Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Phức hệ Meozoi hạ: gồm các thành tạo macma xâm nhập phức hệ Chà Val (νaT3cv), Hải Vân (γT3hv) phân bố trên diện rộng tạo thành dãy núi địa lũy hay các

- Phức hệ Meozoi hạ: gồm các thành tạo macma xâm nhập phức hệ Chà Val (νaT3cv), Hải Vân (γT3hv) phân bố trên diện rộng tạo thành dãy núi địa lũy hay các

Tải bản đầy đủ - 0trang

mà tác nhân chủ yếu là gió, sơng và biển. Địa hình tương đối bằng phẳng trừ một

vài nơi dduunj cát, cồn cát xen lẫn.

+ Vùng đầm phá: phân bố gần vùng cát ven biển phía Đơng, kéo dài 67km từ

huyện Phong Điền đến huyện Phú Lộc, diện tích 22 nghìn ha. Đây là hệ thống đầm

phá gần kín, rộng nhất trên cả nước, gồm hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và đầm

biệt lập An Cư (Lập An). Lớn nhất là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với 216km,

dài 68km, chạy dọc ven biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

+ Dải cồn cát ven biển: tập trung ở các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú

Vang, Phú Lộc. Địa hình gồm các trảng cát, cồn cát, đụn cát chắn bờ dài khoảng

100km, kéo dài theo hướng chung là Tây Bắc - Đông Nam. Dãy cồn cát có độ cao

2 - 35m, thay đổi liên tục từ Bắc vào Nam, chạy song song với đường bờ biển.

Với đường bờ biển dài kết hợp vị trí trung gian, đồng thời trong bối cảnh

BĐKH hiện nay làm cho mức độ ảnh hưởng của thiên tai đến đồng bằng TTH ngày

càng tăng. Tần số, quy mô, cường độ bão, lũ lụt tăng cộng hưởng với nước biển

dâng làm cho diện tích đất ngập tăng lên và xâm thực bờ mãnh liệt. Đặc điểm này

cũng tác động gián tiếp thông qua thủy văn làm tăng hiện tượng xâm nhập mặn, gây

thoái hóa đất.

2.1.1.4. Khí hậu

Vùng đồng bằng TTH có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đơng lạnh, là

vùng chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam.

* Bức xạ mặt trời: Đồng bằng Thừa Thiên Huế có chế độ bức xạ cao, góc

nhập xạ mặt trời lớn và ít thay đổi. Tổng lượng bức xạ thực tế đạt từ 124 - 126

Kcal/cm2/năm. Cán cân bức xạ năm vượt tiêu chuẩn nhiệt đới (trên 75

Kcal/cm2/ năm)

* Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm dao động từ 1.700 đến

2.000 giờ. Thời kỳ nhiều nắng nhất từ tháng 4 đến tháng 7. Ở vùng đồng bằng và

thung lũng thấp có trên 200 giờ nắng/tháng.

* Chế độ nhiệt : Đồng bằng Thừa Thiên Huế có chế độ nhiệt của vùng nhiệt

đới, nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 24 - 250C và phân hóa theo theo thời gian rất rõ.

Vùng đồng bằng và gò đồi với độ cao dưới 100 m là 20 - 220C. Nhiệt độ trung bình

tháng 1 ở vùng đồng bằng ven biển khoảng 200C, nhiệt độ trung bình tháng 6,7 vượt

quá 28 - 290C, biên độ nhiệt độ năm từ 9 - 100C

43



* Chế độ mưa:

- Tổng lượng mưa trung bình năm của Thừa Thiên Huế thuộc loại lớn nhất

trong cả nước, từ 2.700 mm đến trên 3.600 mm và có xu hướng giảm dần từ Tây

sang Đông và từ Bắc vào Nam. Vùng đồng bằng phía Bắc của Thừa Thiên Huế mưa

ít nhất (2.700 - 2.800 mm/năm); vùng đồng bằng phía nam từ Phú Bài trở vào dao

động từ 2800 đến 3400 mm. Mưa phân hoá theo mùa, mùa mưa từ tháng 9 đến

tháng 1 năm sau chiếm trên 80% lượng mưa cả năm (bảng 2.1), cường độ mưa ở

đồng bằng từ 500 mm đến trên 900 mm/ngày.

