Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Gồm nội soi mạch và siêu âm nội mạch. Đây là 2 phương pháp xâm nhập vào bên trong thành mạch, trong đó nội soi mạch có thể quan sát trực tiếp tổn thương, thường được sử dụng để kiểm tra tái tạo mạch sau nong mạch hoặc phẫu thuật.

Gồm nội soi mạch và siêu âm nội mạch. Đây là 2 phương pháp xâm nhập vào bên trong thành mạch, trong đó nội soi mạch có thể quan sát trực tiếp tổn thương, thường được sử dụng để kiểm tra tái tạo mạch sau nong mạch hoặc phẫu thuật.

Tải bản đầy đủ - 0trang

27



trực tiếp tổn thương, thường được sử dụng để kiểm tra tái tạo mạch

sau nong mạch hoặc phẫu thuật.



1.4.4. Các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch hai chi dưới ở bệnh

nhân ĐTĐ

1.4.4.1. Tuổi

Các nghiên cứu giải phẫu bệnh cho thấy các tổn thương vữa xơ có

thể bắt đầu rất sớm, trước 20 tuổi. Tuy nhiên các biến chứng th ường

xảy ra sau 50 tuổi. Do đó, tuổi càng cao nguy cơ mắc bệnh càng cao [ 21].

Trên cùng một độ tuổi bề dày của mảng xơ vữa động mạch của bệnh

nhân ĐTĐ cũng dày hơn so với người không ĐTĐ [32].

Một nghiên cứu sử dụng ABI cho thấy tỷ lệ của bệnh động mạch chi

dưới ở những người bị bệnh ĐTĐ > 40 tuổi là 20% và > 50 tuổi là 29%

[40].

1.4.4.2. Giới tính

Biến chứng xơ vữa động mạch xảy ra ở nam sớm hơn ở n ữ, tỷ lệ

nữ bị bệnh chỉ tăng từ tuổi 60 [21].

Đau cách hồi thường gặp nhất ở nam giới trên 50 tuổi. Mặc dù

bệnh nhân trẻ hơn có thể biểu hiện triệu chứng của cơn đau cách h ồi

[34].

1.4.4.3 Thuốc lá

Nguy cơ này giống nhau ở cả 2 giới. Nhiều nghiên cứu ch ứng minh

hút thuốc lá góp phần quan trọng trong sự phát triển của BĐMCD và là

yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh này. Thuốc lá làm tăng t ần su ất m ắc

BĐMCD. Hút thuốc lá sinh bệnh là do các c ơ chế tác dụng lên thành

mạch, tác dụng lên chuyển hóa lipid, tác dụng sinh huy ết khối, tác d ụng



28



lên sự vận mạch và lên huyết động [21].

Hút thuốc lá vừa làm tăng nguy cơ phát triển BĐMCD v ừa đẩy

nhanh tiến triển của bệnh. Các nguy cơ do hút thuốc lá liên quan đến

mọi lứa tuổi và gia tăng theo số lượng thuốc lá được hút. Các phân tích

đa biến cho thấy rằng hút thuốc lá là một yếu tố nguy c ơ đ ộc l ập, l ớn

hơn các yếu tố nguy cơ khác và là nguyên nhân quan trọng của bệnh

động mạch chi dưới hơn thiếu máu cơ tim cục bộ [ 32].

1.4.4.3. Tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là y ếu t ố nguy c ơ cao c ủa b ệnh đ ộng m ạch

chi dưới. HA cao làm tăng sinh t ế bào c ơ tr ơn làm dày trung m ạc ĐM,

làm gia tăng chất elastin, ch ất keo và glucosaminoglucan. Áp l ực do HA

cao tạo ra cũng làm dễ v ữa m ảng v ữa x ơ cũng nh ư gia tăng tính th ấm

của nội mạc đối với cholesterol. Nhi ều nghiên c ứu cho th ấy t ỷ l ệ hi ện

mắc bệnh THA ở bệnh nhân viêm t ắc đ ộng m ạch chi d ưới là 51,9% so

với người bình th ường là 9,8% [ 21].

