Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Tất cả các triệu chứng cơ năng trên bệnh nhân đều cải thiện rõ rệt sau 3 tháng phẫu thuật. Đau họng tái phát giảm từ (67,3%) còn (12,2%); chảy mũi giảm từ (12,2%) còn (12,2%); ho từ (49,0%) còn (4,1%); nghẹt mũi từ (42,9%) còn (6,1%).

Nhận xét: Tất cả các triệu chứng cơ năng trên bệnh nhân đều cải thiện rõ rệt sau 3 tháng phẫu thuật. Đau họng tái phát giảm từ (67,3%) còn (12,2%); chảy mũi giảm từ (12,2%) còn (12,2%); ho từ (49,0%) còn (4,1%); nghẹt mũi từ (42,9%) còn (6,1%).

Tải bản đầy đủ - 0trang

44



3.2.7. Mức độ ngáy trước phẫu thuật, khi ra viện và sau 3 tháng

Bảng 3.16. So sánh mức độ ngủ ngáy trước phẫu thuật,

khi ra viện và sau 3 tháng (n=49)

Trước phẫu thuật



Khi ra viện



Sau 3 tháng



Mức độ ngáy

n



Tỷ lệ %



n



Tỷ lệ %



n



Tỷ lệ %



Độ 0



0



0,0



37



75,5



46



93,9



Độ 1



11



22,4



11



22,4



3



6,1



Độ 2



22



44,9



1



2,1



0



0,0



Độ 3



16



32,7



0



0,0



0



0,0



49



100



49



100



49



100



Tổng



Nhận xét: Mức độ ngủ ngáy trước phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao nhất là độ 2

(44,9%) và độ 3 (32,7%). Khi ra viện mức độ ngáy độ 2 từ 22 trường hợp

trước phẫu thuật chiếm (44,9%) giảm còn 1 trường hợp chiếm (2,1%). Mức

độ ngáy độ 1 cho thấy trước và khi ra viện không thấy sự thay đổi, nhưng sau

3 tháng mức độ ngáy độ 1 giảm còn 3 trường hợp chiếm (6,1%) so với khi ra

viện là 11 trường hợp chiếm (22,4%).



45



3.2.8. Đánh giá kết quả điều trị khi ra viện và sau 3 tháng

Bảng 3.17. Đánh giá kết quả điều trị khi ra viện và sau 3 tháng (n=49)

Khi ra viện



Sau 3 tháng



Kết quả

n



Tỷ lệ %



n



Tỷ lệ %



Tốt



37



75,5



46



93,9



Khá



11



22,4



3



6,1



Trung bình



1



2,1



0



0,0



Kém



0



0,0



0



0,0



49



100



49



100



Tổng



Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả tốt là khá cao, khi ra viện chiếm

(75,5%) và sau 3 tháng chiếm (93,8%).



3.2.9. Đánh giá mức độ hài lòng của người nhà bệnh nhân sau 3 tháng



46



phẫu thuật

Bảng 3.18. Đánh giá mức độ hài lòng của người nhà bệnh nhân

sau 3 tháng phẫu thuật (n=49)

Mức độ hài lòng



n



Tỷ lệ %



Rất hài lòng



46



93,9



Hài lòng



3



6,1



Khơng hài lòng



0



0



Tổng



49



100



Nhận xét: Chiếm tỷ lệ cao nhất là rất hài lòng với (93,9%), hài lòng

chiếm (6,1%), khơng có trường hợp nào khơng hài lòng.



Chương 4

BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 49 bệnh nhân ngủ ngáy có viêm V.A. và hoặc viêm

amiđan được phẫu thuật từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018, tại Khoa

Tai Mũi Họng - Mắt - Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

chúng tơi có một số kết quả sau:

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN

CÓ QUÁ PHÁT V.A. VÀ HOẶC AMIĐAN

4.1.1. Đặc điểm chung

4.1.1.1. Phân bố bệnh nhân theo giới

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới là 63,3%, lớn hơn

1,7 lần tỷ lệ nữ giới (biểu đồ 3.1). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp



47



với các nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước về ngủ ngáy ở bệnh nhân có

V.A. và hoặc amiđan quá phát.

Theo tác giả Huỳnh Ngọc Luận nghiên cứu về điều trị ngáy bằng phẫu

thuật chỉnh hình họng màn hầu của Hernandez, bệnh nhân nam chiếm 90,9%

[13]. Theo tác giả Nguyễn Trung Nghĩa, bệnh nhân nam cũng chiếm tỷ lệ cao

hơn với 67,1% [16].

