Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Đối với nơng dân: Sẽ có hướng sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn cho cây

măng tây xanh thể thu được hiệu quả cao nhất, góp phần cải thiện đời sống vật chất và

tinh thần của mỗi nông hộ trồng măng tây xanh.

+ Đối với đề tài: Nhận diện và đo lường các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh

tế mơ hình trồng măng tây, tác động đến kinh tế xã hội của địa phương nhằm đạt được

mục tiêu của đề tài nghiên cứu.

- Ý nghĩa khoa học: Làm cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu khác.



ix



Chương 1

TỞNG QUAN

1.1. Tởng quan tài liệu nghiên cứu

Theo Huỳnh Ngọc Vy (2006) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả

kinh tế cây cà phê tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Tác giả đánh giá hiệu quả

kinh tế cây cà phê trồng tại các hộ nông dân, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu

quả kinh tế cây cà phê, đồng thời xác định đầu vào để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất

thơng qua ước lượng hàm sản xuất, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

cây cà phê.

Theo Nguyễn Văn Phương (2009) đã phân tích ảnh hưởng đầu tư đến hiệu quả

sản xuất của hộ trồng cao su tiểu điền tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Đề tài

được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của mức đầu tư ban đầu đến hiệu quả trồng

cao su tiểu điền và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với năng

suất vườn cây cao su. Các chỉ tiêu phân tích đầu tư như NPV, IRR, BCR, PP được sử

dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư vườn cao su và phương pháp phân tích hàm sản xuất

được áp dụng để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với năng suất cao su.

Ngô Thị Nghĩa (2013), qua phân tích và tính tốn số liệu điều tra, thông qua

phương pháp hồi quy hàm năng suất, kết quả của đề tài so sánh trên 1000m 2 giữa 2

biện pháp tưới phun mưa và tưới phun rãnh cho thấy tưới phun mưa đã giảm khoảng

4.320,000 đồng chi phí cơng lao động, giảm 2.641,000 đồng tiền phân thuốc bảo vệ

thực vật và tăng doanh thu do tăng diện tích đất trồng là 8.320,000 đồng. Như vậy,

việc đầu tư công nghệ tưới phun mưa thay cho tưới rãnh trên hệ thống 1 vụ tỏi-2 vụ

hành mang lại lợi ích ròng là 48.240,000 đồng/1000m 2/năm và giảm thất thốt lượng

nước là 482 m3/1000m2/năm trong quá trình tưới. Điều này có ý nghĩa quyết định khả

năng duy trì và mở rộng sản xuất nơng nghiệp.

Theo Võ Thị Thanh Lộc, Đồn Minh Vương, Huỳnh Vũ Kiệt, Nguyễn Thanh

Tiến (2015) đã phân tích chuỗi giá trị thanh long tỉnh Tiền Giang. Mục đích của báo

cáo “thơng qua mơ hình thí điểm phân tích chuỗi giá trị trái cây tại Tiền Giang để hỗ

trợ nâng cao thu nhập khu vực nông thôn tại ĐBSCL”. Do các sản phẩm trái cây của

các tỉnh đồng bằng sơng Cửu Long có chuỗi giá trị tương đối giống nhau, việc phân

3



tích chuỗi giá trị của một loại trái cây điển hình có thể giúp nhân rộng và áp dụng đối

với các loại trái cây khác. Cụ thể, dự án quyết định chọn phân tích chuỗi giá trị về sản

phẩm thanh long – một loại cây trồng chủ đạo của tỉnh Tiền Giang – để xây dựng một

mô hình thí điểm về nâng cao chuỗi giá trị của sản phẩm trái cây, sau đó nhân rộng mơ

hình này tại Tiền Giang và các tỉnh ĐBSCL khác.

1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Ninh Thuận là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm ở vị trí địa

lý từ 11o18’14” đến 12o09’15” vĩ độ Bắc và từ 108o09‘08” đến 109o14’25”kinh độ Đơng.

Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.358,3 km2. Tồn tỉnh có 6 huyện và 1 thành phố bao

gồm: Ninh Sơn, Ninh Phước, Ninh Hải, Bác Ái, Thuận Bắc, Thuận Nam và thành phố

Phan Rang – Tháp Chàm.

