Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. THỰC NGIỆM SƯ PHẠM

CHƯƠNG 3. THỰC NGIỆM SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.1. Mục đích thực nghiệm

- Đánh giá, kiểm chứng lại tính hiệu quả của các hoạt động

dạy học yếu tố xác suất ở lớp hai và ba đã đề xuất.

- Đánh giá, kiểm chứng mức độ khả thi của đề tài nghiên

cứu và giúp cho chúng tôi sử dụng các hoạt động dạy học này

trong dạy học Tốn có chứa yếu tố xác suất được hiệu quả.

- Có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản

thân, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học mơn

Tốn nói chung và các yếu tố xác suất ở tiểu học nói riêng.

3.2. Nội dung thực nghiệm

Chúng tơi đã tiến hành xây dựng các hoạt động dạy học và

kế hoạch dạy học về dạy học tính chắc chắn và khơng chắc

chắn của một sự kiện; dạy học thực hành thí nghiệm về khả

năng xảy ra của một số sự kiện và thực nghiệm trên 2 đối

tượng: giáo viên và học sinh. (kế hoạch dạy học xem ở phụ lục

4)

- Về phía giáo viên: chúng tơi đã tiến hành khảo sát, thu

thập ý kiến của 11 giáo viên của hai khối 2 và 3 về mức độ phù

hợp của các hoạt động dạy học và nội dung dạy học tính chắc

chắn và không chắc chắn của một sự kiện; dạy học thực hành

thí nghiệm về khả năng xảy ra của một số sự kiện.

- Về phía học sinh: chúng tơi đã tiến hành dạy học 2 tiết ở

lớp 2 và 3. Cụ thể, ở lớp 2 chúng tôi đã tiến hành dạy học về

tính chắc chắn và khơng chắc của một sự kiện. Ở lớp 3, chúng

tôi dạy học thực hành thí nghiệm về khả năng xảy ra của một sự

kiện (cụ thể là thí nghiệm tung đồng xu).

Sau 2 tiết dạy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhằm thu

thập ý kiến học sinh sau tiết dạy (nội dung phiếu khảo sát xem ở

phần phụ lục).

43



3.3. Phương pháp thực nghiệm

Nhằm thu được những kết quả chính xác, chúng tơi đã sử

dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát.

- Phương pháp xử lí thơng tin

- Phương pháp tổng kết kinh ngiệm

3.4. Tổ chức thực nghiệm

Để việc thực nghiệm đạt kết quả, đánh giá đúng tính khả thi

của đề tài, chúng tôi đã chuẩn bị rất chu đáo khi tiến hành thực

nghiệm. Bao gồm:

- Xây dựng các hoạt động dạy học yếu tố xác suất, gồm: dạy

học tính chắc chắn và không chắc chắn của một sự kiện; dạy

học thực hành thí nghiệm về khả năng xảy ra của một số sự

kiện.

- Xây dựng hai kế hoạch bài học cho hai bài về dạy học tính

chắc chắn và khơng chắc chắn của một sự kiện; dạy học thực

hành thí nghiệm về khả năng xảy ra của một số sự kiện.

- Phát phiếu khảo sát cho 11 giáo viên ở hai khối lớp 2 và 3.

Yêu cầu giáo viên đánh giá theo mức độ phù hợp của các hoạt

động dạy học và nội dung dạy học. Sau khi giáo viên đã hồn

thành phiếu đánh giá, chúng tơi thu lại và xử lí kết quả.

- Phát phiếu khảo sát cho 70 học sinh hai lớp 2/3 và lớp 3/3.

Yêu cầu học sinh đưa ra ý kiến của mình về sự hứng thú đối với

tiết học, tính vừa sức của các bài tập theo các mức độ. Sau khi

học sinh hoàn thành phiếu đánh giá, chúng tơi thu lại và xử lí

kết quả.

