho lợi nhuận hấp

dẫn. Nhu cầu về măng tây xanh cũng ngày càng tăng, thu hút sự chú ý đầu tư của

người nông dân cho loại cây này. HĐND tỉnh Ninh Thuận cũng ban hành các chính

sách hỗ trợ cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cụ thể là chuyển đổi cây lúa kém

hiệu quả sang cây nho, táo và cây trồng cạn (trong đó có măng tây xanh). Trên cơ sở

phân tích hiệu quả của cây măng tây xanh, đề tài có một số đề xuất sau:

Ninh Thuận là một cùng đất khơ hạn, nắng nóng gió nhiều và thường xun xảy

ra tình trạng hạn hán, thiếu nước ảnh hưởng khơng nhỏ đến đời sống người dân và đặc

biệt là ảnh hường nghiêm trọng đến nơng nghiệp. Vì thế mà việc tưới tiêu trong sản

xuất nông nghiệp được quan tâm hàng đầu. Qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy

lượng nước mà người dân sử dụng để tưới cho cây măng tây đã vượt qua mức tối ưu.

Điều này dẫn đến lợi ích thu về sẽ bị giảm, người dân cần có giải pháp để hạn chế

lượng nước lại. Do đó, đầu tư vào hệ thống tưới tiết kiệm là một lựa chọn thông minh.

Phổ biến các phương pháp tưới tiết kiệm và hỗ trợ về kĩ thuật lẫn vốn cho người sản

46



xuất để phát triển măng tây xanh trong thời gian tới sẽ giúp tiết kiệm nguồn nước và

cây trồng cho năng suất cao hơn.

Cũng trong nghiên cứu này, NPV của hộ trồng măng tây xanh sử dụng phương

pháp tưới phun mưa cao hơn so với hộ trồng măng và sử dụng phương pháp tưới tràn.

Vì vậy khuyến khích các hộ trồng măng tây nên sử dụng phương pháp tưới phun mưa

để có thể vừa tiết kiệm lượng nước tưới vừa cho lợi ích cao hơn các phương pháp tưới

khác.

Việc phát triển sản xuất măng tây ngày càng tăng cũng đồng nghĩa Tỉnh Ninh

Thuận cần có các hướng quy hoạch mở rộng sản xuất măng tây sao cho phù hợp để có

thể quản lý chặt chẽ quy trình canh tác, các yếu tố đầu vào và đầu ra ổn định, tránh

tình trạng các hộ tự phát sản xuất khơng hiệu quả, gây ảnh hưởng đến các hộ trồng

măng khác.

Về vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác măng tây cần được

kiểm tra và quản lý tốt hơn. Theo như kết quả điều tra cho thấy phần lớn các hộ trồng

măng nếu có sử dụng thuốc trừ sâu thì thường có độ độc trung bình là cấp II, và các

loại thuốc sử dụng thường là tự mua theo tư vấn của người bán hàng mà không có sự

quản lý hay hướng dẫn từ các cán bộ nơng nghiệp. Vì thế cần nâng cao quản lý, kiểm

tra các loại thuốc BVTV đang được người dân sử dụng hiện nay để đảm bảo tính an

tồn vệ sinh thực phẩm. Đồng thời, giới thiệu và hướng dẫn người dân làm quen sử

dụng các chế phẩm thuốc BVTV sinh học thân thiện với mơi trường, an tồn cho

người tiêu dùng sản phẩm măng tây xanh và cho người sử dụng, giảm bớt lượng thuốc

hóa học, nhất là trong thời gian gần đây, xu hướng sử dụng rau an toàn rất được người

tiêu dùng ưa chuộng.



47



Chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



4.1. Kết luận

Cây măng tây xanh là một loài cây giàu chất dinh dưỡng và là loại cây trồng

phù hợp với điều kiện thời tiết khô hạn; là cây dễ trồng, phù hợp với khí hậu và thỗ

nhưỡng của tỉnh Ninh Thuận; kỹ thuật chăm sóc khơng phức tạp, đang được người tiêu

dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, thị trường tiêu thụ rộng lớn, đến nay tồn tỉnh đã

có trên 700ha cung cấp cho thị trường khoảng 2 tấn mỗi ngày. Dự kiến cho tới năm

2020, Tỉnh sẽ nâng tổng diện tích trồng măng lên là 1.000ha cùng với nhiều chính sách

hỗ trợ người nơng dân.

