Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT TẠI THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT TẠI THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

34



là 73.35%, dịch vụ là 26.29% và nông lâm nghiệp là 0.36% với GDP tăng bình qn đạt

khoảng 18.5%/năm. Tồn thị xã hiện có 03 khu cơng nghiệp và 02 cụm công nghiệp tập

trung, thu hút 2.368 doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Phát huy các điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội

và các thành tựu đã đạt được, thị xã Thuận An hiện đang là đô thị loại IV. Trong thời gian

tới, thị xã Thuận An sẽ tiếp tục phấn đấu để quyết tâm xây dựng thị xã trở thành đô thị

loại III vào năm 2015 và trở thành đô thị loại II vào năm 2020 theo đúng định hướng quy

hoạch của tỉnh Bình Dương [27].

2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục trung học phổ thông tại thị xã Thuận

An - Tỉnh Bình Dương

2.1.2.1. Đội ngũ học sinh các trường trung học phổ thông

Hiện nay, thị xã Thuận An hiện có 3 trường THPT cơng lập là trường Trịnh Hồi

Đức, trường Nguyễn Trãi và trường Trần Văn Ơn. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài,

chúng tôi khảo sát cả 3 trường THPT kể trên.

Trước tiên, trường THPT Nguyễn Trãi thuộc phường Lái Thiêu. Trường được

thành lập từ năm học 1997 – 1998 với hai cấp học trung học cơ sở và THP, đến 8/2005

trường tách khối cấp II riêng biệt với khối cấp III và chính thức trở thành trường THPT

Nguyễn Trãi cho đến hiện nay. Thứ hai, trường THPT Trần Văn Ơn nằm ở phường Thuận

Giao. Cũng giống trường THPT Nguyễn Trãi, trường Trần Văn Ơn được thành lập từ năm

học 2005 – 2006 với cả hai cấp học trung học cơ sở và THPT. Đến năm 2010, trường tách

thành trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi và THPT Trần Văn Ơn. Cuối cùng là

trường THPT Trịnh Hoài Đức nằm trên địa bàn phường An Thạnh. Đây là trường trung

học cơng lập đầu tiên của tỉnh Bình Dương được thành lập từ năm học 1955 – 1956. Đến

ngày 24-5-2011, trường THPT Trịnh Hồi Đức đón nhận Bằng đạt chuẩn Quốc gia giai

đoạn 2011 – 2015. Trong năm học 2013 – 2014, trường có tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT

là 100%. Đây là trường được đánh giá có chất lượng dạy và học cao hơn so với 2 trường

THPT còn lại trong thị xã. Do đó, trong thời gian tới, trường định hướng phát triển trở

thành trường THPT chất lượng cao của tỉnh Bình Dương

Các trường có số lượng học sinh trung bình vào khoảng 1000 học sinh/trường.



35



Các trường THPT tại Thuận An không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục của mình lên

với việc cố gắng giảm tỉ lệ HS yếu kém so với các năm học trước và tăng số lượng HS

giỏi vòng tỉnh, tăng số lượng học sinh tốt nghiệp THPT (Xem thêm phụ lục 1, mục 1,

bảng 1).

Tóm lại, trên địa bàn thị xã Thuận An, số lượng học sinh THPT lên đến hàng ngàn

em với sự đa dạng về học lực, hạnh kiểm. Các em có tỉ lệ đậu tốt nghiệp cao, đáp ứng

được yêu cầu phổ cập giáo dục của xã hội. Bên cạnh đó, các trường THPT trên địa bàn

ln nỗ lực phấn đấu để cải thiện chất lượng giáo dục và nâng cao số lượng học sinh giỏi

cấp các tỉnh.