1.4.4.4. Rối loạn lipid máu

Bình thường lớp nội mạc có q trình chuyển hóa rất mạnh, đ ặc

biệt với lipoprotein, men lipoprotein lipase phân h ủy và đ ốt cháy

lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL), cholesterol tỷ trọng thấp (LDL-C).

Lớp nội mạc còn mang điện tích âm nên các thành ph ần h ữu hình c ủa

máu bị đẩy xa không bị ngưng kết, lắng đọng. Khi có XVĐM sẽ có s ự tăng

tính thấm của tế bào nội mạc đối với VLDL và LDL-C, rối loạn hoạt động

của những tế bào cơ trơn thành động mạch và men lipoprotein lipase

nên quá trình đốt cháy VLDL, LDL-C giảm dần đến hậu quả là m ất cân

bằng dòng lipoprotein, dòng vào tế bào cao h ơn dòng ra kh ỏi tế bào và

tích lũy mỡ ở thành động mạch [21].

Hầu hết các khảo sát dịch tễ học đều xác định tăng chlesterol máu



29



là nguy cơ chính gây XVĐM, tuy nhiên nguy cơ này còn ph ụ thu ộc vào lo ại

lipoprotein chuyên chở cholesterol. Tăng LDL-C mức độ nào trong máu

đều có nguy cơ gây XVĐM, lipoprotein (a) cũng là y ếu tố nguy c ơ cao khi

vượt q 0,3g/l, tăng chylomicron ít có ý nghĩa trong vi ệc gây XVĐM, còn

cholesterol tỷ trọng cao (HDL-C) ngược lại là yếu tố chống XVĐM cao

[21].

Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thường phối hợp với rối loạn lipid máu

bao gồm tăng triglycerid (TG) và giảm HDL-C đây là yếu tố nguy c ơ liên

quan đến XVĐM. Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có tỷ lệ cao v ề x ơ v ữa đ ộng

mạch và làm gia tăng tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc nh ồi máu c ơ tim, b ệnh

mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại biên mà y ếu tố bệnh nguyên

bao gồm tăng TG và giảm HDL-C huyết tương [32].

1.4.4.5 Béo phì

Béo phì, đặc biệt là béo phì dạng nam, còn gọi là béo phì d ạng

bụng, là một trong những yếu tố liên quan đến xơ vữa động m ạch và

ĐTĐ thông qua sự đề kháng Insulin, cường insulin, rối loạn các

lipoprotein, THA hoặc phối hợp nhiều yếu tố trên [32].

1.4.4.6. Tăng glucose máu

Kiểm soát glucose máu kém là một yếu tố nguy cơ rất quan trọng

trong quá trình phát sinh tổn thương mạch máu nhỏ và mạch máu lớn ở

bệnh nhân ĐTĐ. Có sự tương quan giữa HbA1c với tổn thương xơ vữa động

mạch hai chi dưới ở bệnh nhân ĐTĐ [32].

1.4.4.7. Rối loạn các yếu tố đông máu và viêm

Bệnh nhân ĐTĐ được xem là có một tình trạng tiền đông máu v ới

gia tăng các yếu tố VIII và Von Willebrand, giảm tiêu sợi huy ết (tăng

fibrinogen), tăng tổng hợp thromboxan A2. Tất cả các yếu tố nguy cơ này

góp phần làm gia tăng tần suất mắc bệnh và làm n ặng thêm các t ổn



30



thương về mạch máu ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [32].

Ngoài ra gia tăng nồng độ CRPhs hiện nay cũng là một nguy c ơ c ủa

bệnh động mạch chi dưới [32].

1.5. TỔNG QUAN BỆNH LÝ BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1.5.1. Định nghĩa

Bàn chân đái tháo đường theo định nghĩa của WHO và sự th ống

nhất của nhóm chuyên gia quốc tế về bàn chân đái tháo đường là nhiễm

trùng, loét và/ hoặc phá hủy các mơ sâu có kết hợp với nh ững bất

thường về thần kinh và các mức độ khác nhau về của bệnh m ạch máu

ngoại biên ở chi dưới [3].