Tỉnh Ninh Thuận nằm ở vị trí trung điểm giao thơng dọc theo quốc lộ 1A,

đường sắt Thống Nhất và quốc lộ 27 lên Tây Nguyên. Chiều dài ranh giới hành chính

của tỉnh như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa: 89 km;

- Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận: 41 km;

- Phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng: 99 km;

- Phía Đơng giáp biển Đơng: 105 km.

Địa hình

Ninh Thuận nằm ở sườn Ðơng của dãy Trường Sơn. Do đó địa hình, địa mạo

khá phức tạp gồm đồi núi, đồng bằng, đầm phá phân bố xen kẽ. Địa hình đồi núi phân

bố phía Tây tạo thành hình cánh cung, kéo dài tận biển, chiếm khoảng 70% diện tích

của tỉnh, với nhiều núi cao. Trong đó, núi Chúa, E’Lâm Hạ, E’Lâm Thượng (ở vùng

giáp với tỉnh Khánh Hòa) cao tới 1000 –1700m, dãy Mũi Dinh (ở phía Nam tỉnh) cao

tới 800 - 1500m. Độ dốc địa hình từ 15% đến 40%. Địa hình đồng bằng dọc theo Sông

Cái Phan Rang và các dải cát nhỏ hẹp ven biển (lớn nhất là đồng bằng Phan Rang)

được các cung núi từ dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển bao quanh gồm 20 xã,

phường ven biển. Độ dốc địa hình từ 0 - 30 % chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên.



4



Đặc điểm thổ nhưỡng: Theo Bản đồ sử dụng đất tỷ lệ 1/100.000 năm 2000, tỉnh

Ninh Thuận có các nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất cát ven biển: Phân bố dọc các xã, phường ven biển, có 3 loại đất.

Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, độ phì

nhiêu thấp. Trên loại đất này có thể khai thác một phần để trồng dừa, điều, còn lại

những nơi đất bạc màu, dinh dưỡng kém cần trồng rừng phủ xanh, chống cát bay.

Bảng 1.1. Tởng hợp diện tích theo các nhóm đất tỉnh Ninh Thuận

STT



Nhóm đất



1

2

3

4



Nhóm đất cát

Nhóm đất mặt

Nhóm đất phù sa

Nhóm đất xám

Nhóm đất đỏ xám nâu



5



Diện tích

(ha)

10.353

5.531

15.811

28.429



Tỉ lệ (%)

3,08

1,65

4,70

8,46



Cây trồng thích hợp

Rừng phòng hộ ven biển, hành tỏi

Ni trồng thủy sản

Lúa màu và cây công nghiệp

Màu và cây cơng nghiệp



231.454

68,89

Màu và cây cơng nghiệp

vùng bán khơ hạn

6

Nhóm đất đỏ vàng

11.733

3,49

Cây cơng nghiệp lâu năm

7

Nhóm đất trơ sỏi đá

17.272

5,14

Rừng

8

Nhóm đất khác

15.426

4,59

Tổng cộng

335.800

100,00

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận, 2017

- Nhóm đất mặn, phèn: Tập trung chủ yếu ven biển, có 4 loại đất. Đất được hình thành

bởi quá trình lắng đọng của các sản phẩm trầm tích, chịu ảnh hưởng của nước biển và

các sản phẩm biển.

- Nhóm đất phù sa: Phân bố chủ yếu ở hạ lưu các sơng, nhất là sơng Cái Phan Rang,

có 6 loại đất, thích hợp với trồng cây lương thực, hoa màu, cỏ phục vụ chăn ni.

- Nhóm đất xám: Phân bố ở bậc thềm chuyển tiếp ở độ cao 50-100m, có 13 loại đất.

Do có độ phì thấp, chua, nghèo mùn nên chỉ thích hợp cho trồng rừng và có thể cải tạo

để trồng mía.

- Nhóm đất vàng đỏ: là đất có diện tích lớn nhất, có 4 loại đất. Nhóm đất này có độ phì

thấp, tầng canh tác mỏng, độ dốc lớn, ít thuận lợi cho phát triển nơng nghiệp. Cần có

biện pháp cải tạo và bảo vệ thơng qua trồng rừng phủ xanh.