2.1.2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý và GV các trường trung học phổ thơng

Hiện nay, tính đến cuối năm học 2013 – 2014, tồn thị xã Thuận An có tổng cộng

201 GV, cán bộ đang làm việc tại trường THPT. Tiếp theo, xét về đội ngũ CBQL, gồm có

hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng chun mơn. Cụ thể, CBQL cấp cao là hiệu

trưởng và hiệu phó tại trường 3 trường THPT Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Trãi và Trần Văn

Ơn có 11 người, chiếm 5.85%; tổ trưởng chuyên môn gồm 28 người, chiếm tỉ lệ 14.89%

trong tổng số 201 GV THPT toàn thị xã.

Số liệu thống kê cho thấy, đội ngũ CBQL và GV tại các trường THPT ở địa bàn thị

xã Thuận An có trình độ chun mơn đạt chuẩn hoặc vượt chuẩn trở lên, có thể đáp ứng

được nhu cầu giảng dạy của địa phương về chất lượng lẫn số lượng. Điều đáng chú ý là

các cấp quản lý tại các trường THPT luôn tạo điều kiện, thời gian và kinh phí để hỗ trợ,

khuyến khích các GV, nhân viên học tập hơn cao nữa để nâng cao trình độ chun mơn.

Đây là điều rất đáng q, mang lại hiệu quả thiết thực cho cơng tác giáo dục bậc THPT tại

thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương (Xem thêm phụ lục 1, mục 2).

Tóm lại, đánh giá về giáo dục – đào tạo được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đại

Biểu Đảng Bộ Thị xã Thuận An lần thứ XI tổng kết nêu: Qui hoạch đầu tư xây dựng

trường lớp đạt chuẩn quốc gia được chú trọng; đội ngũ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn

ngày càng tăng; xây dựng mới 14 trường cơng lập; có 31/44 trường đạt chuẩn quốc gia (tỷ

lệ 70,45%, nghị quyết >80% - so đầu nhiệm kỳ tăng 10 trường); tiếp tục duy trì đạt chuẩn

quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục các bậc học. Hoạt động xã hội hố giáo

dục đạt hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các bậc học, đã thành lập 53



36



trường tư thục (tăng 31 trường so với đầu nhiệm kỳ). Tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp

hàng năm trên 90%. Tuy nhiên, các thiết chế văn hố có khai thác sử dụng nhưng hiệu

quả chưa cao. Trong các khu dân cư việc triển khai xây dựng nhà văn hố, trường học,

khu vui chơi còn chậm và chưa đồng bộ [23 tr.14]

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.2.1. Công cụ nghiên cứu

Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ yếu của đề tài. Người nghiên cứu xây

dựng phiếu hỏi chính thức qua 3 giai đoạn sau.

Giai đoạn 1: Xây dựng phiếu khảo sát sơ bộ

Trên cơ sở lí luận của đề tài, chúng tơi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến mở

dành cho 150 học sinh lớp 12 tại 3 trường THPT Nguyễn Trãi, Trịnh Hoài Đức và Trần

Văn Ơn, 30 GV và CBQL của 3 trường này để thu thập thông tin sơ bộ và cơ sở xây dựng

phiếu thăm dò ý kiến chính thức.

Giai đoạn 2: Xây dựng phiếu khảo sát chính thức

Dựa trên phần cơ sở lí luận, phiếu khảo sát sơ bộ, và đồng thời tham khảo ý kiến

của GV hướng dẫn, chúng tơi xây dựng 2 phiếu khảo sát chính chính thức dành cho các

nhóm đối tượng là HS lớp 12 và CBQL, GV trường THPT thị xã Thuận An.

Giai đoạn 3: Xử lý số liệu

Chúng tôi xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS for windows: tính tần số, tỉ

lệ phần trăm, điểm trung bình, kiểm nghiệm T – test, kiểm nghiệm Anova để làm rõ sự

khác biệt giữa các nhóm với độ tin cậy là 95%.

