Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Ứng dụng của xác suất trong khoa học

b. Ứng dụng của xác suất trong khoa học

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Trong sinh vật học: Lý thuyết xác suất được sử dụng rộng

rãi. Và hiện nay, di truyền học hiện đại đang tiếp tục sử dụng

rộng rãi các phương pháp xác suất để xác định được khả năng

xảy ra của các sự kiện như: xác suất sinh con trai hay con gái,

xác suất để sinh được con không mắc các bệnh như bố mẹ,…

- Trong vật lý phân tử, việc dùng phương pháp động lực học

để nghiên cứu các hệ rất nhiều phân tử là khơng thể. Thay vào

đó, người ta cần phải dùng phương pháp Thống kê – Xác suất.

- Trong kinh tế học, xác suất đóng góp rất nhiều cho việc

tính tốn và đưa ra các giải pháp nghiên cứu thị trường. Sự vận

dụng các phương pháp xác suất trong việc tổ chức và điều khiển

nền sản xuất đã mang lại cho nền kinh tế quốc dân nhiều lợi ích

rất to lớn. [7]

- Trong y học: “Xác suất làm cho ta hiểu rõ hơn về khả năng

xuất hiện của các hiện tượng ngẫu nhiên cũng như các quy luật

xác suất của chúng và nhờ đó giúp ta đánh giá đúng, phán đoán

đúng hơn về các hiện tượng ngẫu nhiên. Thống kê giúp xử lý số

liệu từ đó có thể so sánh và đánh giá đúng về hiệu quả chẩn

đốn và điều trị của các phương pháp, góp phần đưa ra các

khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị”. [3]

1.3. Dạy học yếu tố xác suất trong dự thảo chương trình

mới mơn Tốn ở tiểu học

1.3.1. Mục tiêu

- Góp phần hình thành và phát triển năng lực tốn học với

yêu cầu cần đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ

đơn giản; đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề

đơn giản; sử dụng ngơn ngữ tốn học kết hợp với ngơn ngữ

thơng thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung các

yếu tố xác suất ở những tình huống không quá phức tạp; sử

14



dụng được các công cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực

hiện các nhiệm vụ học tập liên quan đến yếu tố xác suất.

- Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu,

thiết yếu về yếu tố xác suất đơn giản, hiểu bản chất xác suất

trong thực tế. Trên cơ sở đó, giúp học sinh sử dụng các kiến thức

và kĩ năng này trong học tập và giải quyết các vấn đề gần gũi

trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày, đồng thời làm nền tảng

cho việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh.

- Phát triển hứng thú trong học tốn; góp phần hình thành

bước đầu các đức tính kỉ luật, chăm chỉ, kiên trì, chủ động, linh

hoạt, sáng tạo, thói quen tự học. [1]

1.3.2. Nội dung

Cùng với Thống kê, yếu tố xác suất là một thành phần bắt

buộc của dạy học mơn Tốn trong nhà trường, góp phần tăng

cường tính ứng dụng và giá trị thiết thực của dạy học toán học.

Ở tiểu học, các yếu tố xác suất đã được đưa vào trong chương

trình mơn Tốn lớp 2 cho đến lớp 5 nhằm cung cấp những kiến

thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về yếu tố

xác suất đơn giản giúp học sinh áp dụng những kiến thức và kĩ

năng đã học để giải quyết các vấn đề quen thuộc trong cuộc

sống.

Nội dung cụ thể các yếu tố xác suất và yêu cầu cần đạt ở các

lớp như sau: [2]



15



Bảng 1.1. Nội dung yếu tố xác suất ở tiểu học theo Dự thảo

chương trình mới mơn Tốn

NỘI DUNG



LỚ



U CẦU CẦN ĐẠT



Làm quen với các



P

2



- Tập làm quen với việc mô tả các



khả năng xảy ra một



hiện tượng thực tế liên quan tới các



sự kiện



thuật ngữ: có thể, chắc chắn, khơng

thể, hồn tồn khơng thể,... thơng

qua một vài thí nghiệm, trò chơi.

- Thực hiện được một số thí nghiệm

đơn giản về ngẫu nhiên (1 lần), so

sánh các kết quả để đưa ra những

kết luận đơn giản (ví dụ: Nhắm mắt

lấy bóng các màu xanh/đỏ từ một

3



hộp kín đựng bóng).