Bảng 2.1. Lượng mưa vào mùa mưa tại các trạm thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trạm



Mùa mưa

Tổng lượng mưa

năm (mm)

Lượng mưa (mm) So với tổng lượng mưa (%)



Phú Ốc



2800,0



2302,9



82



Kim Long



2519,3



2022,7



80



Huế



2853,2



2403,8



84



Lộc Trì



3015,6



2491,5



83



Nguồn: [38]

- Phân hóa lượng mưa khơng đều theo các tháng trong năm: Biến trình của

lượng mưa năm ở Thừa Thiên Huế có hai cực đại. Một cực đại vào tháng 5, 6 có thể

gây lũ tiểu mãn. Cực đại thứ hai từ tháng 8 đến tháng 12 hoặc tháng 1, gây ra một

mùa lũ chính ở khu vực đồng bằng ven biển (bảng 2.2). Tháng mưa lớn nhất trong

năm là tháng 10, lượng mưa trong tháng này thường gấp 2 - 3 lần lượng mưa trong

các tháng mùa mưa, tổng lượng mưa tháng dao động trong khoảng từ 600 mm đến

trên 1000 mm. Sự tập trung của lượng mưa cũng như số ngày mưa lớn làm cho khả

năng xảy ra lũ lụt, xói lở bờ sơng trong các tháng này rất cao (phụ lục 4).



44



Bảng 2.2. Lượng mưa trung bình tại các trạm thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế

(Đơn vị: mm)

Tháng

Địa điểm



1



2



3



4



5



6



7



8



9



10



11



12 Năm



Phú Ốc



109 73



49 81 136 90



85 139 339 791 640 333 2865



Huế



111 56



38 56 112 111 73 124 375 754 665 321 2796



Bình Điền



106 50



29 79 140 166 88 159 425 838 692 394 3166



A Lưới



67



44



63 159 233 207 165 191 414 935 743 290 3511



Nam Đông



96



55



47 101 212 242 171 204 422 1041 760 291 3642

Nguồn [37]



* Chế độ gió mùa

Nằm trong khu vực gió mùa Đơng Nam Á, Thừa Thiên Huế chịu sự chi phối

của 2 luồng gió chính trong năm.Về mùa đơng (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau)

hướng gió thịnh hành trên đồng bằng duyên hải có hướng Tây Bắc với tần suất 25 29%, sau đó là gió Đông Bắc đạt tần suất 10 - 15%. Trong mùa hè (tháng 5 - 9) các

hướng gió thịnh hành ở đồng bằng duyên hải khá phức tạp và xấp xỉ nhau, trong đó

hướng Nam đạt 10 - 16%, Tây Nam khoảng 11 - 14% và Đông Bắc là 10 - 16%.

Tốc độ gió trung bình tháng khơng lớn, dao động từ 1,0 đến 8,6m/s và ít thay

đổi theo mùa. Tốc độ gió trung bình năm lớn nhất ở đồng bằng duyên hải là 1,8m/s .

Mặc dù tốc độ gió trung bình tháng, trung bình năm khơng lớn, nhưng ở Thừa Thiên

Huế vẫn thường xảy ra gió mạnh với các hướng khác nhau, khi có bão, lốc, tố, gió

mùa Đơng Bắc hoặc gió mùa Tây Nam.

* Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt:

Gió Tây Nam khơ nóng: Gió này bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng II, kết

thúc vào đầu tháng IX ở đồng bằng duyên hải, vùng gò đồi. Số ngày có gió Tây

Nam khơ nóng trung bình hàng năm trên đồng bằng là 35 ngày. Mỗi đợt gió Tây

Nam khơ nóng kéo dài 2 - 3 ngày (đầu, cuối mùa) đến 3 - 5 ngày (giữa mùa).