Cách tính điểm trung bình ở các mức độ:

- Điểm trung bình đạt từ 4.1 đếm 5.0 được xem là rất cao, điểm trung bình đạt 3.6

đếm 4.0 được xem là cao, điểm trung bình đạt từ 3.0 đến 3.59 được xem là trung bình,

điểm trung bình từ 2.9 trở xuống được xem là mức độ thấp.

- Chọn mức ý nghĩa là 0.05, nếu sig. (α) >= 0.05 thì kết luận khơng có sự khác biệt ý

nghĩa về mặt thống kê, nếu sig. (α) < 0.05 thì kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về mặt

thống kê.

- Độ tin cậy của các phiếu thăm dò ý kiến dành cho GV và HS: Phiếu thăm dò ý



37



kiến thực trạng dành cho CBQL và GV có α = .983, phiếu thăm dò ý kiến biện pháp dành

cho CBQL và GV có α = .947, phiếu thăm dò ý kiến dành cho HS có α = .975 (xem thêm

phụ lục 1, mục 3). Như vậy, các phiếu khảo sát đều có độ tin cậy cao và có thể sử dụng.

2.2.2. Mẫu nghiên cứu

Người nghiên cứu tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến chính thức cho 450 HS lớp

12 và 210 CBQL và GV của 3 trường THPT Nguyễn Trãi, Trịnh Hoài Đức và Trần Văn

Ơn. Sau khi sàng lọc loại bỏ những phiếu khơng đạt u cầu thì chỉ còn lại 438 phiếu của

HS và 190 phiếu của CBQL, GV. Tỉ lệ khách thể nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.1.

Bảng 2.1. Tỷ lệ khách thể nghiên cứu trong mẫu nghiên cứu

GV



HS



Nội dung

Giới

Nam

Nữ

Chức

GV

CBQL

vụ

Trình

Cử nhân

Thạc sĩ

độ

Tiến sĩ



SL

93

97

141

49

133

57

0



Thâm

niên



50

75

65



Trường



Dưới 5 năm

Từ 6 -10 năm

Trên 10 năm

Trần Văn Ơn

Nguyễn Trãi

Trịnh Hoài Đức

Tổng



59

68

59

190



%

Nội dung

48.9

Giới

Nam

51.1

Nữ

74.2

Lớp

12

Giỏi

25.8 Học lực

70.0

Khá

30.0

Trung bình

0

Yếu

Kém

26.3 Hạnh

Tốt

39.5

Khá

kiểm

34.2

Trung bình

Yếu

31.1

Kém

Trường

Trần Văn Ơn

35.8

Nguyễn Trãi

31.1

Trịnh Hồi Đức

100

Tổng



SL

168

270

430

69

172

188

7

2

360

59

14

4

1

145

150

143

438



%

38.4

61.6

100

15.8

39.3

42.9

1.6

0.5

82.2

13.5

3.2

.9

0.2

33.1

34.2

32.6

100



2.3. Thực trạng công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ

thơng thị xã Thuận An – Tỉnh Bình Dương

2.3.1. Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác giáo dục hướng

nghiệp

Nhận thức và đánh giá đúng tầm quan trọng của GDHN trong nhà trường là nền



38



tảng cơ bản để tiến hành các hoạt động GDHN nhằm nâng cao chất lượng dạy học của tai

trường THPT. Nhằm tìm hiểu đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của GDHN

trong dạy học, chúng tôi đã yêu cầu CBQL và GV đánh giá mức độ quan trọng của nội

dung này qua 5 mức độ: từ 1 (Không quan trọng) đến 5 (Rất quan trọng). Kết quả được

thể hiện trong biểu đồ như sau:

Biểu đồ 2.1. Tầm quan trọng của GDHN



CBQL và GV



4.16



HS



4.35

0



1



2



3



4



5



CBQL

- GVcủa của

HS GDHN

Biểu đồ 2.2.