Trong nghiên cứu về mối liên quan giữa triệu chứng ngủ ngáy và ngưng

thở khi ngủ với tình trạng rối loạn giấc ngủ và rối loạn hành vi ở trẻ 5 tuổi của

tác giả Gottlieb, D. J. và cộng sự, tỷ lệ trẻ nam chiếm 51,4% và nữ là 48,6%

[46]. Còn theo nghiên cứu của tác giả Bhattacharjee, R. về kết quả điều trị

ngưng thở khi ngủ của trẻ sau phẫu thuật cắt amiđan và nạo V.A., tỷ lệ bệnh

nam chiếm 61,4% [40].

Điều này là phù hợp với đặc điểm về giới tính của Việt Nam với số

lượng trẻ nam cao hơn trẻ nữ, vì thế chúng tơi cho rằng các bệnh lý về đường

hô hấp thường gặp ở trẻ em cũng sẽ có tỷ lệ bệnh gặp ở trẻ nam là nhiều hơn.

4.1.1.2. Phân bố bệnh nhân theo tuổi

Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi phân bố nhiều nhất ở nhóm

tuổi >6-11 (49%) (biểu đồ 3.2). Đây là nhóm tuổi trẻ đi học, tiếp xúc với mơi

trường bên ngồi nhiều do đó gặp các vấn đề về đường hô hấp là cao hơn so

với các độ tuổi bé hơn, sự viêm nhiễm V.A. và amiđan theo đó cũng nhiều và

gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn. Thêm vào đó viêm V.A. và viêm

amiđan là các bệnh lý mạn tính kéo dài, các triệu chứng tồn thân như ngủ

ngáy thể hiện rõ khi trẻ lớn hơn so với những trẻ chỉ mới mắc (là nhóm tuổi

>3-6, độ tuổi V.A và amiđan phát triển, hoạt động mạnh nhất).

Theo Mitchell R.B. và cộng sự trong nghiên cứu về sự khác biệt trước

và sau phẫu thuật cắt amiđan và nạo V.A. ở những trẻ có rối loạn ngưng thở

khi ngủ, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 6,3 trong số các trẻ có độ tuổi

từ 3 đến 14 [51].



48



Theo Bhattacharjee, R., độ tuổi trung bình của bệnh nhân ngủ ngáy trong

nghiên cứu của ông là 6,9± 3,8 [40].

Cũng trong các nghiên cứu về ngủ ngáy và ngưng thở khi ngủ của các

tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Lâm Huyền Trân, độ tuổi hay gặp là <6 tuổi

[23]. Theo Tang, A. và cộng sự cho kết quả độ tuổi trung bình là 5,9±4,4 [58].

4.1.1.3. Phân bố bệnh nhân theo địa dư

Chúng tôi chia thành 2 vùng dân cư, theo biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ mắc

bệnh ở thành thị cao hơn chiếm 52,5%.

Kết quả của chúng tôi là phù hợp với kết quả trong nghiên cứu về ngủ ngáy

của Huỳnh Ngọc Luận với tỷ lệ bệnh nhân ở thành thị chiếm tới 90,9% [13].

Theo chúng tôi, môi trường sống ở thành thị bị ơ nhiễm bởi khói bụi, chất

thải cơng nghiệp và các phương tiện giao thơng. Ngồi ra, người dân ở thành thị

có mức sống cao hơn, ý thức tốt trong việc dự phòng và điều trị. Nếu bệnh cần

phẫu thuật thì sẽ giải quyết sớm, tiếp cận được với các bác sĩ chuyên khoa. Họ

cũng quan tâm đến chất lượng cuộc sống và do đó vấn đề ngủ ngáy của trẻ cũng

được quan tâm nhiều hơn.

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân viêm V.A. và hoặc

viêm amiđan quá phát

4.1.2.1. Triệu chứng toàn thân khi vào viện

Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.1), bệnh nhân đến khám có ngủ

ngáy chiếm 100%. Những lý do khác là thở khụt khịt (98%), chán ăn (77,6%)..

Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn, Lâm Huyền Trân 85,1% bệnh nhân

có triệu chứng ngủ ngáy, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các triệu chứng toàn

thân của bệnh nhân, ngoài ra còn có các triệu chứng thở miệng chiếm 63,8%,

nói giọng mũi kín chiếm 59,6% [23].

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trung Nghĩa trong nghiên cứu về hiệu

quả của phẫu thuật cắt amiđan và nạo V.A., sốt tái phát chiếm tỷ lệ cao nhất

89%, ngay sau đó là ngủ ngáy với 63,4% [16].