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.5.1. Đối với học sinh

Ở lớp 2, trong q trình dạy học bài về tính chắc chắn và

không chắc chắn của một sự kiện, chúng tôi nhận thấy rằng đa

44



số các học sinh đều cảm thấy hào hứng, tích cực khi được tự

mình tham gia các hoạt động học tập để rút ra kiến thức. Bên

cạnh đó, cũng có một số học sinh còn rút rè, ít tham gia. Với các

học sinh này, chúng tôi luôn động viên, khuyến khích nên các

em cũng đã mạnh dạn và cùng tham gia với các bạn. Đây là

điều kiện thuận lợi để triển khai dạy học các yếu tố xác suất sau

này.

Ngoài ra, qua sử dụng 2 phiếu học tập với nội dung khác

nhau trong quá trình dạy học, chúng tôi đã tiến hành điều tra,

khảo sát trên 32 học sinh ở lớp 2/3 và thu được kết quả trong

bảng số liệu sau:

Bảng 3.1. Kết quả khảo sát qua 3 mẫu phiếu bài tập ở lớp 2/3

Mẫu phiếu 1

Mức độ



Mẫu phiếu 2



Số lượng



Tỉ lệ



Số lượng



Tỉ lệ



(HS)



(%)



(HS)



(%)



30



100



28



87,5



0



0



4



12,5



Hồn thành

Khơng hồn

thành



Đối với bài tập ở mẫu phiếu số 1 theo đánh giá của giáo

viên là vừa sức với học sinh, bài tập này đòi hỏi học sinh phải

huy động những hiểu biết đơn giản trong cuộc sống để giải

quyết. Qua mẫu phiếu số 1, khảo sát trên 32 học sinh của lớp

2/3 trường tiểu học Vỹ Dạ, tơi nhận thấy rằng có 100% học sinh

đều làm bài đúng, điều này cho thấy rằng bài tập này là dễ và

vừa sức với học sinh.



45



Hình 3.1. Bài làm của em Nguyễn Bảo Khanh – Lớp 2/3



Với bài tập ở mẫu phiếu số 2, có 87,5% học sinh đã hoàn

thành đúng và 12,5% học sinh chưa hồn thành bài tập. Bài tập

này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học để

giải quyết các tình huống gắn với thực tiễn, do đó những kiến

thức mới học làm cho một số học sinh còn chưa nhớ dẫn đến

làm bài sai.



46



Hình 3.2. Bài làm của em Trần Thị Thảo Nguyên – Lớp 2/3



Ở lớp 3, chúng tôi sử dụng 1 phiếu học tập dùng để ghi kết

quả khi tiến hành thí nghiệm tung đồng xu rồi kiểm đếm số lần

lặp. Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát trên 38 (chia

thành 8 nhóm) và thu được kết quả trong bảng số liệu sau:

Bảng 3.2. Kết quả khảo sát qua mẫu phiếu bài tập ở lớp 3/3

Số lượng



Tỉ lệ



(HS)



(%)



Hồn thành



38



100



Khơng hồn thành



0



0



Mức độ



Qua khảo sát, chúng tơi nhận thấy 100% học sinh đều có

thể tiến hành được thí nghiệm. Điều này cho thấy rằng, thí

nghiệm tung đồng xu rồi kiểm đếm số lần lặp là đơn giản và

hồn tồn phù hợp với trình độ của học sinh lớp 3.



47



Hình 3.3. Bài làm của nhóm học sinh lớp 3/3



Hình 3.4. Bài làm của nhóm học sinh lớp 3/3



Trong quá trình dạy học một tiết ở lớp 3/3, chúng tôi nhận

thấy tất cả các học sinh ở các nhóm đều hứng thú với việc tự

mình thực hiện thí nghiệm để rút ra kiến thức mới. Đây là điều

48



kiện rất thuận lợi và cần thiết để dạy học các các yếu tố xác

suất sau này.