Ý nghĩa

Ý nghĩa 7



3.56



Ý nghĩa 6

Ý nghĩa 5

Ý nghĩa 4

Ý nghĩa 3

Ý nghĩa 2

Ý nghĩa 1

0



0.5



1



1.5



2



2.5



3



4.01



4.26

3.86

4.09

3.73

3.85

3.63

3.7

3.44

4.07

3.63

3.92

3.81

3.5 4

4.5



Kết quả xử lí trị

trung bình cho thấy các đối tượng tham gia điều tra đánh giá GDHN có vai trò “rất quan

trọng” trong hoạt động của trường THPT. Trong đó, HS có điểm đánh giá cao hơn so với

nhóm CBQL và GV với TB lần lượt là 4.35 và 4.16. Với độ lệch chuẩn



39



thấp (ĐLC của nhóm HS là 0.75006 và ĐLC của nhóm GV là 0.88868) cho thấy cả 2

nhóm đối tượng khảo sát đều khá thống nhất khi khẳng định vai trò quan trọng của

GDHN tại nhà trường (Xem thêm phục lục 1, mục 4).

Ghi chú: Ý nghĩa 1. Giúp tạo điều kiện phân luồng HS sau THPT; Ý nghĩa 2. Giúp xã

hội có nguồn lao động hợp lí, hiệu quả; Ý nghĩa 3. Là một phần kiến thức trong chương trình GD

phổ thông; Ý nghĩa 4. Giúp thực hiện mục tiêu GD toàn diện cho HS; Ý nghĩa 5. Giúp HS có

những hiểu biết về nghề; Ý nghĩa 6. Giúp HS chọn nghề một cách khoa học, phù hợp với bản

thân; Ý nghĩa 7. Giúp HS chọn nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội.- Dàn trang cho biểu đồ

2.2 liền kề với chú thích!



Về nội dung ý nghĩa của GDHN, các đối tượng tham gia điều tra cho thấy có sự

thống nhất ở mức “trung bình” đến “rất quan trọng” với TB tối thiểu cho các mục là 3.44

và độ phân tán nhỏ khi đánh giá ý nghĩa của của GDHN (Xem thêm phục lục 1, mục 4).

Kết quả phân tích cụ thể các ý nghĩa của GDHN trong nhà trường THPT theo 2 khách thể

là GV và HS được thể hiện ở biểu đồ bên dưới.

Từ biểu đồ, xét nhóm GV - CBQL, ý nghĩa “Giúp HS chọn nghề một cách khoa

học, phù hợp với bản thân” chiếm vị trí thứ nhất (1/7). Kế đến là ý nghĩa “Giúp HS có

những hiểu biết về nghề” xếp vị trí thứ 2. Và ý nghĩa xếp vị trí thứ 3 đó là “Giúp HS chọn

nghề phù hợp với nhu cầu xã hội”. Như vậy, trong các ý nghĩa của GDHN tại trường

THPT thì với nhóm khách thể CBQL – GV, việc giúp HS chọn nghề một cách khoa học,

phù hợp trong GDHN cho các em có vai trò quan trọng nhất. Điều này có thể cho ta dự

báo rằng đây là vấn đề mà các thầy cô sẽ tập trung vào khi tổ chức GDHN cho HS.

Tuy nhiên, việc giúp HS xác định nghề nghiệp không phải chỉ để cho các em biết

nên chọn ngành nào hay đơn thuần chỉ để làm giàu thêm vốn tri thức, hiểu biết của bản

thân về nghề nghiệp, mà nó gắn liền với việc giúp xã hội có nguồn lao động hợp lí, hiệu

quả. GV T cho rằng: “GDHN bao giờ cũng hướng tới 1 cá nhân cụ thể, qua đó định

hướng cho cá nhân lựa chọn 1 nghề có trong một bối cảnh xã hội cụ thể, đảm bảo được

cuộc sống gia đình đồng thời vừa đóng góp được cho sự phát triển chung của xã hội.