49



Nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác cho thấy viêm V.A. và

viêm amiđan mạn tính gây sốt tái phát, ngủ ngáy… ảnh hưởng đến chất lượng

cuộc sống, sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, qua q trình thu thập số liệu chúng tôi

thấy đa số cha mẹ không quan sát và đánh giá được dấu hiệu cơn ngưng thở

khi ngủ, điều này do dân trí của chúng ta chưa cao, chỉ quan sát, chú ý được

những dấu hiệu dễ phát hiện như ngủ ngáy, chảy mũi, nghẹt mũi…

Hiện nay những trường hợp viêm V.A. và viêm amiđan quá phát gây hội

chứng ngưng thở khi ngủ tuy gặp với tần suất ít nhưng cũng được các nhà Tai

Mũi Họng quan tâm, cần chẩn đoán và điều trị sớm để phòng ngừa các biến

chứng về tinh thần và thể chất cho bệnh nhân.



50



4.1.2.2. Triệu chứng cơ năng trước phẫu thuật

Theo kết quả ở bảng 3.2, triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau họng

tái phát chiếm 67,3%, tiếp theo là chảy mũi (59,2%), nghẹt mũi và ho (49%).

Bệnh nhân được đưa đến khám, điều trị chủ yếu vì đau họng gây ảnh

hưởng đến cuộc sống và học tập và đây ln là triệu chứng chính của bệnh

lý viêm amiđan mạn tính. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đặng

Duy Nam (2015) với đau họng tái phát là 93,4% [15], của Nguyễn Trung

Nghĩa với 96,3% [16].

Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn, Lâm Huyền Trân có kết quả chảy

mũi tái phát 91,5%, nghẹt mũi 85,1% [23]. Theo nghiên cứu của Trần Văn

Khen cho kết quả nghẹt mũi là 97,5%, chảy mũi 48,7% [6].

Nghiên cứu của Bahadir, O. (2006), Thổ Nhĩ Kỳ (n = 60), trước phẫu thuật

thì tỷ lệ nghẹt mũi 91,6%, chảy mũi 75%, thở miệng 85%, ngáy 83% [37].

Tỷ lệ nghẹt mũi, chảy mũi của chúng tơi có khác so với các tác giả khác,

nhưng vẫn có điểm chung là chiếm tỷ lệ cao ở bệnh nhân viêm V.A. và viêm

amiđan. Sự khác biệt này là do các tác giả khác chỉ nghiên cứu trên những

bệnh nhân viêm V.A. mạn tính được điều trị nạo V.A. đơn lẻ, không kết hợp

cắt amiđan đồng thời.

Viêm amiđan mạn tính q phát làm tắc nghẽn đường hơ hấp trên cộng

với bệnh lý sùi vòm (V.A.), là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây

nên bệnh lý mũi xoang và tai giữa ở lứa tuổi trẻ em, cần phải phẫu thuật cắt

amiđan và nạo V.A. để tránh những biến chứng về sau cho trẻ.

4.1.2.3. Mức độ ngáy trước phẫu thuật

Trong số 49 bệnh nhân được nghiên cứu, theo bảng 3.3, chúng tôi

thấy rằng đa số bệnh nhân ngủ ngáy độ 2 chiếm 44,9%, ngủ ngáy độ 3

chiếm 32,7%.



51



Nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Luận đưa ra kết quả độ ngáy theo ESS với

54,5% độ 3 và 45,5% độ 4, khơng có bệnh nhân nào ngáy độ 1 và 2 [13].

Theo nghiên cứu của Hoàng Gia Thịnh về điều trị ngáy bằng phương

pháp chỉnh hình màn hầu thì cho kết quả 88,89% bệnh nhân có ngáy độ III

theo phân độ của Epworth [29].

Theo Lee Y.C. và cộng sự, kết quả về độ lớn của ngủ ngáy của bệnh

nhân theo VAS là 8 điểm, còn độ ngáy theo ESS là 11,5 điểm [50].

Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi độ ngáy là nhẹ hơn so với

các tác giả khác ở trong và ngồi nước, khi bệnh nhân của chúng tơi đa số là

ngủ ngáy ở mức độ nhẹ với độ 2 thì các tác giả khác cho ra kết quả chủ yếu

ngáy ở mức độ 3. Giải thích điều này, chúng tôi cho rằng bệnh nhân của

chúng tôi là trẻ em, nguyên nhân gây ra triệu chứng là do quá phát amiđan

và hoặc quá phát V.A.. Còn đối tượng trong các nghiên cứu khác bao gồm cả

trẻ em và người lớn, nguyên nhân gây ra ngủ ngáy không chỉ tại amiđan,

V.A. mà còn do sự phối hợp những nguyên nhân khác từ vùng mũi xoang,

hầu, thanh quản,…

Mức độ ngáy là vấn đề chính làm cho bệnh nhân phải đi điều trị và phẫu

thuật, bởi vì ngáy càng to thì mức độ âm thanh ảnh hưởng đến những người

xung quanh càng lớn, gây khó chịu, mất ngủ, dẫn đến mệt mỏi, kém tập trung,

ảnh hưởng đến công việc và chất lượng cuộc sống [13].Việc trẻ ngủ ngáy

không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển của trẻ, mà còn ảnh hưởng

