Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Nhìn mờ: đây có thể là triệu chứng tạm thời do đường huyết tăng cao, khiến nước ở bên ngoài bị kéo vào các mô trong ống kính của mắt làm hạn chế tầm nhìn, khi đường huyết ổn định thị lực sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tổn thương lâ

- Nhìn mờ: đây có thể là triệu chứng tạm thời do đường huyết tăng cao, khiến nước ở bên ngoài bị kéo vào các mô trong ống kính của mắt làm hạn chế tầm nhìn, khi đường huyết ổn định thị lực sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tổn thương lâ

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường máu: ≥ 11,1mmol/l (≥

200mg/dL).

+ Glucose máu khi đói (ít nhất 8 giờ sau ăn): ≥ 7mmol/l (≥ 126 mg/dL).

+ Nếu Glucose máu khi đói từ 5,6 – 6,9 mmol/l (100 mg/dL – 125 mg/dL)

được gọi là rối loạn dung nạp Glucose lúc đói.

- Định lượng HbA1c trong máu: Để theo dõi lượng đường trung bình trong

máu. Chỉ số này dùng để theo dõi quá trình diễn biến bệnh và đánh giá kết quả điều

trị. Ở người bình thường chỉ số này là 5%. Đối với bệnh nhân đái tháo đường thì chỉ

số này <6,5% là đường máu được cân bằng tốt. Nên kiểm tra lượng HbA1c định kỳ

3 tháng 1 lần.

- Định lượng Glucose niệu.

- Các chỉ số hóa sinh khác: Creatinine, Triglyceride, Cholesterol, Protein

niệu… để phát hiện các biến chứng.

- Điện tâm đồ: Phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim, bệnh lý mạch

vành.

- Soi đáy mắt: Phát hiện tổn thương mạch máu võng mạc.

- Tìm các kháng thể: ICA, anti GAP… hay gặp trong đái tháo đường týp 1.

3.1.5. Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường

3.1.5.1. Chẩn đoán đái tháo đường

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây:

- Glucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L (hay 200 mg/dL). Kèm

các triệu chứng lâm sàng: Đái nhiều, uống nhiều, Ăn nhiều, sụt cân không rõ

nguyên nhân.

- Glucose máu lúc đói (FPG) ≥ 7mmol/l (hay 126 mg/dL). Bệnh nhân phải

nhịn ăn ít nhất 8 giờ.



- Glucose máu ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose

đường uống 75g (OGTT) ≥ 11,1 mmol/L (hay 200 mg/dL).

- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng

thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nếu khơng có triệu chứng kinh điển của tăng glucose máu (bao gồm đái

nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán

a, b, c ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực

hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày.

Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu

quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥

126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn

hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.

3.1.5.2. Chẩn đoán tiền đái tháo đường

Chẩn đốn tiền đái tháo đường khi có một trong các rối loạn sau đây:

- Rối loạn đường huyết lúc đói (IFG): Glucose máu lúc đói từ 100mg/dL

(5,6mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L);

- Rối loạn dung nạp đường (IGT): Glucose máu sau 2 giờ dung nạp glucose

bằng đường uống 75 g từ 140 (7.8 mmol/L) đến 199 mg/dL (11 mmol/L);

- HbA1c từ 5,7% (39 mmol/mol) đến 6,4% (47 mmol/mol).

Những tình trạng rối loạn glucose huyết này chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đốn

đái tháo đường nhưng vẫn có nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu lớn của

đái tháo đường, được gọi là tiền đái tháo đường (pre-diabetes).

3.1.5.3. Tiêu chuẩn để làm xét nghiệm chẩn đoán

Tiêu chuẩn để làm xét nghiệm chẩn đốn ở người khơng có triệu chứng ĐTĐ:

Người lớn có BMI (Cân nặng (kg)/Chiều cao2(m)) ≥ 23 kg/m2 hoặc cân nặng

lớn hơn 120% cân nặng lý tưởng và có một hoặc nhiều hơn một trong các yếu tố

nguy cơ sau:



- Ít vận động thể lực

- Gia đình có người bị đái tháo đường (bố, mẹ, anh chị em ruột)

- Tăng huyết áp (huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương

≥ 90 mmHg hay đang điều trị thuốc hạ huyết áp)

- Người có rối loạn Lipid máu; đặc biệt khi nồng độ HDL cholesterol <35 mg/

(0,9 mmol/L) và/hoặc nồng độ triglyceride > 250 mg/dL (2,82 mmol/L)

- Vòng bụng to: ở nam ≥ 90 cm, ở nữ ≥ 80 cm

- Phụ nữ bị buồng trứng đa nang

- Phụ nữ đã mắc đái tháo đường thai kỳ

- HbA1c ≥ 5,7% (39 mmol/mol), rối loạn glucose huyết đói hay rối loạn dung

nạp glucose ở lần xét nghiệm trước đó.