Đích cuối cùng của GDHN là giúp cá nhân phát triển được tối đa khả năng, năng lực của

bản thân, đảm bảo cho sự phát triển nghề nghiệp của cá nhân đó”. Ba nội dung đầu tiên

này hồn tồn phù hợp với mục đích GDHN trong trường THPT đã được trình bày ở



40



chương 1 là GDHN trong nhà trường giúp HS có kiến thức cơ bản về vấn đề chọn nghề

và chủ động, tự tin trong việc chọn hướng đi, chọn nghề; Có hứng thú và khuynh hướng

chọn nghề đúng đắn…

Về phía học sinh, ba nội dung được các em đánh giá cao nhất lần lượt là “Giúp HS

chọn nghề một cách khoa học, phù hợp với bản thân”, “Giúp HS hiểu biết về nghề” và

“Giúp xã hội có nguồn lao động hợp lí, hiệu quả” với TB là 4.26, 4.09 và 4.07. Như vậy,

có sự tương đồng trong đánh giá về vai tầm quan trọng của các ý nghĩa trong GDHN ở 2

nhóm đối tượng là CBQL – GV và HS khi mà tất cả đều đề cao mức quan trọng của việc

giúp HS chọn nghề một cách khoa học, phù hợp với bản thân và nhu cầu xã hội.

Tóm lại, qua tìm hiểu về đánh giá của CBQL – GV và HS về vai trò, ý nghĩa của

GDHN trong trường THPT, kết quả là: Với bất kì ý nghĩa nào của GDHN thì nhóm đối

tượng HS ln đánh giá cao hơn so với nhóm GV – CBQL. Mặt khác, nó thể hiện một tín

hiệu đáng mừng: Các nhóm đối tượng khảo sát đã đánh giá cao mức độ quan trọng của

GDHN cũng như ý nghĩa của nó trong dạy học ở trường hiện nay. Đây là đánh giá đúng

đắn và là một yếu tố thuận lợi đặt cơ sở cho việc nâng cao, đẩy mạnh cơng tác GDHN.

2.3.2. Thực trạng nội dung, hình thức và lực lượng thực hiện công tác giáo

dục hướng nghiệp

2.3.2.1. Về nội dung của cơng tác giáo dục hướng nghiệp

Nhằm tìm hiểu về thực trạng nội dung của công tác GDHN tại trường THPT,

chúng tôi khảo sát đánh giá của CBQL – GV và HS về mức độ thường xuyên và hiệu quả

thực hiện của các nội dung GDHN qua 5 mức độ: từ 1 (Chưa bao giờ/Kém) đến 5 (Rất

thường xuyên/Tốt). Kết quả được thể hiện trong bảng như sau:

Bảng 2.2. Nội dung của công tác giáo dục hướng nghiệp

Nội

dung

của

GDHN

Nội

dung 1

Nội

dung 2



CBQL và GV

Mức độ thường xuyên

Hiệu quả thực hiện

TB

ĐLC

Hạn

TB

ĐLC

Hạng

g



3.7

5

3.3

1



1.0525

2

.85659



1



3.5

5



7



3.2

5



.

97339



1.0331



1



3.7

2



1.0814



7



3.4

7



.

90230



HS

Mức độ thường xuyên

TB

ĐLC

Hạn

g

6



8



Hiệu quả thực hiện

TB

ĐLC

Hạn

g

1.0838



1



3.4

8



1.0713



6



3.3

7



1



2



2

6



41

Nội

dung 3

Nội

dung 4

Nội

dung 5

Nội

dung 6

Nội

dung 7



3.4



.94729



3.3

5



.95139



3.3

8



.99925



3.5

3



.95205



3.3

5



3

5



3.3

2



1.031



4



3.3

9



.



2



3.3

2



5



3.2

8



1.1009

2



.



3.3

4



85066



1.0858



3



3.4

7



1.0881



4



3.5

7



1.1166



2



3.5

8



1.1784



4



3.6

2



1.0718



6



3.5

9



.

