Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Từ các dấu hiệu đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu dạy học các yếu tố xác suất theo định hướng phát triển năng lực như sau:

Từ các dấu hiệu đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu dạy học các yếu tố xác suất theo định hướng phát triển năng lực như sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

chắn, có thể, khơng thể” giáo viên có thể tổ chức dạy học như

sau:

 Để học sinh nắm hai thuật ngữ: chắc chắn và không thể

giáo viên làm như sau:

- Đưa ra tình huống: nếu thả miếng xốp vào chậu nước thì

điều gì sẽ xảy ra? Và yêu cầu học sinh dự đốn kết quả. Sau đó

mời học sinh lên thực hiện thí nghiệm để kiểm tra dự đốn.

- Giáo viên đặt thêm một số câu hỏi:

 Khi thả miếng xốp vào chậu nước thì miếng xốp có chắc

chắn nổi trên mặt nước khơng?

 Mặt trời có chắc chắn mọc ở phía Đơng khơng?

 Cho tay vào một chậu nước có nhiều đá lạnh thì có chắn

chắn cảm thấy lạnh không?

 Liệu khi thả một miếng xốp vào chậu nước thì miếng xốp

có bị chìm xuống mặt nước khơng?

 Một con hổ có thể sinh ra một con mèo khơng?

 Lồi rùa có thể bay khơng

 Để học sinh nắm thuật ngữ “có thể”, giáo viên thực hiện

như sau:

- Nêu tình huống: “Nếu trời có mây đen thì điều gì sẽ xảy

ra?” và yêu cầu học sinh nêu kết quả tình huống đó.

- Giáo viên u cầu học sinh mơ tả lại các sự kiện trên bằng

thuật ngữ “có thể”: trời có mây đen thì có thể sẽ mưa.

- Giáo viên nêu thêm một số sự kiện như: Có phải tất cả phụ

nữ đều sinh đôi không?

Như vậy, thông qua các hoạt mà học sinh tự mình tham gia, các

em đã biết được các thuật ngữ để mô tả khả năng xảy ra của một

sự kiện. Qua hoạt động này, giáo viên đã góp phần hình thành cho

học sinh năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn.

12



1.2. Vai trò của yếu tố xác suất

Yếu tố xác suất đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng

ngày của con người và là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho các nhà

nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nhau.

a. Ứng dụng của yếu tố xác suất trong đời sống

- Ảnh hưởng chính của lý thuyết xác suất trong cuộc sống

hằng ngày đó là việc xác định rủi ro trong kinh doanh. Các nhà

kinh tế cùng với các nhà Toán học đã cố gắng sử dụng các

công cụ của lý thuyết xác suất giúp các nhà đầu tư đưa ra các

quyết định sao cho có thể đạt được lợi nhuận tối đa và tối

thiểu các rủi ro.

- Chính phủ áp dụng các phương pháp xác suất để điều tiết

môi trường hay còn gọi là phân tích đường lối.

- Lý thuyết trò chơi cũng dựa trên nền tảng xác suất.

- Một ứng dụng khác là trong xác định độ tin cậy. Nhiều sản

phẩm tiêu dùng như xe hơi, đồ điện tử sử dụng lý thuyết độ tin

cậy trong thiết kế sản phẩm để giảm thiểu xác suất hỏng hóc.

Xác suất hư hỏng cũng gắn liền với sự bảo hành của sản phẩm.

[12]

- Xác suất còn có rất nhiều ứng dụng thực tiễn khác, ví

như: dự báo thời tiết, ước lượng tỷ lệ bầu cử, ước lượng chiều

cao trung bình, năng suất trung bình,…

b. Ứng dụng của xác suất trong khoa học

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,

nhu cầu hiểu biết và sử dụng các công cụ ngẫu nhiên trong

phân tích và xử lí thơng tin ngày càng trở nên đặc biệt cần thiết.

Các kiến thức và phương pháp của xác suất đã hỗ trợ hữu hiệu

cho các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác

nhau, trong đó có thể thấy rõ nhất trong sinh học, vật lý học, y

học và kinh tế học.

13



- Trong sinh vật học: Lý thuyết xác suất được sử dụng rộng

rãi. Và hiện nay, di truyền học hiện đại đang tiếp tục sử dụng

rộng rãi các phương pháp xác suất để xác định được khả năng

xảy ra của các sự kiện như: xác suất sinh con trai hay con gái,

xác suất để sinh được con không mắc các bệnh như bố mẹ,…

- Trong vật lý phân tử, việc dùng phương pháp động lực học

để nghiên cứu các hệ rất nhiều phân tử là khơng thể. Thay vào

đó, người ta cần phải dùng phương pháp Thống kê – Xác suất.