- Có các dấu hiệu đề kháng insulin trên lâm sàng (như béo phì, dấu gai đen...).

- Tiền sử có bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch.

Ở bệnh nhân khơng có các dấu hiệu/triệu chứng trên, bắt đầu thực hiện xét

nghiệm phát hiện sớm đái tháo đường ở người ≥ 45 tuổi.

Nếu kết quả xét nghiệm bình thường, nên lặp lại xét nghiệm sau mỗi 1-3 năm.

Có thể thực hiện xét nghiệm sớm hơn tùy thuộc vào kết quả xét nghiệm trước đó và

yếu tố nguy cơ. Đối với người tiền đái tháo đường: thực hiện xét nghiệm hàng năm.

3.1.5.4. Phân loại đái tháo đường

- Đái tháo đường týp 1 (Đái tháo đường phụ thuộc insulin):

Đái tháo đường týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái tháo

đường thế giới. Nguyên nhân do tế bào bê-ta tụy bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt

insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn).

Lâm sàng:

+ Thường gặp ở độ tuổi < 40.



+ Hoàn cảnh phát hiện bệnh:

 Khởi phát cấp tính với các triệu chứng lâm sàng rầm rộ: đái nhiều, uống

nhiều, hội chứng dị hóa (sút cân trong khi thèm ăn và ăn nhiều  mệt mỏi suy

nhược, thể trạng gầy).

 Hoặc đến viện do các biến chứng cấp tính (hơn mê toan ceton).

 Hoặc do các nhiễm khuẩn (tiết niệu, phổi, lao...) mà phát hiện bệnh.

+ Tiền sử gia đình ĐTĐ hoặc các bệnh tự miễn khác.

Cận lâm sàng:

 Đường huyết tăng cao, đường niệu cao.

 Thể ceton trong máu tăng cao và xuất hiện trong nước tiểu.

 Insulin máu thấp.

 Peptid C thấp và không đáp ứng khi kích thích bằng glucagon (test

glucagon).

 Kháng thể kháng tiểu đảo Langerhans (+). ICA (+)

 HLA DR3, HLA DR4 (+).

Đái tháo đường týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen. Người bệnh đái tháo

đường týp 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn. Biến chứng thường là

cấp tính.

- Đái tháo đường týp 2 (Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin).

Đái tháo đường týp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% đái tháo đường trên thế giới,

thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo

tuổi. Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống,

đái tháo đường týp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh. Đặc trưng

của đái tháo đường týp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối

do giảm chức năng của tế bào be-ta tụy.



Lâm sàng:

 Thường gặp ở độ tuổi > 40.

 Tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, không rầm rộ như

týp1. Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đốn.

 Hồn cảnh phát hiện:

 Xét nghiệm đường máu hệ thống cho các đối tượng có nguy cơ cao.

 Do có biểu hiện các biến chứng cấp tính và mạn tính.

 Tình cờ phát hiện đường máu tăng cao.

 Thể trạng bình thường hoặc thừa cân, béo phì.

 Tiền sử gia đình béo phì, ĐTĐ, tiền sử ĐTĐ thai nghén, đẻ con > 4kg.

 Thường kèm theo các biến chứng: vi mạch, tim mạch, mạch máu lớn, thần

kinh ngoại biên, bàn chân ĐTĐ.

Cận lâm sàng:

 Đường máu tăng cao.

 Hiếm khi có ceton niệu (trừ trường hợp nhiễm khuẩn hoặc suy kiệt).

 Insulin máu bình thường, peptid C bình thường, đáp ứng với test glucagon.

Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường týp 2 là có sự tương

tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người mắc bệnh

đái tháo đường týp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen ăn uống, sinh hoạt,

kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu q trình này thực hiện

khơng tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin. Biến chứng

thường là mạn tính, ít khi cấp tính.

- Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc

cuối của thai kỳ và khơng có bằng chứng về ĐTĐ týp 1, týp 2 trước đó).



 Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng,

gặp khi có thai lần đầu và thường mất đi sau đẻ. Sự tiến triển của đái tháo đường

thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: Bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình

thường [7].

 Tỷ lệ gặp khoảng 1-2% phụ nữ có thai.

 Hay gặp ở người có tiền sử gia đình ĐTĐ, tiền sử sẩy thai nhiều lần, thai

lưu, đa ối, nhiễm độc thai nghén, có HLA DR+.

- Các thể đái tháo đường khác (hiếm gặp)

 Khiếm khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính của insulin do gen.

 Bệnh lý của tụy ngoại tiết.

 Do các bệnh Nội tiết khác.

 Nguyên nhân do thuốc hoặc hóa chất khác.

 Nguyên nhân do nhiễm trùng.

 Các thể ít gặp, các hội chứng về gen.

3.2. QUY TRÌNH CHẨN ĐỐN BỆNH

3.2.1. Lập luận chẩn đoán bệnh:

Một hệ chuyên gia tốt là một hệ hoạt động theo đúng cách mà người chuyên

gia làm việc, chỉ như vậy mới khai thác hiệu quả những tri thức từ chuyên gia và

đem lại lợi ích to lớn. Để đạt được yêu cầu đó với một hệ chẩn đốn bệnh, q trình

chẩn đốn trên thực tế của các bác sỹ phải được tổng qt và mơ hình hóa.

Các kiểu chẩn đoán:

- Chẩn đoán khẳng định bệnh: Bác sỹ sử dụng những triệu chứng hay xuất

hiện đặc trưng cho bệnh để tìm ra khả năng bị mắc bệnh của bệnh nhân.

- Chẩn đoán loại trừ bệnh: Bác sỹ sử dụng những triệu chứng không bao giờ

hoặc rất hiếm khi xuất hiện ở bệnh để loại trừ khả năng mắc bệnh của bệnh nhân.



- Chẩn đoán phân biệt: Bác sỹ sử dụng những triệu chứng đặc hiệu, hay gặp

của các bệnh để phân biệt hai bệnh có nhiều triệu chứng giống nhau.

3.2.2. Các kiểu triệu chứng

- Triệu chứng lâm sàng: Đây là những triệu chứng của bệnh nhân có thể được

bác sỹ thu thập qua hỏi đáp, thăm khám bình thường bằng tay, mắt, nghe, gõ, đo…

- Triệu chứng cận lâm sàng: Đây là những triệu chứng của bệnh nhân chỉ có

thể có được qua máy móc như xét nghiệm, chụp X quang, điện tâm đồ,…

- Tiền sử bệnh án của bệnh nhân: Đây là những thông tin rất quan trọng về

bệnh nhân như những căn bệnh đã từng mắc, di chứng, các bệnh xuất hiện trong gia

đình,… Đó là yếu tố đem lại sự chính xác cho các chẩn đốn cuối cùng.

3.2.3. Quy trình chẩn đốn bệnh

Bác sỹ tiến hành chẩn đoán theo những bước sau:

Bước 1: Giai đoạn khám lâm sàng

- Dựa vào chỉ số BMI, tuổi tác, cân nặng, có mang thai hay khơng?

- Tiến hành các thăm khám ban đầu: nhìn vẻ bề ngồi như da, mắt,…

- Hỏi về tình trạng cơ thể bệnh nhân để thu được càng nhiều càng tốt các triệu

chứng lâm sàng: Đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, gầy nhiều,…

- Từ các triệu chứng lâm sàng tiến hành chẩn đoán để xác định khả năng mắc

bệnh của bệnh nhân.

Nếu qua giai đoạn này, bác sỹ khơng nghi ngờ gì về bệnh ĐTĐ thì họ sẽ đưa

ra kết luận tình trạng chỉ là rối loạn sinh lý tạm thời hoặc gợi ý về khả năng bệnh

nhân mắc một căn bệnh khác. Ngược lại, nếu bệnh nhân có nhiều triệu chứng đặc

trưng của bệnh ĐTĐ thì họ có thể kết luận là bị bệnh đái tháo đường, sau đó tiến

hành giai đoạn chẩn đốn cận lâm sàng để có được kết luận chắc chắn hơn.