Bão: Mùa bão ở Thừa Thiên Huế bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng XI

hàng năm, trong đó tháng IX chiếm tần suất cao nhất với 35%, sau đó đến tháng X

chiếm 20%, tháng 6, 8, 11 chiếm 10%, tháng 5, 7 chiếm 7,5%. Trung bình hàng

năm có 0,7 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến đồng bằng Thừa Thiên Huế, năm nhiều



45



bão nhất là 3 cơn (1971), năm ít bão nhất khơng có cơn nào. Tần suất khơng có bão

chiếm trên 50%.

Một số hiện tượng thời tiết khác như dơng, gió lốc, mưa đá cũng gây thiệt hại

cho sản xuất và đời sống.

--> Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phân hóa theo mùa và theo vùng đã

tạo nên những nét đặc trưng trong phát sinh, thoái hố đất.

Nhiệt độ trung bình năm cao, biên độ nhiệt ngày và năm tương đối lớn, đã

thúc đẩy quá trình khoáng hoá, phong hoá hoá lý xảy ra mạnh, tốc độ phân giải chất

hữu cơ cao. Trong đó, ở vùng đồi và đồng bằng ven biển có chế độ nhiệt cao nên

hầu hết chất hữu cơ rơi rụng bị phân huỷ nhanh, rửa trôi dẫn đến đất nghèo mùn và

dinh dưỡng. Đặc biệt là đạm trong đất bị bay hơi vào khơng khí do nắng nóng.

Lượng mưa trung bình năm lớn, tập trung theo mùa, với cường độ lớn (nhất

là vào mùa mưa bão). Đây là nguyên nhân dẫn đến xói mòn rửa trơi đất ở vùng đồi

núi dốc và sạt lở, ngập lụt, vùi lấp đất canh tác ở chân núi, thung lũng, đồng bằng.

Vào mùa khơ, mưa ít, độ ẩm khơng khí thấp, bốc hơi cao nên đất bị bốc mặn

khô hạn kéo dài ở vùng đồng bằng ven biển.

2.1.1.5. Thủy văn

Sơng ngòi: Vùng đồng bằng TTH có hệ thống sơng ngòi khá dày, mật độ

trung bình 0,7 – 1,1km/km2 tuy nhiên phân bố khơng đồng đều có xu hướng giảm từ

bắc vào nam. Nơi đây tập trung hạ lưu của các sơng chính: sơng Ơ Lâu, Bồ, Hương,

Nơng, Truồi, Bù Lu. Trong đó có 2 hệ thống sơng lớn là sơng Hương và sơng Ơ Lâu.

- Chế độ dòng chảy trên các sơng ngòi biến động mạnh và phụ thuộc chặt

chẽ vào khí hậu, mùa lũ và mùa cạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô trong năm.

Mùa lũ trên các sông kéo dài 3 tháng, bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 12,

chiếm 60 - 80% lượng dòng chảy năm. Thời gian lũ trên các sông tương đối ngắn

nhưng cường độ và biên độ lũ lớn, lưu lượng mùa lũ đạt trên 1.200 m 3/s. Mùa cạn

kéo dài 9 tháng, bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 9. Ba tháng có dòng chảy

nhỏ nhất là 2, 3, 4 tương ứng với thời kỳ ít mưa ở Thừa Thiên Huế. Lưu lượng dòng

chảy trung bình các tháng mùa cạn rất thấp, nhất là các tháng kiệt.

Hệ đầm phá ven biển: Hệ đầm phá Thừa Thiên Huế bao gồm đầm phá Tam

Giang - Cầu Hai và đầm biệt lập An Cư, có tổng diện tích mặt nước 231 km 2 [30].

Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai gồm 3 đầm, phá hợp thành: phá Tam Giang, đầm

Thủy Tú và đầm Cầu Hai.