Bệnh lý bàn chân là một biến chứng mạn tính thường gặp ở bệnh

nhân ĐTĐ. Đây là một trong những biến chứng nặng mà hậu quả là loét

hoại tử bàn chân khiến bệnh nhân phải nhập viện điều trị.

1.5.2. Cơ chế bệnh sinh của hình thành bệnh lý bàn chân do đái tháo

đường:

Tổn thương bàn chân ở người bệnh đái tháo đường là hậu quả của

[3]:





Bệnh đa dây thần kinh







Bệnh lý mạch máu ngoại biên







Nhiễm trùng cơ hội







Chấn thương.







Phối hợp các biến chứng kể trên (thường gặp).



1.5.3. Chẩn đoán

Bảng 1.6. Các triệu chứng và dấu hiệu cảnh báo các vấn đề

bàn chân đái tháo đường [3]

Triệu chứng

Mạch Chân lạnh



Dấu hiệu khi khám

Mất mạch mu chân, mạch khoeo hoặc



31



Triệu chứng

Đau cách hồi ở bắp

chân hoặc bàn chân

Đau khi nghỉ, đặc

máu biệt về đêm.



Cảm giác: nóng rát,

châm chích, đau, dị

cảm, lạnh chân.

Triệu chứng ở bàn

tay

Thần

Vận động: yếu cơ

kinh

(bàn chân rơi)



Tự động: giảm tiết

mồ hơi



Dấu hiệu khi khám

mạch đùi.

Âm thổi vùng đùi

Lòng bàn chân nhợt khi nâng bàn chân

lên và đỏ khi để thõng hai chân xuống.

Tăng thời gian đổ đầy mao mạch (> 3-4

giây).

Da chân lạnh.

Cảm giác: khiếm khuyết cảm giác rung,

sờ nông – sâu, đau và nhiệt độ, tăng cảm

giác.

Hội chứng ống cổ tay: dị cảm, mất cảm

giác vùng do thần kinh giữa chi phối.

Vận động: giảm hoặc mất cảm giác

phản xạ gân sâu (gân gót Achilles, chày),

yếu cơ, teo cơ.



Tự động: giảm hoặc khơng tiết mồ hơi.

Nóng và phù do tăng shunt động – tĩnh

mạch.

Thay đổi hình dáng Vòm chân cao với ngón chân co quắp. Bàn

bàn chân cấp tính

chân rơi.Bàn chân bẹt (Rocker-bottom)

Cơ hoặc mạn tính, kèm Bàn chân Charcot

xương phù và khơng có tiền Teo cơ

sử chấn thương.

Yếu các cơ bàn tay

Da Vết thương rất đau Da: khô bất thường.Nhiễm nấm móng

hoặc khơng đau.

mạn tính.

Vết thương khơng

Tổn thương tạo sừng có thể kèm theo

lành hoặc lành chậm, xuất huyết.

hoại tử.

Loét thiểu dưỡng. Lông: giảm hoặc mất.

Thay đổi màu sắc da Móng: thiểu dưỡng. Nấm móng

(xanh tím, đỏ) Chân Móng quặp



32



Triệu chứng

bong vảy, ngứa hoặc

khơ

Nhiễm trùng nhiều

lần



Dấu hiệu khi khám



Bảng 1.7. Phân loại loét bàn chân theo Wagner [ 3]

Phân



Mức độ tổn thương



độ

Độ 0



Khơng có tổn thương, nhưng có các yếu tố nguy cơ như nốt



Độ 1

Độ 2

Độ 3

Độ 4



chai

Loét trên bề mặt.

Loét sâu tới gân, dây chằng, cân cơ, xương hoặc kh ớp.

Viêm tủy xương hoặc áp xe sâu

Hoại tử khu trú: ngón, phần trước của bàn chân hoặc gót



Độ 5



chân.