95134



7



97875

1.008

4



2



6



1



1



2



1.0866



6



3.3

2



1.0753



5



3.4

3



1.1393



4



3.4

3



1.1710



2



3.5

2



0



2



8



4



7

3

3

1



1.1065



3



3.4



4



5



Ghi chú: Nội dung 1. Cung cấp thông tin các loại ngành nghề; Nội dung 2. Phân tích đặc điểm

và yêu cầu của các loại ngành nghề; Nội dung 3. Cung cấp thông tin về các cơ sở đào tạo; Nội

dung 4. Phân tích các tiêu chí chọn nghề; Nội dung 5. Hướng dẫn học sinh xác định xu hướng và

hứng thú của bản thân; Nội dung 6. Hướng dẫn học sinh xác định năng lực và năng khiếu của

bản thân; Nội dung 7. Cung cấp thông tin về nhu cầu của xã hội và cơ hội việc làm của các loại

ngành nghề



Theo đánh giá của CBQL – GV và HS, các nội dung GDHN được triển khai thực

hiện nhiều nhất và đạt được hiệu quả cao là “Cung cấp thông tin các loại ngành nghề” và

“Hướng dẫn học sinh xác định năng lực và năng khiếu của bản thân”. Ngược lại, các nội

dung có hiệu quả thực hiện kém nhất là “Phân tích đặc điểm và yêu cầu của các loại

ngành nghề”.

Như vậy, các nội dung cung cấp thông tin các loại ngành nghề và cung cấp thông

tin về các cơ sở đào tạo là những điều được tập thể nhà giáo đánh giá có mức độ thực hiện

một cách thường xun cao nhất. Nó khơng chỉ đạt về số lượng mà còn đạt về chất lượng

khi TB đánh giá hiệu quả thực hiện cũng ở có mức thứ tự cao. Điều này cho thấy, GDHN

cho HS trong trường THPT đã đi theo hướng tập trung vào việc cung cấp kiến thức về

nghề cho HS và giúp các em hiểu rõ hơn về các cơ sở đào tạo để có sự lựa chọn nghề

nghiệp một cách phù hợp nhất cũng như đáp ứng được yêu cầu của xã hội.

Từ bảng số liệu 2.2, kết quả khảo sát thể hiện HS cũng có đánh giá khá giống với

các CBQL và GV với việc 2 nội dung cung cấp thông tin các loại ngành nghề và hướng

dẫn học sinh xác định xu hướng và hứng thú của bản thân có TB thực hiện và hiệu quả



42



thực hiện cao nhất. Thực trạng này một lần nữa cho thấy các trường THPT tại thị xã

Thuận An – Bình Dương tập trung vào việc giúp học sinh lựa chọn được nghề phù hợp

với bản thân thông qua việc giúp các em khám phá hứng thú, đam mê nghề nghiệp cũng

như kết hợp với việc phân tích cho HS biết thơng tin về ngành nghề.

Nhìn chung, thơng qua kết quả khảo sát, có thể thấy rõ là mức độ thực hiện và hiệu

quả thực hiện các nội dung của GDHN không cao như đánh giá về tầm quan trọng của nó

(TB tối đa là 3.75). Trong đó, đối với cả 2 nhóm khách thể thì họ đều có sự tương đồng

trong nhận xét là đánh giá mức độ thực hiện cao hơn hiệu quả thực hiện ở hầu hết các nội

dung GDHN với TB hiệu quả thực hiện luôn luôn thấp hơn mức độ thực hiện. Điều này

cho thấy sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng của hoạt động GDHN trong trường

THPT tại Thuận An. Nó cũng cho thấy tính cần thiết và hữu ích của việc thực hiện đề tài

nghiên cứu trên địa bàn.