46



Chế độ thủy văn đầm phá ven bờ vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ

thủy văn sông suối, chế độ hải văn biển ven bờ và hình dạng, độ sâu của thủy vực.

Khu vực cửa Thuận An và phá Tam Giang có chế độ bán nhật triều khơng đều, đầm

An Cư và đầm Cầu Hai có chế độ bán nhật triều đều. Mực nước trong đầm phá biến

động rất phức tạp. Vào mùa khô, thường thấp hơn đỉnh triều ngồi biển ven bờ, nên

tình trạng bị mặn hóa dễ xảy ra. Vào mùa mưa, lại cao hơn mực nước ở biển ven bờ.

Vùng đồng bằng TTH có địa hình phức tạp, chế độ thủy văn mang tính đặc

thù nên vùng đồng bằng có q trình tích tụ mẫu chất khá đặc trưng, hình thành

nhiều loại đất có nguồn gốc trầm tích khác nhau như đất cát biển, đất phù sa, đất

mặn, đất phèn… đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến q trình thối hóa đất.

2.1.1.6. Thổ nhưỡng

Là vùng có diện tích đất tự nhiên khơng lớn nhưng thổ nhưỡng có sự phân hóa

đa dạng, với 9 nhóm đất khác nhau:

a, Nhóm cồn cát và đất cát biển (Arenosols): Nhóm đất này có diện tích

45088,01ha, chiếm 42,7% tổng diện tích tự nhiên tồn đồng bằng. Gồm 2 loại là:

Cồn cát trắng vàng và đất cát biển.

* Cồn cát trắng vàng (Luvic Arenosols): Có diện tích 20.760,55ha, chiếm

19,64% tổng diện tích tự nhiên đồng bằng , phân bố ở các huyện có địa hình ven

biển như Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc.

Đất được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Cát màu vàng có nguồn

gốc biển - gió, phân bố thành dãy cồn - đụn cát ven biển và các bãi biển kéo dài từ

Điền Hương qua Hải Dương, Phú Diên đến Vinh Hiền, Lộc Hải. Cát xám trắng chủ

yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao nội đồng từ Phò Trạch đến

Phong Điền, từ Phú Đa đến Vinh Thái. Cát xám trắng cũng được phát hiện ở Vinh

Thanh - Vinh Hiền và rải rác ở ven rìa đồng bằng. Cát vàng nghệ nguồn gốc biển

phần lớn bị cát vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ. Loại cát vàng nghệ xuất

lộ trên diện rộng ở Phú Bài, Lăng Cô, Bồ Điền và chỏm nhỏ ở Vinh Thanh.

Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc và

thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính. Thành phần cơ

giới rất nhẹ, rời rạc. Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ

lệ cát khô khá cao. Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di dộng

của cát đang thường xuyên xảy ra. Những nơi có địa hình thấp thì đã có sự phân hóa

47



về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu

xám vàng xen vệt trắng. Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation

trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém.

Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang.

* Đất cát biển (Dystric Arenosols): Có diện tích 24.327,46ha, chiếm 23,01%

tổng diện tích tự nhiên đồng bằng, phân bố khơng thành dải dài tiên tục, có ở khu

vực ven biển tất cả các huyện của tỉnh, gồm: Quảng Điền, Hương Thủy, Hương Trà,

Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc.

Đất cũng được hình thành do q trình bồi tích của biển nhưng đã được khai

thác sử dụng từ lâu đời, vì vậy tính chất lý hóa học của đất đã được cải tạo nhằm

phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa khá rõ,

lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám sáng, có nơi hơi vàng; các tầng dưới

thường chặt, khả năng tích lũy oxyt sắt lớn nên màu sắc thường vàng hoặc vàng

nhạt. Thành phần cơ giới cát đến cát rời - cát pha, nghèo mùn và các chất dinh

dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ lệ cấp hạt sét cao hơn, kết cấu đất tốt

hơn, hàm lượng mùn cao hơn, nên khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn nhiều.

b, Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols): Đất mặn chiếm 7.888,46ha, chiếm 7,46%

diện tích đất tự nhiên và có 2 loại là: Đất mặn nhiều và đất mặn ít và trung bình.