Hoại tử nặng (lan rộng và sâu)



Bảng 1.8. Phân độ và giai đoạn tổn thương bàn chân

theo DG. Armstrong [47]

Độ 0

Tăng

sừng hóa,

tổn

thương

sẹo

Giai đoạn A: khơng

nhiễm trùng, thiếu máu

Giai đoạn B: nhiễm



Độ 2



Độ 3



Độ 1



Loét sâu,



Loét sâu,



Loét



tổn thương



tổn



nông



gân, bao



thương



khớp



cơ, khớp



33



trùng

Giai đoạn C: thiếu máu

Giai đoạn D: nhiễm

trùng và thiếu máu

1.6. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN Đ ẾN

ĐỀ TÀI

1.6.1. Trong nước

Nghiên cứu của Lê Hoàng Bảo và cộng sự (2012) trên 153 bệnh

nhân ĐTĐ ghi nhận ABI <0,91 chiếm 23,5%; ABI >1,3 chiếm 2,6% [ 1].

Ngiên cứu của Bùi Thị Bích Khuê (2014) trên 95 bệnh nhân ĐTĐ

thực hiện tại khoa Nội bệnh viện Trung Ương Huế sử dụng ABI thì ghi

nhận tỷ lệ BĐMCD chiếm 19%, tỷ lệ loét bàn chân chiếm 10,5%, ABI và

biến chứng bàn chân ĐTĐ có mối liên quan có ý nghĩa th ống kê v ới p <

0,01. ABI càng thấp càng có nguy cơ xảy ra biến chứng loét ( AUC=

76,2%, p<0,01) [15].

Nghiên cứu khác của Nguyễn Hữu Chức, Nguyễn Kim Lương

(2010) trên 82 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đi ều tr ị t ại khoa Chăm

sóc bàn chân - Bệnh viện Nội tiết Trung Ương sử dụng siêu âm doppler

ĐM 2 chi dưới thì 34,1% bệnh nhân có tổn th ương đ ộng m ạch l ớn chi

dưới (xơ vữa 62,9%, hẹp lòng mạch 23,2%, tắc mạch 13,9%) [ 6].

Theo nghiên cứu của Ngô Thị Thu Thủy, Đỗ Thị Tính (2013) trên

205 bệnh nhân ĐTĐ nhập viện khoa nội bệnh viện Y H ải Phòng ghi

nhận tỷ lệ loét bàn chân là 15,1% [31].

1.6.2. Ngoài nước

Nghiên cứu của V. Bembi (2006) trên 100 bệnh nhân tiểu đ ường

typ 2 và 50 bệnh nhân nhóm chứng (sử dụng siêu âm Doppler màu). T ỷ

lệ PAD là 8% ở nhóm chứng và 24% ở người ĐTĐ [44].

Ngiên cứu của C.A. Abbott (2002) trên 9701 b ệnh nhân ĐTĐ ở



34



miền tây bắc nước Anh ghi nh ận có 2% bệnh nhân ĐTĐ bi ến ch ứng

loét bàn chân m ới mỗi năm [ 35].

Nghiên cứu của S.H. Won và cộng sự (2014) trên 173 bệnh nhân

loét bàn chân ĐTĐ ghi nhận có 49 bệnh nhân có ABI < 0,9 chiếm 28,3%

[74].

Nghiên cứu của D.O. Soyoye (2016) trên 300 bệnh nhân (150 bệnh

nhân ĐTĐ và 150 bệnh nhân nhóm chứng) ghi nhận tỷ lệ bệnh động

mạch ngoại biên dựa vào ABI <0,9 ở bệnh nhân ĐTĐ là 22%, ở nhóm

chứng là 8% (p<0,01) [69].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Gồm nội soi mạch và siêu âm nội mạch. Đây là 2 phương pháp xâm nhập vào bên trong thành mạch, trong đó nội soi mạch có thể quan sát trực tiếp tổn thương, thường được sử dụng để kiểm tra tái tạo mạch sau nong mạch hoặc phẫu thuật.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×