Sau khi hoàn thành 2 tiết dạy, chúng tôi đã tiến hành phát

phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của học sinh về mức độ

hứng thú cũng như tính vừa sức của các bài tập. Chúng tôi đã

điều tra, khảo sát trên 70 học sinh của hai lớp 2/3 và 3/3 và thu

được kết quả như sau:

Bảng 3.3. Kết quả khảo sát tính hứng thú và tính vừa sức đối

với học sinh ở lớp 2/3 và 3/3

Câu hỏi



Đáp án



1. Em có cảm thấy hứng thú khi được được Rất hứng thú

học về yếu tố xác suất khơng?

Hứng thú

Ít hứng thú

Khơng hứng thú

2. Em thấy việc học nội dung về yếu tố xác Rất khó

Khó

suất có khó khơng?

Bình thường



Số lượng



Tỉ lệ



(HS)

18



(%)

25,7

1

67,1

4

7,15

0

0

17,1

4

52,8

6

30

65,7

1

34,2

9

0

100

0



47

5

0

0

12

37



Dễ

3. Em có giải quyết được nhiều bài tập về Tất cả các bài

yếu tố xác suất khơng?

Một số bài



21

46



Khơng có bài nào

4. Em muốn có thêm nhiều tiết học về yếu Có

Khơng

tố xác suất khơng?



0

70

0



24



Kết quả khảo sát có 92,85% học sinh rất hứng thú và hứng

thú, 7,15% học sinh ít hứng thú và khơng có học sinh nào cảm

thấy khơng hứng thú. Qua kết quả này có thể thấy rằng đa số

học sinh đều cảm thấy hứng thú với việc học về yếu tố xác suất.

49



Đây là yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định kết quả của

quá trình dạy học. Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh cảm thấy

ít hứng thú, có thể vì đây là nội dung hồn tồn mới nên học

sinh còn bỡ ngỡ, chưa quen.

3.5.2. Đối với giáo viên

Qua sử dụng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của giáo

viên về mức độ hợp lý của các hoạt động dạy học và tính vừa

sức của nội dung dạy học tính chắc chắn và khơng chắc chắn

của một sự kiện, dạy học thực hành thí nghiệm về khả năng xảy

ra của một số sự kiện ở lớp 2 và 3, chúng tôi đã tiến hành điều

tra, khảo sát trên 11 giáo viên khối lớp 2 và 3. Kết quả thu được

trong bảng sau:

Bảng 3.4. Kết quả khảo sát đối với giáo viên lớp 2 và 3 ở trường

tiểu học Vỹ Dạ



NỘI DUNG

1. Các hoạt động dạy học tính chắc chắn và

khơng chắc chắn của một sự kiện (ở lớp 2) là

phù hợp.



2. Nội dung dạy học cho bài tính chắc

chắn và khơng chắc chắn của một sự kiện (ở

lớp 2) vừa sức với học sinh.



3. Các hoạt động dạy học thực hành thí nghiệm

50



Mức độ

đồng ý

(%)



Số

lượng



1



9



2



2



3



0



81,8

2

18,1

8

0



4



0



0



5



0



0



1

2

3

4

5

1

2



11

0

0

0

0

11

0



100

0

0

0

0

100

0



(HS)



Tỉ lệ

(%)



về khả năng xảy ra một số sự kiện (ở lớp 3)

là phù hợp.



4. Thí nghiệm tung đồng xu 30 lần

(ở lớp 3) đơn giản, phù hợp với trình

độ của học sinh.



3

4

5

1

2

3

4

5



0

0

0

11

0

0

0

0



0

0

0

0

0

0

0

0



Đối với các hoạt động dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2,

có 81,82% giáo viên hoàn toàn đồng ý và 18,18% chưa hoàn

toàn đồng ý. Theo các giáo viên, các hoạt động dạy học nên

được trình bày cụ thể hơn theo các bước.

Về nội dung dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2, có 100%

giáo viên đều cho rằng nội dung phù hợp trình độ của học sinh

lớp 2. Tuy nhiên, các giáo viên cũng có góp ý đó là ngơn ngữ sử

dụng trong các bài tập nên ngắn gọn hơn.