đến chất lượng sống của cha mẹ và những người trong gia đình, vì vậy việc

điều trị ngủ ngáy cho trẻ ngày càng được quan tâm và được điều trị sớm.

3.1.2.4. Triệu chứng thực thể

Theo bảng 3.4, trong số 49 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tơi, có

16 bệnh nhân chỉ có V.A. quá phát, 20 bệnh nhân chỉ có amiđan q phát và

còn lại là có cả amiđan và V.A. quá phát.



52



Trong số 49 bệnh nhân có V.A. quá phát bao gồm có hoặc khơng có

amiđan q phát, chúng tôi thấy độ quá phát V.A. hay gặp nhất là độ 2 với

72,4% và độ 3 với 27,6%.

Kết quả của chúng tôi là tương tự với kết quả trong nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Trung Nghĩa, độ quá phát V.A. cao nhất là độ 2 chiếm 54,9%, độ

3 chiếm 36,6% [16]. Theo Trần Văn Khen, độ 3 chiếm tỷ lệ cao nhất với

62,2%, độ 4 chiếm 21,8% là cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi [6].

Theo tác giả Cassano P., V.A. quá phát độ 3 chiếm 64,3%, độ 2

chiếm 20,4% [42].

Như vậy trong đa số các nghiên cứu, độ V.A. quá phát hay gặp nhất là độ

2 và độ 3, cũng giống như kết quả mà chúng tôi thu nhận được.

Theo Cassano P. không nên phẫu thuật nạo V.A. đối với V.A. quá phát

độ 1, độ 2 vì triệu chứng chảy mũi có thể do liên quan tới dị ứng, viêm mũi

không do V.A. [42].Tuy nhiên, đa số các tài liệu và cơng trình nghiên cứu

đưa ra chỉ định nạo V.A. khi viêm V.A. tái đi tái lại nhiều lần trong năm (≥

4 lần/ năm), V.A. quá phát gây cản trở đường thở, V.A. gây biến chứng gần

và xa.

Về phân độ quá phát amiđan theo bảng 3.6 trong nghiên cứu, chúng tơi

nhận thấy trong 33 bệnh nhân có amiđan q phát có hoặc khơng kèm V.A

q phát, độ 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,5%, tiếp theo là độ 3 với 33,3%.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn cho kết quả amiđan quá

phát độ 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,4%, tiếp theo là độ 3 với 31,8% [24].

Theo Đặng Duy Nam, độ 2 chiếm 40%, độ 3 chiếm 38,5% [15].

Như vậy độ amiđan quá phát chủ yếu trong nghiên cứu của chúng tôi và

các nghiên cứu khác chủ yếu là độ 2, độ 3, tỷ lệ bệnh nhân có amiđan quá

phát độ 1 và độ 4 chiếm tỷ lệ thấp.



53



4.1.3. Khảo sát một số mối liên quan

4.1.3.1. Mối liên quan giữa mức độ ngáy và độ tuổi của bệnh nhân

Theo bảng 3.7, chúng tôi nhận thấy mức độ ngáy cao nhất là độ 2 và độ

3 gặp nhiều trong nhóm tuổi > 6-11 tuổi.

Ở trẻ em, ngủ ngáy thường do nguyên nhân bít tắc đường thở mà hay

gặp nhất là do sự quá phát của V.A. và amiđan, độ tuổi từ 3-6 là giai đoạn các

tổ chức bạch huyết đang phát triển và hoạt động mạnh mẽ nhưng đến độ tuổi

11-15 thì các tổ chức này bắt đầu teo dần. Theo Huỳnh Ngọc Luận, ngủ ngáy

có liên quan đến một số yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, uống rượu bia, viêm

mũi dị ứng hay yếu tố gia đình [13].Các yếu tố này có thể làm nặng thêm mức

độ ngủ ngáy mà sự phơi nhiễm ở mỗi bệnh nhân, mỗi gia đình ở từng độ tuổi

là khác nhau.