- Trong kinh tế học, xác suất đóng góp rất nhiều cho việc

tính toán và đưa ra các giải pháp nghiên cứu thị trường. Sự vận

dụng các phương pháp xác suất trong việc tổ chức và điều khiển

nền sản xuất đã mang lại cho nền kinh tế quốc dân nhiều lợi ích

rất to lớn. [7]

- Trong y học: “Xác suất làm cho ta hiểu rõ hơn về khả năng

xuất hiện của các hiện tượng ngẫu nhiên cũng như các quy luật

xác suất của chúng và nhờ đó giúp ta đánh giá đúng, phán đoán

đúng hơn về các hiện tượng ngẫu nhiên. Thống kê giúp xử lý số

liệu từ đó có thể so sánh và đánh giá đúng về hiệu quả chẩn

đoán và điều trị của các phương pháp, góp phần đưa ra các

khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị”. [3]

1.3. Dạy học yếu tố xác suất trong dự thảo chương trình

mới mơn Tốn ở tiểu học

1.3.1. Mục tiêu

- Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với

yêu cầu cần đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ

đơn giản; đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề

đơn giản; sử dụng ngôn ngữ tốn học kết hợp với ngơn ngữ

thơng thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung các

yếu tố xác suất ở những tình huống khơng q phức tạp; sử

14



dụng được các cơng cụ, phương tiện học tốn đơn giản để thực

hiện các nhiệm vụ học tập liên quan đến yếu tố xác suất.

- Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu,

thiết yếu về yếu tố xác suất đơn giản, hiểu bản chất xác suất

trong thực tế. Trên cơ sở đó, giúp học sinh sử dụng các kiến thức

và kĩ năng này trong học tập và giải quyết các vấn đề gần gũi

trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày, đồng thời làm nền tảng

cho việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh.

- Phát triển hứng thú trong học tốn; góp phần hình thành

bước đầu các đức tính kỉ luật, chăm chỉ, kiên trì, chủ động, linh

hoạt, sáng tạo, thói quen tự học. [1]

1.3.2. Nội dung

Cùng với Thống kê, yếu tố xác suất là một thành phần bắt

buộc của dạy học mơn Tốn trong nhà trường, góp phần tăng

cường tính ứng dụng và giá trị thiết thực của dạy học toán học.

Ở tiểu học, các yếu tố xác suất đã được đưa vào trong chương

trình mơn Tốn lớp 2 cho đến lớp 5 nhằm cung cấp những kiến

thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về yếu tố

xác suất đơn giản giúp học sinh áp dụng những kiến thức và kĩ

năng đã học để giải quyết các vấn đề quen thuộc trong cuộc

sống.

Nội dung cụ thể các yếu tố xác suất và yêu cầu cần đạt ở các

lớp như sau: [2]



15



Bảng 1.1. Nội dung yếu tố xác suất ở tiểu học theo Dự thảo

chương trình mới mơn Toán

NỘI DUNG



LỚ



YÊU CẦU CẦN ĐẠT



Làm quen với các



P

2



- Tập làm quen với việc mô tả các



khả năng xảy ra một



hiện tượng thực tế liên quan tới các



sự kiện



thuật ngữ: có thể, chắc chắn, khơng

thể, hồn tồn khơng thể,... thơng

qua một vài thí nghiệm, trò chơi.

- Thực hiện được một số thí nghiệm

đơn giản về ngẫu nhiên (1 lần), so

sánh các kết quả để đưa ra những

kết luận đơn giản (ví dụ: Nhắm mắt

lấy bóng các màu xanh/đỏ từ một

3



hộp kín đựng bóng).

- Làm quen với các khả năng xảy ra

một sự kiện thơng qua thực hiện

một vài trò chơi, thí nghiệm ngẫu

nhiên đơn giản (như tung đồng xu,

tung xúc xắc) rồi kiểm đếm số lần



4



lặp.

- Thơng qua một vài thí nghiệm, trò

chơi thực hành đưa ra các dự đốn

và thử nghiệm để kiểm tra được dự

đốn đó trong một số thí nghiệm

xác suất đơn giản (tung đồng xu,



5



tung xúc xắc, ném tiêu,...).

- Biết cách sử dụng phân số để mô

tả xác suất của các sự kiện trong

các mơ hình xác suất đơn giản.



1.3.3. Đặc điểm cấu trúc nội dung

- Các kiến thức của yếu tố xác suất được đưa vào chương

trình phù hợp với trình độ học sinh tiểu học, bao gồm những

16



kiến thức đơn giản giúp các em tiếp cận và làm quen, tạo cở

ban đầu để học lên ở các cấp sau.