- Làm quen với các khả năng xảy ra

một sự kiện thông qua thực hiện

một vài trò chơi, thí nghiệm ngẫu

nhiên đơn giản (như tung đồng xu,

tung xúc xắc) rồi kiểm đếm số lần



4



lặp.

- Thông qua một vài thí nghiệm, trò

chơi thực hành đưa ra các dự đốn

và thử nghiệm để kiểm tra được dự

đốn đó trong một số thí nghiệm

xác suất đơn giản (tung đồng xu,



5



tung xúc xắc, ném tiêu,...).

- Biết cách sử dụng phân số để mô

tả xác suất của các sự kiện trong

các mơ hình xác suất đơn giản.



1.3.3. Đặc điểm cấu trúc nội dung

- Các kiến thức của yếu tố xác suất được đưa vào chương

trình phù hợp với trình độ học sinh tiểu học, bao gồm những

16



kiến thức đơn giản giúp các em tiếp cận và làm quen, tạo cở

ban đầu để học lên ở các cấp sau.

- Nội dung chương trình dược sắp xếp theo nguyên tắc phát

triển dần từ lớp 2 đến lớp 5, cụ thể:

Ở lớp 2 và 3, đây là giai đoạn học sinh bắt đầu với việc học

tập đúng nghĩa nên các kiến thức về yếu tố xác suất chỉ dừng lại

ở mức tập làm quen, làm quen với với các thuật ngữ: chắc chắn,

có thể, không thể và mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng các

thuật ngữ này thơng qua trò chơi và thực hiện được một số thí

nghiệm đơn giản.

Ở lớp 4 và 5, lúc kinh nghiệm học tập của các em nhiều

hơn, học sinh đã biết đưa ra các dự đoán và tiến hành nhiều thí

nghiệm để kiểm tra. Giai đoạn này, học sinh cũng bắt đầu làm

quen với việc tính tốn xác suất bằng việc dùng phân số để mô

tả xác suất trong các trường hợp đơn giản.

- Công tác thực hành toán học được chú trọng: học sinh

được làm nhiều thí nghiệm để rút ra kiến thức và áp dụng trong

các vấn đề thực tiễn.

1.4. Quá trình dạy học các yếu tố xác suất ở tiểu học

Trong chương trình mơn Toán ở tiểu học, nội dung về các

yếu tố xác suất được đưa vào một cách xuyên suốt từ lớp 2 đế

lớp 5. Cụ thể:

- Lớp 2: Đây là giai đoạn mà trình độ nhận thức và tư duy

của học sinh còn kém. Do đó, lúc này học sinh mới chỉ chỉ được

làm quen với các kiến thức sơ giản về yếu tố xác suất, đó là các

thuật ngữ: “chắc chắn, có thể, khơng thể” để mơ tả khả năng

xảy ra của một sự kiện.

Ngồi ra, học sinh còn được tiếp cận với các yếu tố xác suất

thông qua việc thực hiện cách thí nghiệm nhưng chỉ một lần (ví

dụ: Nhắm mắt lấy bóng các màu xanh/ đỏ trong hộp kín). Từ đó

17



so sánh các kết quả và đưa ra các kết luận đơn giản như: màu

bóng nào có khả năng được lấy ra cao hơn.

- Lớp 3: Học sinh tiếp tục được thực hiện các thí nghiệm về

xác suất (như tung đồng xu, tung xúc sắc,…) nhưng với nhiều

lần hơn và rút ra được các kết luận đơn giản như: khả năng xuất

hiện mặt sấp hoặc mặt ngửa khi tung đồng xu, hay khả năng

xuất hiện số chấm trong mỗi mặt khi tung xúc sắc.

- Lớp 4: Đây là giai đoạn học sinh có trình độ nhận thức và

tư duy cao hơn, kinh nghiệm đạt được của các em nhiều hơn. Do

đó, học sinh bắt đầu đưa ra các dự đoán đối với khả năng xảy ra

của một sự kiện và tiến hành thử nghiệm để kiểm tra các dự

đốn của mình thơng qua các thí ngiệm đơn giản (ném tiêu,

tung đồng xu, tung xúc xắc,...).

- Lớp 5: Giai đoạn này học sinh đã có các kiến thức về phân

số. Do đó, đối với nội dung các yếu tố xác suất ở lớp 5, học sinh

đã được học cách sử dụng phân số để mô tả xác suất của các sự

kiện trong các mơ hình xác suất đơn giản.