* Đất mặn nhiều (Hyper Salic Fluvisols): Diện tích có 374,75ha, chiếm

0,35% diện tích đất tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở huyện Phú Vang. Đất được hình

thành do bồi tụ của phù sa sơng, biển hoặc tác động hỗn hợp sông biển, nhưng do

phân bố ở địa hình thấp, ven đầm phá và chịu ảnh hưởng trực tiếp của nguồn nước

mặn nên đất bị mặn nhiều (hàm lượng Cl - dao động từ 0,05 - 0,15%). Đất thường có

màu tím hoặc nâu hơi xám đen. Thành phần cơ giới rất khác nhau tùy thuộc vào

nguồn gốc đất bị mặn, nơi đất cát bị mặn thì có thành phần cơ giới nhẹ, nơi nào đất

phù sa bị mặn thì lại rất nặng. Đất có phản ứng ít chua đến trung tính; nghèo mùn,

đạm tổng số nghèo - trung bình, nghèo lân tổng số cũng như dễ tiêu; cation trao đổi

Ca2+ và Mg2+ khá.

* Đất mặn ít và trung bình (Molli Salic Fluvisols):

Diện tích có 7.513,71ha, chiếm 7,11% diện tích đất tự nhiên, phân bố tập

trung ven đồng bằng tiếp giáp vùng đất mặn nhiều, ven sông lớn hoặc các kênh

rạch, đầm phá thuộc các huyện Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà và Quảng Điền.

48



Loại đất này có địa hình cao hơn, được hình thành do ảnh hưởng của mạch nước

ngầm mặn hoặc do ảnh hưởng của nguồn nước mặn tràn vào khơng thường xun.

Hình thái phẫu diện thường có màu xám hơi tím hoặc nâu tím nhạt, các lớp dưới có

màu xám nâu hoặc xám xanh. Thành phần cơ giới cũng rất khác nhau tùy thuộc vào

nguồn gốc phát sinh. Đất có phản ứng trung tính. Hàm lượng mùn trung bình (1 1,5%), đạm tổng số trung bình, lân tổng số hơi nghèo - trung bình, nhưng lân dễ tiêu

rất nghèo, hàm lượng tổng số muối tan dao động từ 0,3 - 0,91%.

c, Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols)

Nhóm này chỉ có 1 loại đất là đất phèn ít và trung bình, mặn nhiều (Sali

Hyper Thionic Fluvisols), có diện tích 5.038,35ha, chiếm 4.77% diện tích đất tự

nhiên, phân bố ở các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Quảng

Điền và Phong Điền. Đất hình thành ở địa hình thấp trũng, khó thốt nước, có nhiều

chất hữu cơ, thường chịu ảnh hưởng của nước mặn hoặc nước lợ hiện đại hoặc q

khứ, mơi trường tích lũy nhiều lưu huỳnh từ nước biển, nước lợ hay xác hữu cơ.

Thực vật phổ biến là cỏ năn (Heleochasia dulcis), lác (Cyperus malaceensiss),

tràm,... Hình thái phân hóa khá rõ: xuất hiện tầng chứa vật liệu phèn và tầng phèn

có các đốm màu vàng rơm (Jarosite), lớp mặt thường có màu xám hơi đen, tầng kế

tiếp thường có màu vàng có các đốm đỏ, một vài nơi gặp kết von hình ống. Thành

phần cơ giới thường nặng, đất rất chua, hàm lượng mùn ở tầng mặt khác, đạm và

kali tổng số khá, lân tổng số và lân dễ tiêu rất nghèo.

d, Nhóm đất phù sa (Fluvisols) : Đất phù sa có 32.745,16 ha, chiếm 31%

diện tích đất tự nhiên, gồm 7 loại đất là: Đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa

không được bồi hàng năm, đất phù sa glây, đất phù sa có tầng loang lổ đá vàng, đất

phù sa úng nước, đất phù sa phủ trên nền cát biển và đất phù sa ngòi suối.