- Nội dung chương trình dược sắp xếp theo nguyên tắc phát

triển dần từ lớp 2 đến lớp 5, cụ thể:

Ở lớp 2 và 3, đây là giai đoạn học sinh bắt đầu với việc học

tập đúng nghĩa nên các kiến thức về yếu tố xác suất chỉ dừng lại

ở mức tập làm quen, làm quen với với các thuật ngữ: chắc chắn,

có thể, khơng thể và mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng các

thuật ngữ này thơng qua trò chơi và thực hiện được một số thí

nghiệm đơn giản.

Ở lớp 4 và 5, lúc kinh nghiệm học tập của các em nhiều

hơn, học sinh đã biết đưa ra các dự đoán và tiến hành nhiều thí

nghiệm để kiểm tra. Giai đoạn này, học sinh cũng bắt đầu làm

quen với việc tính tốn xác suất bằng việc dùng phân số để mô

tả xác suất trong các trường hợp đơn giản.

- Cơng tác thực hành tốn học được chú trọng: học sinh

được làm nhiều thí nghiệm để rút ra kiến thức và áp dụng trong

các vấn đề thực tiễn.

1.4. Quá trình dạy học các yếu tố xác suất ở tiểu học

Trong chương trình mơn Tốn ở tiểu học, nội dung về các

yếu tố xác suất được đưa vào một cách xuyên suốt từ lớp 2 đế

lớp 5. Cụ thể:

- Lớp 2: Đây là giai đoạn mà trình độ nhận thức và tư duy

của học sinh còn kém. Do đó, lúc này học sinh mới chỉ chỉ được

làm quen với các kiến thức sơ giản về yếu tố xác suất, đó là các

thuật ngữ: “chắc chắn, có thể, không thể” để mô tả khả năng

xảy ra của một sự kiện.

Ngồi ra, học sinh còn được tiếp cận với các yếu tố xác suất

thông qua việc thực hiện cách thí nghiệm nhưng chỉ một lần (ví

dụ: Nhắm mắt lấy bóng các màu xanh/ đỏ trong hộp kín). Từ đó

17



so sánh các kết quả và đưa ra các kết luận đơn giản như: màu

bóng nào có khả năng được lấy ra cao hơn.

- Lớp 3: Học sinh tiếp tục được thực hiện các thí nghiệm về

xác suất (như tung đồng xu, tung xúc sắc,…) nhưng với nhiều

lần hơn và rút ra được các kết luận đơn giản như: khả năng xuất

hiện mặt sấp hoặc mặt ngửa khi tung đồng xu, hay khả năng

xuất hiện số chấm trong mỗi mặt khi tung xúc sắc.

- Lớp 4: Đây là giai đoạn học sinh có trình độ nhận thức và

tư duy cao hơn, kinh nghiệm đạt được của các em nhiều hơn. Do

đó, học sinh bắt đầu đưa ra các dự đoán đối với khả năng xảy ra

của một sự kiện và tiến hành thử nghiệm để kiểm tra các dự

đốn của mình thơng qua các thí ngiệm đơn giản (ném tiêu,

tung đồng xu, tung xúc xắc,...).

- Lớp 5: Giai đoạn này học sinh đã có các kiến thức về phân

số. Do đó, đối với nội dung các yếu tố xác suất ở lớp 5, học sinh

đã được học cách sử dụng phân số để mô tả xác suất của các sự

kiện trong các mơ hình xác suất đơn giản.

1.5. Thực trạng nhận thức của giáo viên về dạy học yếu tố

xác suất ở lớp 2 và 3

Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên đối với việc dạy học

yếu tố xác suất ở lớp hai và ba, chúng tôi đã đưa ra một số câu

hỏi nhằm thu thập ý kiến của các giáo viên khối lớp 2 và 3

trường Tiểu học Vỹ Dạ, thành phố Huế.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 11 giáo viên hai khối

lớp 2 và 3 với phiếu khảo sát gồm 6 câu hỏi nhằm thu thập ý

kiến của các giáo viên về vai trò, tầm quan trọng, nội dung, thời

lượng tổ chức và những thuận lợi, khó khăn mà giáo viên có thể

gặp phải khi dạy học yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3. Qua quá trình

khảo sát và xử lý số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

18



Bảng 1.2. Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên về dạy học

yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 Trường tiểu học Vỹ Dạ



NỘI DUNG

1. Việc dạy học các yếu tố xác suất

ở các lớp 2 và 3 là quan trọng.



Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)

1

2

3

4

5



(GV)

0

0

0

0

11



(%)

0

0

0

0

100



Có 100% giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của

việc dạy học các yếu tố xác suất ở lớp hai và 3. Đây là yếu tố

ban đầu giúp cho việc triển khai dạy học các yếu tố Xác suất

cho học sinh được thuận lợi hơn.