1.5. Thực trạng nhận thức của giáo viên về dạy học yếu tố

xác suất ở lớp 2 và 3

Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên đối với việc dạy học

yếu tố xác suất ở lớp hai và ba, chúng tôi đã đưa ra một số câu

hỏi nhằm thu thập ý kiến của các giáo viên khối lớp 2 và 3

trường Tiểu học Vỹ Dạ, thành phố Huế.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 11 giáo viên hai khối

lớp 2 và 3 với phiếu khảo sát gồm 6 câu hỏi nhằm thu thập ý

kiến của các giáo viên về vai trò, tầm quan trọng, nội dung, thời

lượng tổ chức và những thuận lợi, khó khăn mà giáo viên có thể

gặp phải khi dạy học yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3. Qua quá trình

khảo sát và xử lý số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

18



Bảng 1.2. Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên về dạy học

yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 Trường tiểu học Vỹ Dạ



NỘI DUNG

1. Việc dạy học các yếu tố xác suất

ở các lớp 2 và 3 là quan trọng.



Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)

1

2

3

4

5



(GV)

0

0

0

0

11



(%)

0

0

0

0

100



Có 100% giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của

việc dạy học các yếu tố xác suất ở lớp hai và 3. Đây là yếu tố

ban đầu giúp cho việc triển khai dạy học các yếu tố Xác suất

cho học sinh được thuận lợi hơn.



19



Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



2.1. Giúp học sinh bước đầu làm



1



0



0



quen với các yếu tố xác suất đơn



2



0



0



giản trong các tình huống gần



3



0



0



gũi với thực tế.



4



0



0



5



11



100



2.2. Làm giàu thêm vốn tri thức



1



0



0



của học sinh, giúp học các em



2



0



0



phát triển các kĩ năng suy luận,



3



0



0



phân tích, tổng hợp.



4



0



0



5



11



100



2.3. Giúp học sinh có cơ hội vận



1



0



0



dụng các kiến thức đã học để



2



0



0



giải quyết các vấn đề liên quan



3



0



0



đến yếu tố xác suất trong cuộc



4



0



0



5



11



100



2.4. Tạo được sự hứng thú, tích



1



0



0



cực trong hoạt động học tập của



2



0



0



học sinh thơng qua các trò chơi,



3



0



0



thí nghiệm xác suất đơn giản.



4



0



0



5



11



100



NỘI DUNG

2. Việc dạy học các yếu tố xác suất

ở các lớp 2 và 3 theo định hướng

phát triển năng lực có vai trò:



sống.



Về vai trò của việc dạy học các yếu tố xác suất theo định

hướng phát triển năng lực, 100% giáo viên đều hoàn toàn đồng

ý rằng dạy học các yếu tố xác suất sẽ giúp học sinh bước đầu

làm quen với các yếu tố xác suất đơn giản trong các tình huống

20



gần gũi với thực tế; làm giàu thêm vốn tri thức của học sinh,

giúp học các em phát triển các kĩ năng suy luận, phân tích, tổng

hợp,… Việc giáo viên nhận thức được vai trò của dạy học yếu tố

xác suất với học sinh sẽ giúp cho quá trình dạy học yếu tố xác

suất đạt hiệu quả tốt hơn.

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



3. Thầy (cô) đồng tình với các nội



1



0



0



dung dạy học các yếu tố xác suất ở



2



0



0



lớp 2 và 3 trong dự thảo chương



3



0



0



trình mới mơn Tốn ở tiểu học (được



4



0



0



Bộ giáo dục ban hành 19/1/2018).



5



11



100



NỘI DUNG



Với nội dung dạy học các yếu tố xác suất ở lớp hai và ba, có

100% giáo viên đều hoàn toàn đồng ý với nội dung mà Bộ giáo

dục đã ban hành trong Dự thảo chương trình mới mơn Tốn ở

tiểu học (19/1/2018).

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



4. Thầy (cơ) đồng tình với thời lượng



1



0



0



nội dung các yếu tố xác suất ở lớp 2



2



0



0



và 3 là: chiếm từ 3% đến 5% thời



3



0



0



lượng chương trình mơn Tốn ở tiểu



4



0



0



học (khoảng từ 5 – 8 tiết).



5



11



100



NỘI DUNG



100% giáo viên hoàn toàn đồng ý với thời lượng nội dung

chiếm từ 3% đến 5% thời lượng chương trình được quy định

21



trong Dự thảo chương trình mới mơn Tốn ở tiểu học do Bộ giáo

dục ban hành (19/1/2018).

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



5.1. Có trình độ chun mơn



1



0



0



cao, nghiệp vụ sư phạm vững



2



0



0



vàng.