* Đất phù sa được bồi hàng năm (Dystric Fluvisols): Có diện tích 35,27

ha, chiếm 0,03% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở Phú Lộc, Phong Điền và một số ít

ở thành phố Huế. Đất được hình thành do lắng đọng phù sa sơng, nhưng do các

sơng ở Thừa Thiên Huế đều có vận tốc dòng chảy lớn, nên lắng đọng được các sản

phẩm thơ, vì vậy đất có thành phần cơ giới nhẹ, hình thái phẫu diện tương đối đồng

nhất về thành phần cơ giới và màu sắc. Một vài nơi cũng gặp hiện tượng phân hóa

về thành phần cơ giới, nhưng khơng phải do q trình rửa trơi mà do các lớp bồi

tích ở từng đợt lũ khác nhau. Đất có phản ứng chua vừa, hàm lượng mùn ở tầng mặt

49



trung bình (1 - 1,5%), đạm tổng số và lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, độ no

bazơ trung bình (50 - 60%).

Như vậy, loại đất này có độ phì tự nhiên khá, lại có những ưu điểm như:

thành phần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp, tầng đất dày, thốt nước tốt, nên thích hợp với

nhiều loại cây trồng như: ngô, đậu, lạc, rau màu..., tuy vậy, do địa hình thấp nên lưu

ý khi bố trí cây trồng phải lựa chọn thời vụ để tránh mùa ngập lụt.

* Đất phù sa khơng được bồi hàng năm (Dystric Fluvisols):

Diện tích có 18.078,01ha, chiếm 17,10% tổng điện tích tự nhiên, phân bố ở

các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền

và một ít ở thành phố Huế. Đất cũng có nguồn gốc hình thành như đất phù sa được

bồi hàng năm nhưng do phân bố ở xa sơng hoặc ở địa hình cao, nên rất ít được bồi

đắp phù sa. Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ

đến sét. Đất có phản ứng chua; hàm lượng mùn từ trung bình - hơi nghèo (0,9 - 1,5%),

đạm tổng số trung bình (0,08 - 0,1%), lân tổng số khá (0,1 - 0,12%), lân dễ tiêu trung

bình, độ no bazơ thấp - trung bình (40 - 55%).

* Đất phù sa glây (Gleyic Fluvisols): Có diện tích 6.819,1ha, chiếm 6,45%

diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Phú Lộc, Hương Trà, Phú Vang, Quảng

Điền và Phong Điền. Đất cũng được hình thành do quá trình lắng đọng phù sa,

nhưng phân bố ở địa hình thấp, khó thốt nước. Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ

lệ sét vật lý cao, chặt, bí, trong đất các q trình khử xảy ra mãnh liệt, hình thái

phẫu diện thường có màu xanh ánh thép nguội, dính dẻo, glây trong tồn phẫu diện,

màu xám xanh có xen lẫn những vệt vàng. Đất có phản ứng chua vừa (pH KCl dao

động từ 4,4 - 4,8), mùn ở tầng mặt khá cao (2 - 3%), đạm, lân tổng số và cation trao

đổi đều thuộc loại khá.

* Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Dystric Plinthosols): Diện tích

4.247,48ha, chiếm 4,02% diện tích tự nhiên đồng bằng, phân bố ở thành phố Huế và

các huyện: Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Lộc.