Hiệu quả kinh tế cho người trồng thể hiện rất cao, cụ thể giá trị lợi ích ròng hiện

tại (NPV) là 400,5 triệu đồng/1000m2. Đồng thời mức độ rủi ro là rất thấp. Chỉ khi giá

măng tây biến động giảm 20% và sản lượng giảm 20% (vừa mất giá vừa thất mùa) thì

người trồng mới bị lỗ (NPV = -17,6 triệu đồng). Nếu giá măng tây tăng lên 20% và sản

lượng măng cũng tăng lên 20% (được giá và trúng mùa) thì NPV = 911,6 triệu

đồng/1000m2, mức lợi nhuận rất lớn.

Qua đánh giá, măng tây xanh đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập, bảo

đảm cuộc sống cho bà con nông dân. Do đó, UBND tỉnh Ninh Thuận đã đưa ra nhiều

chính sách ưu tiên phát triển sản xuất cây măng tây xanh thành cây trồng chủ lực của

tỉnh.

Đồng thời, dựa vào các kết quả ước lượng mơ hình hàm năng suất măng tây

xanh xác định được mức độ tác động của các yếu tố đầu vào đến năng suất trồng

măng. Trong đó, các biến phân hữu cơ (HC), thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), nước tưới

(NUOC), kinh nghiệm trồng măng (KN) và biến phương pháp tưới nước (D) là có ý

nghĩa tác động mạnh đến sự thay đổi của năng suất măng tây. Bên cạnh đó, cũng tính

được lượng phân hữu cơ tối ưu bằng 38,51 tạ, lượng thuốc bảo vệ thực vật tối ưu bằng

3,63 lít và lượng nước tưới tối ưu bằng 614,97 m 3 cho 1000

49



/năm. Qua đó cho thấy



lượng thuốc bảo vệ thực vật, lượng phân hữu cơ và lượng nước tưới mà người nông

dân ở Ninh Thuận đang áp dụng đều vượt quá mức tối ưu, cần thiết phải giảm bớt đầu

tư để tăng thu nhập hoặc lợi nhuận.

4.2. Kiến nghị

Đề tài này phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây măng tây xanh, qua đó

cho thấy một số vấn đề có thể hình thành chủ đề cho các nghiên cứu sau.

Qua điều tra số liệu cho thấy trong sản xuất măng tây xanh ở Ninh Thuận,

người trồng măng không chỉ sử dụng hai phương pháp tưới là tưới tràn và tưới phun

mưa mà còn sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt. Tuy nhiên, phương pháp này lại có

nhược điểm là trong một đến hai năm đầu từ khi bắt đầu trồng măng, măng tây cho

năng suất cao hơn hai phương pháp tưới tràn và phun mưa. Nhưng từ năm thứ ba trở đi

năng suất măng tây bắt đầu giảm mạnh, lượng măng thu được không ổn định và giảm

dần (đối với hai phương pháp tưới tràn và tưới phun mưa, thời điểm năm thứ hai, năm

thứ ba là lúc măng cho thu hoạch cao nhất và ổn định sau đó có năng suất có giảm nhẹ

nhưng luôn cho thu hoạch ổn định). Nguyên nhân có thể do phương pháp tưới nhỏ giọt

chỉ tập trung nước tưới cho vùng diện tích nhỏ ngay lỗ nhỏ giọt nên phần rễ xung

quanh bị thiếu nước, lâu dần sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của cây dẫn đến tình trạng

năng suất của cây bị giảm đột ngột. Với vấn đề này có thể nghiên cứu về cách tưới nhỏ

giọt như thế nào để cây măng tây không bị giảm năng suất quá nhanh.

Trong thời gian tới, cây măng tây xanh sẽ được tỉnh Ninh Thuận phát triển trở

thành cây trồng chủ lực nên vấn đề về đầu ra của cây măng tây rất quan trọng. Hiện

nay, nguồn thu măng tây xanh ở Ninh Thuận chủ yếu là các Hợp tác xã nông nghiệp

(HTX Dịch vụ tổng hợp Tuấn Tú, HTX Dịch vụ nông nghiệp An Xuân) và các công ty

thu mua (công ty TNHH măng tây Linh Đan) cùng một số thương lái, tuy nhiên người

nông dân vẫn lo lắng về vấn đề đầu ra tiêu thụ măng tây và cần có nguốn đầu ra và giá

cả thu mua hợp lý. Vì thế cần có sự liên kết với các doanh nghiệp, siêu thị tại các thị

trường trong và ngồi tỉnh như: (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ...) để sản phẩm

Măng tây an toàn được tiêu thụ tốt nhất.

Tỉnh Ninh Thuận cần có chủ trương, chính sách tiếp tục hỗ trợ kinh phí để triển

khai nhân rộng mơ hình ở những vùng sản xuất rau măng tây trên địa bàn tỉnh, đồng

thời tiếp tục hỗ trợ việc thành lập điểm tiêu thụ rau an tồn nói chung và rau Măng tây

50



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thuốc bảo vệ thực vật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×