Bước 2: Giai đoạn khám cận lâm sàng

- Thực hiện các xét nghiệm khác như định lượng Glucose máu, định lượng

HbA1c trong máu, định lượng Glucose niệu, …



- Điện tâm đồ, soi đáy mắt,… để phát hiện sớm các biến chứng.

Sau giai đoạn này, bác sỹ có thể đi tới kết luận cuối cùng khẳng định hay loại

trừ bệnh đái tháo đường và đề xuất một phương án chữa trị phù hợp theo tình trạng

bệnh tật của bệnh nhân.

3.2.4. Các quy luật chẩn đoán

Các quy luật chẩn đoán được xây dựng nhờ giải thuật phân lớp của cây quyết

định trong khai phá dữ liệu (sử dụng giải thuật tiêu biểu là thuật toán

C4.5). Quy luật này được rút ra từ tập dữ liệu huấn luyện, mỗi nút lá là một luật.

Có được thơng tin về lâm sàng và cận lâm sàng, bác sỹ điều trị sẽ dựa vào các thông

tin này để đưa ra kết luận bệnh cuối cùng cho bệnh nhân.

Cận lâm sàng: Bệnh nhân được khẳng định bị đái tháo đường với xét

nghiệm Glucose máu lúc đói ≥ 7 mmol/l.

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có tiền sử bệnh tim, phổi, gan, thận,… có bệnh lý rối loạn lipid

máu, bệnh mạch vành đã biết trước hoặc phát hiện trong quá trình nhập viện.

Phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai.

3.3. QUY TRÌNH ỨNG DỤNG LOGIC MỜ VÀO CHẨN ĐỐN BỆNH ĐÁI

THÁO ĐƯỜNG

3.3.1. Mơ tả bài tốn

Trên cơ sở hồ sơ bệnh án, dữ liệu thu thập, sử dụng Logic mờ, lập luận mờ,

cây quyết định và tham khảo ý kiến chuyên gia để xây dựng hệ thống.

Với khuôn khổ của luận văn, trong hệ thống chỉ dùng những thuộc tính

đặc trưng để đưa ra chẩn đốn ban đầu về bệnh ĐTĐ. Từ đó, hỗ trợ cho các y

bác sỹ trong việc chẩn đốn bệnh một cách nhanh chóng và chính xác hơn.

Đồng thời, cung cấp thêm một số chỉ dẫn trong việc phòng và điều trị bệnh

ĐTĐ cho người bệnh.

3.3.2. Mơ hình kiến trúc hệ thống

Mơ hình kiến trúc hệ thống chẩn đốn bệnh được xây dựng như hình vẽ [11]:



Hình 3.1. Mơ hình kiến trúc hệ thống chẩn đoán bệnh



Hệ thống chẩn đoán mờ được thiết kế gồm:

 Giá trị đầu vào gồm: Các triệu chứng (các biến ngơn ngữ).

 Bộ mờ hóa

 Các luật mờ

 Bộ suy diễn

 Giá trị đầu ra là khả năng mắc bệnh đái tháo đường (biến ngơn ngữ).

Hệ thống chẩn đốn bệnh đái tháo đường ứng dụng logic mờ được thực hiện

theo quy trình sau:

Bước 1: Thu thập dữ liệu

Bước 2: Xây dựng và biểu diễn tri thức mờ

3.3.3. Thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau:

- Các tài liệu y học chuyên ngành, các bài báo chuyên môn, thông tin trên

Internet. Đây là nguồn tri thức quý giá đã đúc kết rất nhiều kinh nghiệm của những

người đi trước trong việc nghiên cứu và chữa trị bệnh đái tháo đường.

- Hồ sơ bệnh án của 50 bệnh nhân có liên quan đến bệnh đái tháo đường và

các biến chứng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị (mẫu ở Phụ lục 3) .

- Ý kiến của các chuyên gia, bác sỹ về các quy luật chẩn đốn bệnh đã được

tích lũy qua nhiều năm kinh nghiệm. Đây là những thơng tin có giá trị khoa học và

thực tế trong việc xây dựng hệ thống chẩn đoán bệnh.