Đất cũng có nguồn gốc hình thành như các loại đất cùng nhóm, nhưng phân bố ở

địa hình vàm cao hoặc cao, có chế độ nước khơng đều trong năm, mùa mưa cũng bị

ngập nhưng mùa khô đất bị thiếu nước nghiêm trọng. Vì vậy trong đất xảy ra 2 quá

trình: q trình khử và q trình oxy hóa; mùa mưa ngập nước thì q trình khử xảy

ra mạnh, mùa khơ thì q trình oxy hóa xảy ra, Fe 2+ bị oxy hóa thành Fe3+ tạo ra

50



những vệt loang lổ đỏ vàng trong phẫu diện đất. Đất có khả năng thốt nước tốt, q

trình rửa trơi trọng lực trong phẫu diện đất xảy ra mạnh, thành phần cơ giới trung

bình, có phản ứng chua vừa đến ít chua (pHKCl 4,6 - 5,5), hàm lượng mùn trung bình

(1,5 - 2%), đạm tổng số khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo.

* Đất phù sa phủ trên nền cát biển (Areni Dystric Fluvisols): Diện tích

3.565,30 chiếm 3,37% diện tích tự nhiên đồng bằng, phân bố ở vùng chuyển tiếp

giữa đồng bằng phù sa với dải cát biển hoặc cồn cát trắng vàng, có nhiều ở các

huyện Phú Vang, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Lộc. Đất hình thành do

quá trình bồi lắng của phù sa trên nền cát biển. Độ dày của lớp phù sa phụ thuộc rất

nhiều vào khả năng bồi đắp của hệ thống sơng và địa hình của vùng cát trước khi

bồi đắp. Thành phần cơ giới đất tầng mặt từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, dưới lớp

phù sa là cát trắng xám hoặc cát vàng nhạt; đất có phản ứng chua vừa đến ít chua;

tầng mặt có hàm lượng mùn trung bình (1 - 1,5%), nghèo đạm, nghèo lân tổng số

cũng như dễ tiêu.

* Đất phù sa úng nước (Stagni Dystric Fluvisols): Diện tích 2.200ha, chiếm

2,08% diện tích tự nhiên của tỉnh. Là một loại đất trong nhóm đất phù sa, nhưng

phân bố ở địa hình trũng dạng lòng chảo khó thốt nước, được coi là địa hình tích

đọng, đất ngập nước quanh năm nên hạn chế q trình khống hóa, ngược lại q

trình tích lũy mùn mạnh, nên giàu mùn, đất bị glây mạnh, rất chua, đạm tổng số

giàu, nhưng nghèo lân và kali tổng số cũng như dễ tiêu. Đây là loại đất có nhiều yếu

tố hạn chế, khơng chỉ do ngập úng mà trong đất chứa nhiều chất độc cho cây như:

Al3+ di động, H2S, CH4,... vì thế đất thường cho năng suất lúa thấp, khơng ổn định.

* Đất phù sa ngòi suối (Dystric Fluvisols): Diện tích 590ha, chiếm 0,56%

diện tích tự nhiên đông bằng, phân bố tập trung ở Phong Điền, Phú Lộc. Đất hình

thành do sự lắng đọng của phù sa suối, nên thành phần cơ giới thường thô, nhẹ, lẫn

nhiều khống vật ngun sinh bền. Độ phì nhiêu tự nhiên tùy từng nơi mà rất khác

nhau, nhưng nói chung đất có phản ứng chua đến rất chua, hàm lượng mùn trung bình,

đạm tổng số khá, lân và kali nghèo.

e, Đât lầy (Gieysols)

Diện tích 24,77ha, chiếm 0,02% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở Phong

Điền, Phú Lộc. Đất được hình thành ở những địa hình thấp, trũng, quanh năm đọng

nước hoặc ở những nơi có mực nước ngầm dâng cao gần mặt đất. Quá trình glây

51



xảy ra trong đất lâu ngày, kết cấu bị phá hủy, đất trở nên nhão nhoét toàn phẫu diện,

phản ứng đất rất chua, hàm lượng mùn rất giàu, đạm giàu, lân tổng số trung bình,

nhưng lân dễ tiêu nghèo, trong đất chứa rất nhiều chất độc có hại cho cây trồng.

f, Nhóm đất xám bạc màu (Acrisols)