3



0



0



4



0



0



5



11



100



5.2. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy



1



0



0



học đầy đủ.



2



0



0



3



0



0



4



0



0



5



11



100



NỘI DUNG

5. Thầy (cơ) có thuận lợi gì trong

dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2

và 3 theo định hướng phát triển

năng lực?



Về các yếu tố thuận lợi đối với việc dạy học các yếu tố xác

suất ở lớp 2 và 3, có 100% giáo viên đều cảm thấy mình có trình

độ chun mơn cao, nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Bên cạnh

đó, trường tiểu học Vỹ Dạ là ngơi trường có cơ sở vật chất đầy

đủ và hiện đại, do đó 100% giáo viên đều nhận thấy đây là một

yếu tố thuận lợi để triển khai dạy học các yếu tố xác suất có

hiệu quả. Trên đây là những yếu tố thuận lợi giúp cho việc dạy

học các yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 theo định hướng phát triển

năng lực đạt được hiệu quả cao.



22



NỘI DUNG



Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



6. Trong dạy học các yếu tố Xác suất

ở lớp 2 và 3 theo định hướng phát

triển năng lực, thầy (cơ) gặp những

khó khăn gì?

6.1. Đây là nội dung hồn tồn



1

0

0

2

0

0

mới, giáo viên chưa có nhiều

3

0

0

kinh nghiệm trong việc dạy nội

4

0

0

dung này.

5

11

100

6.2. Mất nhiều thời gian để chuẩn bị

1

0

0

2

0

0

bài học.

3

0

0

4

0

0

5

11

100

Việc dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 theo định



hướng phát triển năng lực cũng gặp một số khó khăn. Cụ thể,

100% đều nhận thấy đây là nội dung hoàn toàn mới nên giáo

viên chưa có nhiều kinh nghiệm và sẽ mất khá nhiều thời gian

để thiết kế các hoạt động cho bài học.

1.6. Đặc điểm nhận thức và tư duy của học sinh lớp 2 và

3

Học sinh tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 – 11, 12 tuổi. Trong đó,

học sinh lớp 2 và 3 thường là 7 – 8 tuổi. Đây là lứa tuổi mà các em thực hiện

bước chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt

động chủ đạo. Đây là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó,

hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển

tâm lí của học sinh tiểu học.

Học sinh lớp 2, 3 khác với học sinh lớp 1 là các em khơng còn bỡ ngỡ với

hoạt động học tập và cuộc sống nhà trường. Ở lớp 2, hoạt động học tập được

hình thành tương đối rõ rệt, ở các em đã xuất hiện một số phẩm chất, một số đặc

23



điểm tâm lý mới. Đến lớp 3, về cơ bản hoạt động học đã được hình thành ở học

sinh, tạo điều kiện cho các em chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn.

Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 2 và 3 cụ thể như sau:

1.6.1. Tri giác

Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngồi

của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta.

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi

tiết và mang tính khơng ổn định. Nét đặc trưng của tri giác là

tính ít phân hóa của nó, các em phân biệt đối tượng giống nhau

còn sai lầm và chưa chính xác, chưa phân biệt được các khái

niệm. Khi tri giác, sự phân tích có định hướng, có tổ chức và sâu

sắc của học sinh còn yếu. Học sinh tiểu học có thể tri giác đúng

độ lớn của một vật thông thường, còn đối với vật q to hoặc

q nhỏ thì các em chưa tri giác được. Tri giác về thời gian phát

triển chậm hơn tri giác không gian.

Với học sinh lớp 2 và 3, tri giác thường gắn với hành động

trực quan. Các em dễ tri giác những sự vật, hiện tượng mà các

em gặp trực tiếp trong cuộc sống và hoạt động thực tiễn của

mình hoặc những cái gì mà giáo viên đặc biệt chỉ dẫn, nhấn

mạnh.

Nhờ hoạt động học tập, hoạt động tri giác của học sinh được

tổ chức và phát triển ngày càng cao dần. Trong quá trình dạy

học, giáo viên nên tổ chức các hoạt động học tập bằng các sự

kiện với những sự vật và hiện tượng gần gũi với cuộc sống của

học sinh để hoạt động tri giác của các em đạt được hiệu quả cao.

[4]

1.6.2. Tư duy

Tư duy là q trình tâm lí, phản ánh các dấu hiệu, các mối liên hệ và các

quan hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng khách quan.

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Ứng dụng của xác suất trong khoa học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×