Tri thức về chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các biến chứng được thu thập từ

việc phỏng vấn từ 20 chuyên gia, bác sỹ.

Lượng giá kết quả thu thập được:

Căn cứ vào thông tin thu thập được từ Internet, tài liệu, báo chí và các thơng

tin trong các hồ sơ bệnh án, ta có các triệu chứng lâm sàng của bệnh đái tháo

đường như sau:

- Đái nhiều (đặc biệt vào ban đêm).

- Uống nhiều.

- Ăn nhiều.

- Gầy nhiều (Sụt cân không rõ nguyên nhân).

- Mệt mỏi thường xuyên.

- Nhìn mờ.

- Tê hoặc ngứa ran, đặc biệt là bàn tay, bàn chân.

- Chậm lành các vết thương hoặc vết loét.

- Ngứa da, đặc biệt vùng da có nếp gấp.

- Bệnh nướu răng tái đi tái lại.

- Rối loạn chức năng tình dục ở nam giới.

- Thay đổi màu da,…

Dựa vào ý kiến của các chuyên gia, bác sỹ và bệnh nhân, tôi đã rút ra một số

triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh đái tháo đường để làm cơ sở tri thức cho

hệ chẩn đoán bệnh đái tháo đường sau này đó là:

- Đái nhiều.

- Uống nhiều.

- Ăn nhiều.

- Gầy nhiều.



Ý kiến tổng hợp được thực hiện thông qua Phiếu điều tra ở Phụ lục 1 và kết

quả ở Phụ lục 2. Để có kết luận chính xác hơn, ta cần kết hợp với các xét nghiệm

cận lâm sàng, Ở đây, tôi chọn xét nghiệm kiểm tra Glucose máu lúc đói vì xét

nghiệm này dễ thực hiện và độ chính xác cao.

3.3.4. Xây dựng và biểu diễn tri thức mờ

3.3.4.1. Phân tích các bước xây dựng hệ thống chẩn đoán

Để đưa được kiến thức hiểu biết chưa rõ vào hệ thống mờ thì ta cần phải lượng

hóa các điều kiện đầu vào và đầu ra tạo thành các tập dữ liệu vào - ra. Sau đó thiết

kế hệ thống dựa trên cơ sở tập dữ liệu đó.

Các bước xây dựng một hệ thống chẩn đoán mờ:

Bước 1: Xác định các biến ngôn ngữ vào/ra.

Bước 2: Xác định miền giá trị biến vào/ra và các hàm thuộc cho các tập mờ

- Phân chia miền giá trị của các biến sao cho có ý nghĩa và phù hợp thực tế.

Mỗi miền sẽ được đại diện bởi một tập mờ.

- Với mỗi tập mờ ở trên, xác định hàm thuộc của chúng. Các hàm dạng tam

giác và hình thang thường được chọn.

Bước 3: Xây dựng các luật mờ

- Xét từng cặp dữ liệu vào - ra để tạo ra từng luật riêng biệt. Với mỗi cặp dữ

liệu vào - ra (x, y) ta cho rằng có một luật A => B nếu µ(x) là giá trị lớn nhất

trong các giá trị hàm thuộc của các tập mờ đầu vào đối với x và µ(y) là giá trị lớn

nhất trong các giá trị hàm thuộc của các tập mờ đầu ra đối với y.

- Xác định trọng số của từng luật. Nếu có 2 luật mâu thuẫn thì chọn luật có

trọng số cao hơn.

- Các luật đã chọn được đưa vào bảng luật.

Bước 4: Chọn phương pháp suy diễn

Để tính hàm thuộc đầu ra thì có nhiều phương pháp như đã trình bày ở chương

Logic mờ và lập luận mờ, nhưng vì lý do dễ cài đặt và tốc độ tính tốn nhanh nên

phương pháp max-min, max-prod, sum-min, sum-prod thường được chọn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Nhìn mờ: đây có thể là triệu chứng tạm thời do đường huyết tăng cao, khiến nước ở bên ngoài bị kéo vào các mô trong ống kính của mắt làm hạn chế tầm nhìn, khi đường huyết ổn định thị lực sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, nó cũng có thể là tổn thương lâ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×