Với các hoạt động và nội dung dạy học các yếu tố xác suất

ở lớp 3, 100% đều cho rằng quy trình dạy học phù hợp, thí

nghiệm tung đồng xu là đơn giản, vừa sức với học sinh.

3.6. Nhận xét

Qua quá trình thực nghiệm ở trường Tiểu học Vỹ Dạ Thành phố Huế, chúng tôi nhận thấy hầu hết các học sinh lớp 2

và 3 đều cảm thấy hứng thú và tích cực đối với việc học về các

yếu tố xác suất. Nhờ việc học tập bằng cách tự mình tham gia

các hoạt động học tập và rút ra kiến thức nên các em hiểu bài,

nhớ bài lâu hơn. Do đó, các bài tập được đa số học sinh hồn

thành tốt, chỉ có một vài em chưa hoàn thành, tuy nhiên những

trường hợp này rơi vào các học sinh yếu của lớp, chiếm số lượng

khơng đáng kể.



51



Ngồi ra, thơng qua q trình thực nghiệm này, chúng tôi

cũng thấy được một số thuận lợi và khó khăn khi tiến hành dạy

học các yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3. Từ đó tiếp tục khai thác

các thuận lợi và đưa ra biện pháp nhằm khắc phục những khó

khăn để việc dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 đạt hiệu

quả cao hơn.

Như vậy, quá trình thực nghiệm ở trường Tiểu học Vỹ Dạ

đã giúp chúng tôi kiểm nghiệm lại tính hiệu quả, tính phù hợp và

tính vừa sức của các hoạt động và nội dung dạy học yếu tố xác

suất ở lớp 2 và 3. Qua đây, chúng tôi cũng đã thu được cho mình

nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân về sau.



52



KẾT LUẬN

Mơn Tốn ở tiểu học là một mơn học hết sức quan trọng và

đóng vai trò to lớn đối với học sinh, làm nền tảng cho học sinh

học lên ở các cấp tiếp theo. Dạy học Tốn khơng chỉ nhằm cung

cấp cho học sinh những kiến thức mà quan trọng hơn, phải góp

phần hình thành và phát triển các năng lực tốn học



cụ thể.



Trong đó, mảng kiến thức về các yếu tố xác suất là quan trọng,

có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tiễn, do đó việc dạy học

các yếu tố xác suất ở lớp hai và ba giúp cho học sinh tiếp cận,

làm quen là rất cần thiết. Để việc dạy học yếu tố xác suất ở lớp

hai và ba theo định hướng phát triển năng lực đạt hiệu quả cao

và góp phần hình thành và phát triển năng lực học sinh, cần xây

dựng các hoạt động dạy học khoa học và phù hợp với trình độ

nhận thức và tư duy của học sinh. Trong các hoạt động dạy học

này, giáo viên cần cho học sinh tham gia để tự mình rút ra kiến

thức. Từ đó, tạo cho học sinh sự hứng thú, tích cực, dễ hiểu và

nắm kiến thức lâu hơn.

Qua nghiên cứu đề tài “Dạy học yếu tố xác suất ở lớp hai và

ba theo định hướng phát triển năng lực”, chúng tơi đã đi sâu vào

tìm hiểu lí luận về yếu tố xác suất, sau đó xây dựng các hoạt

động dạy học và tiến hành khảo sát trên đối tượng học sinh lớp

2 và 3.

Như vậy, thông qua đề tài, chúng tơi hy vọng nó có thể giúp

ích cho sinh viên khoa Giáo dục tiểu học cũng như các bạn đọc

quan tâm hiểu rõ hơn, hứng thú hơn với mảng kiến thức về các

yếu tố xác suất. Chúng tôi hy vọng, các hoạt động dạy học mà

chúng tôi xây dựng sẽ góp phần phục vụ cho giáo viên áp dụng

vào việc dạy học yếu tố xác suất ở lớp hai và ba. Bên cạnh đó,

đề tài cũng giúp tơi có thêm nhiều kiến thức cần thiết về chuyên

môn, nghiệp vụ và rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân.

53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. THỰC NGIỆM SƯ PHẠM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×