2.3.2.2. Về hình thức của cơng tác giáo dục hướng nghiệp

Để tìm hiểu thực trạng hình thức của cơng tác GDHN tại trường THPT, chúng tôi

khảo sát đánh giá của CBQL – GV và HS về mức độ thường xuyên và hiệu quả thực hiện

của các hình thức GDHN qua 5 mức độ: từ 1 (Chưa bao giờ/Kém) đến 5 (Rất thường

xuyên/Tốt). Kết quả được thể hiện trong bảng như sau:

Bảng 2.3. Hình thức của cơng tác giáo dục hướng nghiệp

Hình

thức

của

GDH

N

Hình

thức 1

Hình

thức 2

Hình

thức 3

Hình

thức 4

Hình

thức 5



CBQL và GV

Mức độ thường xuyên

Hiệu quả thực hiện

TB

ĐLC

Hạn

TB

ĐLC

Hạn

g

g



3.6

4



1.1360



3.5

1



.79509



3.3

9



.94671



3.1

9



.98448



3.4

7



1.0918



1



3.4

5



2



3.4

2



5



3.3



8



3.1

8



3



3.2

9



1.0912

7

.88537



.95922



1.3881



1



3.2

1



1.4612



3



3.4

7



1.1839



5



3.4

2

3.2

2



1.2584



8



1.0076

8

.98533



HS

Mức độ thường xuyên

TB

ĐLC

Hạn

g



6



6



3



5



9



3.0

8



1.3740



2



3.3

7



1.2081



5



3.3

8



1.1900



8



3.1

7



6



3.2

9



1.2531



6



3.3



1



Hiệu quả thực hiện

TB

ĐLC

Hạn

g



9

4

3



1.2524

6

1.2971



8

6



43

Hình

thức 6

Hình

thức 7

Hình

thức 8

Hình

thức 9



3.4



.93038



3.3

7



.96628



3.1

8



1.0024



3.3

4



.97710



4



3.4

5



.88214



6



3.2

5



.97556



9



3.1

5



.99356



7



3.3

6



.99720



1.2151



1



3.4

3



1.1502



7



3.5

5



1.1292



9



3.4

7



1.2989



4



3.2

6



8



5



1



7



4



3.4

2



1.2388



1



3.4

7



1.1210



2



3.3

2



1.1576



7



3.2

2



1.2963



2

1

5

7



Chú thích: Hình thức 1. Tổ chức tham quan các cơ sở kinh tế địa phương; Hình thức 2. Tổ

chức các buổi hội thảo hướng nghiệp tại trường; Hình thức 3. Mời các chuyên viên tư vấn

GDHN trực tiếp; Hình thức 4. Giáo viên bộ mơn GDHN thơng qua việc tích hợp trong dạy học

các mơn văn hóa; Hình thức 5. Tổ chức GDHN qua hoạt động ngoại khóa; Hình thức 6. Giáo

viên chủ nhiệm GDHN trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm; Hình thức 7. Tổ chức hướng dẫn về việc

chọn trường ĐH – CĐ; Hình thức 8. Tổ chức tư vấn về học nghề, trung cấp chuyên nghiệp; Hình

thức 9. Tổ chức cho học sinh làm trắc nghiệm để xác định sở thích, năng lực, tính cách phù hợp

với nhóm ngành nghề nào



Hiện nay chúng ta đang sống trong một thời đại bùng nổ thông tin, còn gọi là thời

đại tri thức với đa dạng các lĩnh vực và ngành nghề. Do đó, việc GDHN tốt để đảm HS có

sự lựa chọn nghề phù hợp, có đủ tri thức, năng lực làm việc đáp ứng nhu cầu của cuộc

sống là điều cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cuộc sống, tập thể các nhà giáo nhận

thức rõ ràng và đã thực hiện những hình thức GDHN đa dạng.

Bên cạnh đánh giá về nội dung, các hình thức GDHN cũng được tập thể nhà giáo

và HS đánh giá cao. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ thực hiện của các hình thức từ bậc

trung bình trở lên. Cũng giống như đánh giá về nội dung GDHN, đánh giá về hình thức

GDHN có sự tương đồng giữa mức thực hiện và hiệu quả thực hiện của từng hình thức.