Theo Sahin U. (2009), tỷ lệ ngáy có xu hướng giảm theo độ tuổi có

nghĩa là bệnh nhân lớn hơn thì tỷ lệ ngáy ít hơn, do sự phát triển của vùng

họng thanh quản. Tuy nhiên tác giả này cũng chỉ ra rằng, khơng có mối liên

hệ giữa tuổi tác với thói quen ngủ ngáy hay mức độ ngáy [55].

4.1.3.2. Mối liên quan giữa mức độ ngáy theo nguyên nhân gây ngáy

Bảng 3.8 trong 13 trường hợp có cả V.A. và amiđan q phát thì mức

độ ngáy độ 3 chiếm tỷ lệ cao (53,8%), sau đó là mức độ ngáy độ 2 chiếm

(46,2%). Cho thấy bệnh nhân có cả V.A. và amiđan q phát thì độ ngáy cũng

lớn hơn so với bệnh nhân chỉ có một trong hai nguyên nhân.

Theo Kalampouka E. và cộng sự, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn trong

thời kì thơ ấu là một hội chứng rối loạn chức năng đường hô hấp trên trong

khi ngủ và ngáy là biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất. Nó đặc trưng bởi tắc

nghẽn một phần hay toàn bộ vùng hầu họng do sự mất cân đối giữa sức cản

đường thở, sự co thắt đường hô hấp, sự co giãn cơ vùng hầu họng và áp lực

vùng tiền đình thanh quản tạo ra bởi các cơ thanh âm. Một sự mất cân bằng

giữa các yếu tố cơ học có thể là kết quả của một hoặc nhiều rối loạn ảnh



54



hưởng đến các thành phần của đường hơ hấp trên như: phì đại amiđan, phì đại

V.A., béo phì, bất thường vùng sọ mặt, rối loạn thần kinh cơ hoặc bất thường

trong điều kiện thơng khí. Sự kết hợp của hai hay nhiều thành phần trên sẽ

làm trầm trọng thêm mức độ ngáy ở bệnh nhân [49].

4.1.3.3. Mối liên quan giữa mức độ ngáy ở bệnh nhân có V.A. quá phát và

độ quá phát V.A.

Theo bảng 3.9 chúng tôi thấy rằng mức độ ngáy độ 3 gặp nhiều ở bệnh

nhân có V.A. quá phát độ 3 chiếm (87,5%) và V.A. quá phát độ 2 chiếm

(14,3%). Bệnh nhân có V.A. q phát càng lớn thì độ ngáy sẽ càng lớn.

Theo Nguyễn Anh Tuấn và Lâm Huyền Trân, tỷ lệ V.A. quá phát qua

nội soi có mối liên quan đến triệu chứng ngủ ngáy, đặc điểm lâm sàng này nói

lên sự tắc nghẽn mũi và tương quan với mức độ quá phát V.A. qua nội soi

[23]. Nghiên cứu của Nguyễn Trung Nghĩa cũng cho thấy có mối liên quan

tương tự giữa độ quá phát V.A. với các triệu chứng lâm sàng trong đó có ngủ

ngáy [16]. Nghiên cứu của Balaban O. cũng chỉ ra rằng độ quá phát của V.A.

có liên quan đến ngưng thở khi ngủ [38].

4.1.3.4. Mối liên quan giữa mức độ ngáy ở bệnh nhân có amiđan quá phát

và độ quá phát amiđan

Theo bảng 3.10 mức độ ngáy độ 3 và độ 4 gặp nhiều ở bệnh nhân có

amiđan quá phát độ 3 và độ 4. Cho thấy amiđan quá phát càng lớn thì độ

ngáy càng lớn.

Theo nghiên cứu của Mitchell, R. B. [51] và Tang, A. [58], có mối

liên quan yếu giữa kích thước amiđan với triệu chứng ngưng thở khi ngủ

do tắc nghẽn.

Như vậy, chúng tôi đưa ra được kết luận rằng, triệu chứng ngủ ngáy ở

bệnh nhân ảnh hưởng bởi nguyên nhân gây ra sự tắc nghẽn đường thở, bởi

kích thước của V.A. và amiđan. Vì vậy để giải quyết vấn đề ngủ ngáy cần kết

hợp phẫu thuật nạo V.A. và cắt amiđan đồng thời.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Tất cả các triệu chứng cơ năng trên bệnh nhân đều cải thiện rõ rệt sau 3 tháng phẫu thuật. Đau họng tái phát giảm từ (67,3%) còn (12,2%); chảy mũi giảm từ (12,2%) còn (12,2%); ho từ (49,0%) còn (4,1%); nghẹt mũi từ (42,9%) còn (6,1%).

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×