- Nhóm đất vàng đỏ trên núi: Phân bố ở độ cao lớn, độ dốc lớn, có 2 loại đất, khơng sử

dụng cho sản xuất nông nghiệp.

5



Theo kết quả nghiên cứu của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp,

trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận được phân ra 8 nhóm đất cơ bản. Diện tích và tỷ lệ diện

tích của các nhóm đất được tổng hợp như sau:

Đặc điểm khí hậu - khí tượng: Ninh Thuận nằm sâu trong nội chí tuyến Bắc

Bán Cầu, ở vị trí trong khoảng từ 11o18’14” đến 12o 09’15” vĩ độ bắc; có hai mùa rõ

rệt Mùa mưa là những tháng liên tục có lượng mưa tháng chiếm 8,3% lượng mưa năm

với tần suất xuất hiện bằng hoặc lớn hơn 50%. Mùa mưa ở Ninh Thuận được xác định

là bắt đầu từ tháng 9, kéo dài đến tháng 12. Thời gian còn lại trong năm là mùa khơ.

Lượng mưa: Trên địa bàn tỉnh có tổng lượng mưa năm thấp nhất trong cả nước.

Khu vực đồng bằng ven biển trung bình vào khoảng 700-1000mm, khu vực thượng lưu

sơng Cái Phan Rang từ 1.800-2.200mm. Theo không gian, lượng mưa năm giảm dần

từ Tây sang Đông (tức là từ vùng núi xuống đồng bằng ven biển).

Theo thời gian, sự phân bố lượng mưa năm rất không đồng đều, khoảng 55 – 65 %

lượng mưa năm tập trung vào 4 tháng cuối năm, là thời kỳ mùa mưa ở Ninh Thuận.

Ngược lại, trong 8 tháng mùa khô, từ tháng 1 - 8, tổng lượng mưa thường chỉ bằng

khoảng 35 - 45% lượng mưa cả năm.

Nhiệt độ khơng khí: Ninh Thuận có nền nhiệt độ cao quanh năm. Hầu hết các

vùng đồng bằng ven biển và các vùng núi thấp kế cận đều có nhiệt độ trung bình năm

trên 27,5oC và tổng nhiệt quanh năm trên 9.400oC. Nhiệt độ trung bình nhiều năm là

27,1oC. Nhiệt độ cao nhất trong tỉnh từ 29,0 oC đến 30,2oC. Nhiệt độ thấp nhất khu vực

đồng bằng là 24,1oC. Hàng năm, nhiệt độ thường giảm thấp vào các tháng 1, tháng 2,

sau đó tăng dần và thường đạt cực đại vào tháng 5, 6 rồi lại giảm dần đến tháng 1 năm

sau. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 5 – 6 oC.

Biên độ nhiệt độ ngày trung bình 7 – 9oC.

Số giờ nắng: Ninh Thuận là tỉnh có tổng số giờ nắng trong năm cao nhất nước.

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm của Ninh Thuận từ 2.918 - 3.114 giờ, rất thuận

lợi cho sự quang hợp của cây trồng (nhất là những cây phù hợp với điều kiện nhiệt độ

cao), cũng như cho nghề sản xuất muối và việc thu năng lượng mặt trời phục vụ cho

đồng bào vùng sâu, vùng xa. Số giờ nắng trung bình ngày trong năm là 7,6 giờ. Số giờ

nắng trung bình mùa khô từ 8 - 10 giờ/ngày và trong mùa mưa từ 6 - 7 giờ/ngày.

6



Lượng bốc hơi: Bốc hơi được phân ra 3 loại chính: Bốc hơi khả năng, bốc hơi

tiềm năng và bốc hơi thực tế. Ở đây, chỉ nêu lên loại bốc hơi khả năng được tính tốn

từ tài liệu quan trắc của trạm khí tượng Phan Rang. Tổng lượng bốc hơi khả năng ở

Ninh Thuận tương đối ổn định. Hàng năm tổng lượng bốc hơi khả năng đạt từ 1.650 –

1.850 mm, phân bố không đều trong các tháng. Từ tháng 8 đến tháng 10 tổng lượng

bốc hơi hàng tháng trung bình từ 80 - 120mm, các tháng còn lại trong năm phổ biến từ

130 – 180 mm.