19



Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



2.1. Giúp học sinh bước đầu làm



1



0



0



quen với các yếu tố xác suất đơn



2



0



0



giản trong các tình huống gần



3



0



0



gũi với thực tế.



4



0



0



5



11



100



2.2. Làm giàu thêm vốn tri thức



1



0



0



của học sinh, giúp học các em



2



0



0



phát triển các kĩ năng suy luận,



3



0



0



phân tích, tổng hợp.



4



0



0



5



11



100



2.3. Giúp học sinh có cơ hội vận



1



0



0



dụng các kiến thức đã học để



2



0



0



giải quyết các vấn đề liên quan



3



0



0



đến yếu tố xác suất trong cuộc



4



0



0



5



11



100



2.4. Tạo được sự hứng thú, tích



1



0



0



cực trong hoạt động học tập của



2



0



0



học sinh thơng qua các trò chơi,



3



0



0



thí nghiệm xác suất đơn giản.



4



0



0



5



11



100



NỘI DUNG

2. Việc dạy học các yếu tố xác suất

ở các lớp 2 và 3 theo định hướng

phát triển năng lực có vai trò:



sống.



Về vai trò của việc dạy học các yếu tố xác suất theo định

hướng phát triển năng lực, 100% giáo viên đều hoàn toàn đồng

ý rằng dạy học các yếu tố xác suất sẽ giúp học sinh bước đầu

làm quen với các yếu tố xác suất đơn giản trong các tình huống

20



gần gũi với thực tế; làm giàu thêm vốn tri thức của học sinh,

giúp học các em phát triển các kĩ năng suy luận, phân tích, tổng

hợp,… Việc giáo viên nhận thức được vai trò của dạy học yếu tố

xác suất với học sinh sẽ giúp cho quá trình dạy học yếu tố xác

suất đạt hiệu quả tốt hơn.

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



3. Thầy (cơ) đồng tình với các nội



1



0



0



dung dạy học các yếu tố xác suất ở



2



0



0



lớp 2 và 3 trong dự thảo chương



3



0



0



trình mới mơn Tốn ở tiểu học (được



4



0



0



Bộ giáo dục ban hành 19/1/2018).



5



11



100



NỘI DUNG



Với nội dung dạy học các yếu tố xác suất ở lớp hai và ba, có

100% giáo viên đều hồn tồn đồng ý với nội dung mà Bộ giáo

dục đã ban hành trong Dự thảo chương trình mới mơn Tốn ở

tiểu học (19/1/2018).

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



4. Thầy (cơ) đồng tình với thời lượng



1



0



0



nội dung các yếu tố xác suất ở lớp 2



2



0



0



và 3 là: chiếm từ 3% đến 5% thời



3



0



0



lượng chương trình mơn Tốn ở tiểu



4



0



0



học (khoảng từ 5 – 8 tiết).



5



11



100



NỘI DUNG



100% giáo viên hoàn toàn đồng ý với thời lượng nội dung

chiếm từ 3% đến 5% thời lượng chương trình được quy định

21



trong Dự thảo chương trình mới mơn Tốn ở tiểu học do Bộ giáo

dục ban hành (19/1/2018).

Mức độ



Số



Tỉ



đồng ý



lượng



lệ



(%)



(GV)



(%)



5.1. Có trình độ chun mơn



1



0



0



cao, nghiệp vụ sư phạm vững



2



0



0



vàng.



3



0



0



4



0



0



5



11



100



5.2. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy



1



0



0



học đầy đủ.



2



0



0



3



0



0



4



0



0



5



11



100



NỘI DUNG

5. Thầy (cơ) có thuận lợi gì trong

dạy học các yếu tố xác suất ở lớp 2

và 3 theo định hướng phát triển

năng lực?



Về các yếu tố thuận lợi đối với việc dạy học các yếu tố xác

suất ở lớp 2 và 3, có 100% giáo viên đều cảm thấy mình có trình

độ chun mơn cao, nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Bên cạnh

đó, trường tiểu học Vỹ Dạ là ngơi trường có cơ sở vật chất đầy

đủ và hiện đại, do đó 100% giáo viên đều nhận thấy đây là một

yếu tố thuận lợi để triển khai dạy học các yếu tố xác suất có

hiệu quả. Trên đây là những yếu tố thuận lợi giúp cho việc dạy

học các yếu tố xác suất ở lớp 2 và 3 theo định hướng phát triển

năng lực đạt được hiệu quả cao.



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Từ các dấu hiệu đặc trưng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực, chúng tôi xin đưa ra cách hiểu dạy học các yếu tố xác suất theo định hướng phát triển năng lực như sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×