Diện tích 79,08ha, chiếm 0,07% tổng diện tích tự nhiên và chỉ có 01 loại đất

là đất xám phát triển trên đá macma axit và đá cát, phân bố chủ yếu vùng lâm

trường thuộc các xã Phong Sơn, Phong An huyện Phong Điền. Đất có thành phần cơ

giới nhẹ, thơ, lẫn nhiều khống vật ngun sinh bền. Phân bố ở địa hình dốc, nên

q trình rửa trơi xảy ra mạnh, mùn và sắt bị rửa trôi, nên tầng đất mặt bị bạc màu

trở nên xám trắng. Mùn, đạm, lân, kali, cation trao đổi đều rất nghèo, phản ứng của đất

chua, độ no bazơ thấp.

g, Nhóm đất đỏ vàng (Acrisols)

Đất đỏ vàng có diện tích 9.885,11ha, chiếm 9,35% tổng diện tích tự nhiên,

bao gồm 5 loại đất là: Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất vàng đỏ trên đá

macma axit, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng

biến đổi do trồng lúa.

* Đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và đá biến chất (Ferralic Acrisols): Diện

tích 3.643,20 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện: Phong Điền

(40,86%), Hương Thủy (3,02%), Nam Đông (2,31%), Hương Trà (2,13%), Huế

(2,16%), Phú Lộc (1,82%). Tầng đất dày trên 1,5m, thành phần cơ giới trung bình

và nặng, thường có kết cấu cục, hạt, lớp đất mặt khá tơi xốp. Hàm lượng mùn khá,

đạm tổng số trung bình, nhưng các chất dinh dưỡng khác như lân và kali tổng số

cũng như dễ tiêu đều nghèo. Phản ứng của đất từ chua đến rất chua, độ no bazơ

thường dưới 50%. Đây là loại đất có diện tích lớn nhất và là loại đất có tính chất tốt

trong các loại đất đồi núi của tỉnh, hiện đang được sử dụng có hiệu quả trong sản

xuất nơng lâm nghiệp.

* Đất đỏ vàng phát triển trên đá macma axit (Ferralic Acrisols): Diện tích

4.198,63ha, chiếm 3,97% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện: Phú Lộc, Hương

Thủy, Hương Trà, Phong Điền.

Đất chua, độ no bazơ nhỏ hơn 50%, nghèo mùn, đạm, lân; hàm lượng kali

khá hơn so với loại đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất có hàm lượng cấp

hạt sét thấp (nhỏ hơn 20%, nếu tính cả cấp hạt sét vật lý thì cũng chỉ đạt xấp xỉ

30%), vì thế dung tích hấp thu thấp, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng kém.

52



* Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát (Ferralic Acrisols): Diện tích

1.100,57ha, chiếm 71,04% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện: Phong Điền

(91,75%), Hương Trà (2,53%), Hương Thủy (2,10%).

Tính chất chung là thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cấp hạt cát rất cao, đất

khơng có kết cấu hoặc kết cấu rất kém. Tầng đất mỏng (30 - 60cm). Phẫu diện

tầng trên mỏng (10 - 15cm) có màu xám sáng, thành phần cơ giới cát - cát pha,

kết cấu rời rạc, độ xốp 40 - 45%; tầng đất dưới 50cm có màu vàng sáng, cát pha,

rời rạc.

Đất rất chua, hàm lượng mùn thấp (< l%), lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo rất nghèo, kali ở mức nghèo - trung bình; dung tích hấp thu rất thấp nên khả năng

giữ nước, giữ chất dinh dưỡng kém. Nói chung đây là loại đất có tính chất xấu, độ

phì tự nhiên thấp, rất dễ biến thành đất trơ sỏi đá nếu khơng có phương thức bảo vệ

khi khai thác sử dụng.



53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Phức hệ Meozoi hạ: gồm các thành tạo macma xâm nhập phức hệ Chà Val (νaT3cv), Hải Vân (γT3hv) phân bố trên diện rộng tạo thành dãy núi địa lũy hay các

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×