Ẩm độ khơng khí: Độ ẩm tương đối trung bình năm ở tỉnh Ninh Thuận thuộc

loại thấp, giao động từ 74-75%, phân bố khơng có quy luật chung rõ rệt theo không

gian (phạm vi và độ cao). Thời kỳ mùa mưa (tháng 9 đến tháng 12) độ ẩm các tháng

giao động từ 77 - 81%. Thời kỳ mùa khô, độ ẩm trung bình tháng giao động từ 70 77%. Độ ẩm tương đối trung bình biến đổi từ tháng này qua tháng khác chỉ chênh lệch

khoảng 1 - 2%. Riêng tháng kết thúc mùa khô bắt đầu mùa mưa, độ ẩm khơng khí

chênh lệch 5 – 6%. Biên độ năm của độ ẩm tương đối trung bình từ 10 - 13%. Độ ẩm

tương đối thấp nhất ở tất cả các tháng trong năm đều dưới 50%.

1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số

Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2017 của tỉnh Ninh Thuận, tồn tỉnh có

576.688 người, dân số trung bình huyện 82.384 người, mật độ là 172 người/km 2; tỷ lệ

gia tăng dân số tự nhiên các huyện 1,25%. Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ

yếu ở thành phố, thị trấn, gần các trục giao thông. Dân cư phân bố không đồng đều

giữa các huyện và giữa khu vực nông thôn với thành thị. Tỷ lệ cư dân nông thôn chiếm

64%, khu vực thành thị chiếm 36%. Mật độ dân số trung bình là 2.109 người/km 2.

Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm là nơi có mật độ dân số cao nhất, với 2.170

người/km2. Trong khi đó, huyện Bác Ái mật độ dân số thấp nhất, chỉ có 26 người/km 2.



Bảng 1.2. Hiện trạng dân số các huyện năm 2016

Huyện/TP

Tp. PR-TC



Diện tích

(km2)

79,38



Tởng



Dân số (người)

Nơng thôn Thành thị



172.304



9.416

7



162.888



Mật độ dân số

(người/km2)

2.170



Bác Ái

Ninh Sơn

Ninh Hải

Ninh Phước

Thuận Bắc

Thuận Nam

Tổng



1.027,30

771,33

253,87

342,34

319,24

564,53

3.357,99



26.685

26.685

26

75.208

63.468

11.740

98

91.937

75.825

16.112

362

129.990

104.982

25.008

380

41.229

41.229

129

58.497

58.497

103

595.850

380.102

215.748

177

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017



Lao động

Dân số trong độ tuổi lao động năm 2016 trên địa bàn nghiên cứu khoảng

330.122 người, chiếm khoảng 55,4% tổng dân số.

Bảng 1.3. Cơ cấu lao động tỉnh Ninh Thuận năm 2016

STT

Thành phần

1

Nhà nước

2

Ngoài nhà nước

3

Đầu tư nước ngoài

Tổng dân số trong độ tuổi lao động (có khả



Số lượng (người)

32.958

295.924

1.240



năng lao động)



330.122



Tỉ lệ (%)

9,98

89,64

0,38

100



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017

Nguồn lao động của tỉnh tương đối dồi dào, chủ yếu tập trung các ngành ngoài

nhà nước chiếm 89,64% tổng số lao động trong tồn tỉnh.

Trình độ văn hóa

Tỉnh Ninh Thuận là tỉnh có tỷ lệ khá lớn đồng bào dân tộc sinh sống, do vậy

trình độ dân trí của người dân nhìn chug chưa cao. Khả năng tiếp cận với khoa học kỹ

thuật, việc hiện đại hóa trong các kỹ thuật canh tác để tăng năng suất trong sản xuất

còn nhiều hạn chế. Trong những năm gần đây chính quyền địa phương rất quan tâm

đến cơng tác nâng cao trình độ dân trí cho người dân. Theo số liệu thống kê số lượng

và giáo viên trên địa bàn tỉnh năm 2015-2016.