Các hình thức xếp hạng cao đều cùng có điểm TB thực hiện và hiệu quả thực hiện ở mức

cao nhất. Các hình thức còn lại thì cũng khá tương đồng giữa mức thực hiện và hiệu quả

thực hiện. Như vậy, rõ ràng là với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của GDHN

trong trường THPT mà các thầy cơ đã tổ chức nhiều hình thức GDHN khác nhau và thậm

chí là mỗi GV chủ nhiệm đứng lớp đều thực hiện GDHN trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm

của mình.



44



Kết quả khảo sát nhóm nhà giáo và HS cho thấy, hình thức có mức thực hiện xếp

hạng cao nhất là “Tổ chức các buổi hội thảo hướng nghiệp tại trường”, “Tổ chức tham

quan các cơ sở kinh tế địa phương”, “Tổ chức hướng dẫn về việc chọn trường ĐH - CĐ”,

“Tổ chức tư vấn về học nghề, trung cấp chuyên nghiệp”. Bên cạnh đó, đánh giá về hiệu

quả thực hiện của các hình thức thể hiện: “Tổ chức hướng dẫn về việc chọn trường ĐH CĐ”, “Tổ chức tham quan các cơ sở kinh tế địa phương” và “Giáo viên chủ nhiệm GDHN

trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm”có điểm TB hiệu quả cao nhất.

Thực tế GD tại Việt Nam cho thấy, hiện nay, mà điển hình là trong năm học 2014

-2015, việc tuyển sinh đại học có nhiều thay đổi và khiến cho các em HS lúng túng. Nắm

bắt được tình hình này, đội ngũ các thầy cô đã đẩy mạnh công tác hướng dẫn về việc chọn

trường ĐH – CĐ cho các em để đáp ứng nhu cầu thực tế của HS và thông qua đó, giúp

GDHN cho các em. Điều này phù hợp với chia sẻ của HS khi được phỏng vấn, em Đ.C.N

cho biết “Các hình thức GDHN của trường giúp cho em tìm hiểu về các mơn thi theo các

khối và sưu tầm các thơng tin về nghề nghiệp theo từng nhóm nghề, khối thi, thông tin về

các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề. Biết được chỉ tiêu tuyển sinh của các

trường trên cả nước”. Mặt khác, nó còn thể hiện sự hài lòng của HS khi đánh giá 2 hình

thức “Mời các chuyên viên tư vấn GDHN trực tiếp” và “Giáo viên chủ nhiệm GDHN

trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm” có hiệu quả cao xếp hạng 2 và 3.

Tuy nhiên có vấn đề cần chú ý là hình thức “Tổ chức tham quan các cơ sở kinh tế

địa phương”, “Giáo viên bộ mơn GDHN thơng qua việc tích hợp trong dạy học các mơn

văn hóa” và “Tổ chức cho học sinh làm trắc nghiệm để xác định sở thích, năng lực, tính

cách phù hợp với nhóm ngành nghề nào” có mức hiệu quả thực hiện thấp nhất. Đây là cơ

sở để các CBQL – GV nâng cao hiệu quả hoạt động của các hình thức GDHN này.

Từ kết quả quan sát và phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy: Các thầy cơ có thể đã giúp

các em HS xác định xu hướng, hứng thú và năng lực của mình bằng nhiều cách khác nhau

chứ không thông qua các test tâm lí vốn phổ biến trong q trình GDHN tại các

quốc gia phát triển trên thế giới. Từ quá trình quan sát trong nghiên cứu, chúng tôi nhận

thấy một trong các phương thức mà thầy cô thường dùng là dựa vào biểu hiện của HS

thông qua kết quả học tập, hành vi… để nhận định về HS và giúp các em hiểu rõ bản thân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT TẠI THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×