Bảng 1.4. Số trường học và giáo viên năm học 2015 - 2016

Loại trường



Số lượng



Số giáo viên (người)



Số học sinh (người)



Mẫu giáo



(trường)

89



1.276



21.338



Tiểu học



152



3.075



56.555



Trung học cơ sở



64



2.106



37.091



Trung học phổ thông



19



994



16.294



8



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017

Số lượng các trường học cũng như các cơ sở hạ tầng khác được xây dựng ngày

càng nhiều. Chất lượng giáo dục được chú trọng nâng cao. Khi trình độ học vấn được

nâng cao, tạo nguồn lực lao động có tri thức, chuyên môn tốt là một yêu cầu cấp thiết

đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Điều này có quan hệ chặt chẽ với tính bền vững

của tài ngun nước bởi trình độ văn hóa có tác động rất lớn đến nhận thức của người

dân trong việc khai thác, sử dụng nước và các biện pháp trong bảo vệ nguồn nước.

Phát triển kinh tế

Ninh Thuận là tỉnh nằm trong vùng duyên hải của miền Nam Trung bộ. Có tiềm

năng đất đai đa dạng, phong phú, điều kiện thiên nhiên thuận lợi với khí hậu nhiệt đới

– nắng nhiều, thích hợp nhiều loại cây trồng ngắn ngày cũng như dài ngày, đặc biệt là

cây cơng nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế và có khả năng phát triển tập trung như cây

nho, táo, bông vải. . . và chăn nuôi đại gia súc. Nông - lâm nghiệp và thủy sản là ngành

hiện đang đóng vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh, chiếm khoảng

40,6% tổng GDP (2015). Đây là những điều kiện khá thuận lợi để tỉnh có thể phát triển

một nền nơng nghiệp đa dạng. Chính vì lẽ đó, hiện tại cũng như trong tương lai xa,

nơng nghiệp vẫn là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Ninh Thuận.

Ngồi ra, nằm kề vùng ĐNB nói chung có vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và liền

kề vùng kinh tế miền Trung Trung bộ, Ninh Thuận có điều kiện thuận lợi để phát triển

kinh tế xã hội như đẩy mạnh sản xuất và chế biến về nông - lâm - ngư nghiệp, công

nghiệp và dịch vụ du lịch.

Nông - lâm - ngư nghiệp

Nơng nghiệp

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 83.736,27 ha (chiếm 29,98%);

đất nuôi trồng thủy sản khoảng 2.036,72 ha (chiếm 2,43%).

Bảng 1.5. Hiện trạng sử dụng đất năm 2016

STT



1



Hạng mục



Tổng số



Cơ cấu (%)



Tổng số



335.534,17



100,00



Đất sản xuất Nơng nghiệp



279.303,63



83,24



9



2



Đất phí nơng nghiệp



30.473,06



9,08



3



Đất chưa sử dụng



25.757,48



7,68



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017

Chăn nuôi cũng giữ một vị trí quan trọng trong cải thiện kinh tế hộ, bổ sung

nguồn thực phẩm cho xã hội, tăng nguồn phân hữu cơ cho cây trồng. Cơ cấu giá trị sản

xuất theo ngành Chăn nuôi hoạt động chiếm 30,2% trong giá trị sản xuất Nông nghiệp.

Bảng 1.6. Diễn biến sản lượng vật ni thời kì 2014 – 2016

STT



Loại vật ni



2014

3.936,00



2015

3.757



Đơn vị: con

2016

3.653,00



1



Trâu



2







89.213,00



84.485



91.700,00



3



Lợn



71.232,00



70.280



81.306,00



4



Gia cầm



1.378,30



1.587



1.353,10



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017

Lâm nghiệp: Là ngành thế mạnh của tỉnh với diện tích đất lâm nghiệp

189.117,48 ha, chiếm 67,71% tổng diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở Bác Ái,

Ninh Sơn, Thuận Nam.



Bảng 1.7. Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động



Năm

2014

2015

2016



Tổng số

66,5

80,8

35,0



Trồng rừng và



Khai thác



nuôi rừng



lâm sản



Đơn vị: (tỷ đồng)

Dịch vụ và

hoạt động



lâm nghiệp

4,4

59,6

2,5

4,9

74,1

1,8

6,1

27,0

1,9

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận, 2017

10



Trong những năm gần đây, vấn đề đáng chú ý trong cơng tác quản lý ngành lâm

nghiệp là tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất rừng để khai hoang, trồng trọt, phát

triển cơ sở hạ tầng. Tốc độ phát triển KT-XH nhanh chóng đang làm thu hẹp dần diện

tích đất rừng của tỉnh.

Thủy sản: Tổng diện tích mặt nước ni trồng thủy sản năm 2015 là 1.122ha,

trong đó diện tích ni nước ngọt là 146 ha, nước lợ 881 ha và nước mặn là 95 ha.

Bảng 1.8. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản thời kỳ 2014 – 2016



Tôm



2014

936,6



2015

952



Đơn vị: ha

2016

823



2







169,9



171



144



3



Thủy sản khác



171,5



149



187



Tổng cộng



1.281,0



1.272



1.154



STT

1



Loại thủy sản



Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận năm 2017

1.3. Tổng quan về trồng măng tây

1.3.1. Tình hình trồng măng tây trên thế giới



Bảng 1.9. Tình hình trồng măng tây trên thế giới

STT



Nước



I

1

2

3

4

II

1

2

3

4

II

1



Các nước Châu Á

Trung Quốc

Nhật Bản

Thái Lan

Đài Loan

Các nước Châu Âu

Đức

Pháp

Ý

Hy Lạp

Các nước Châu Mỹ

Hoa Kỳ



Diện tích (ha)



Diện tích (ha)



2009



2016



1.270.000

6.510

17.146

635



1.390.276

5.481

1.821

570



18.190

5.270

6.607

4.079



22.274

4.369

6.476

974



11.820



8.900



11



2

3

4

5

6

III

1

2

IV

1

2

3



Peru

Mexico

Chile

Argentina

Canada

Các nước Châu Úc

Ustralia

New Zealand

Châu Phi, Nam Phi

Kenya

Morocco

Zimbabwe



29.467

17.000

2.936

2.119

1.896



31.967

24.791

1.957

2.564

1.691



1.616

639



1.530

445



31

72

417

65

71

74

Nguồn: Ngân hàng dữ liệu trực tuyến FAO.



Ở Peru, nhờ áp dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt kết hợp với bón phân tự động theo

cơng nghệ Israel có thiết bị kiểm sốt nhiệt độ và độ ẩm 60 - 70% trong đất trồng, độ

PH 6.5 - 7.5 trong đất và nước tưới, độ bốc hơi của nước tưới, độ ẩm trong khơng khí,

hàm lượng dinh dưỡng trong đất, v.v, người ta đã thu hoạch măng tây xanh và cả măng

tây trắng với năng suất rất cao: 60-100 tấn/ha/năm.

1.3.2. Tình hình trồng cây măng tây ở Việt Nam

Cây rau măng tây đã được du nhập vào nước ta từ thời Pháp nhưng ngày đó do

khơng tìm được thị trường nên cây rau măng tây không thể phát triển được. Thập niên

1970, nhiều vùng trong nước đã trồng được cây măng tây để lấy rau măng tây tươi như

Đơng Anh (Hà Nội), Kiến An (Hải Phòng), Đà Lạt, Đức Trọng, Di Linh, Bảo Lộc

(Lâm Đồng), Bà Điểm (Hóc Mơn),… nhưng ngày trồng rất ít và do khơng tìm được thị

trường tiêu thụ nên cây khơng có điều kiện để phát triển (Nguyễn Văn Thắng và trần

Khắc Thi, 2001).

Đến năm 1988, có một Việt kiều Đức mang về 500g hạt giống măng tây để

trồng thử ở Đà Lạt, nhưng cây vừa 2 – 2,5 tháng tuổi thì người trồng đã cắt lấy những

cành lá đem bán chung với hoa cắt cành, từ đó hình thành nên một thị trường trồng cây

rau măng tây để cắt lá làm kiểng trang trí chung với hoa cắt cành định cư và phát triển

mạnh mẽ ở xã Bình Phan, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, cho thu nhập cũng khá

cao. Mãi đến năm 2005, cây rau măng tây mới thực sự có mặt trở lại ở Việt Nam đúng

với giá trị thật của nó, hình thành một thị trường trồng măng tây, như: Củ Chi

(TP.HCM); Bến Lức, Đức Hòa (Long An); Long Thành (Đồng Nai); Sơng Xồi, Suối

Rao, Châu Pha (Bà Rịa Vũng Tàu); Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận);

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×