Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

tác hại hay nguy cơ gây hại, thực hiện các lợi ích gắn liền với biến động của khí hậu

và biến đổi khí hậu (UKCIP, 2003).

Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối

với hồn cảnh hoặc mơi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn

thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do

nó mang lại (MONRE, 2008).

Sự khác nhau giữa các định nghĩa này là do những kỳ vọng khác nhau của mỗi bên

liên quan, tùy thuộc vào ý nghĩa của nó mà quyết định sử dụng trong hồn cảnh phù hợp.

Tuy nhiên, IPCC cung cấp một khái niệm rộng hơn, bao gồm phân biệt các loại hình

thích ứng, biện pháp thích ứng mang tính kỹ thuật, thể chế ứng phó và còn bao gồm

thích ứng của hệ thống tự nhiên, kể cả con người nên được đề tài vận dụng trong nghiên

cứu.

1.1.2. Biểu hiện của BĐKH

1.1.2.1. Trên toàn cầu

 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

Nhiệt độ tăng, khí hậu Trái Đất nóng lên: Theo IPCC, nhiệt độ khơng khí

của Trái Đất đang có xu hướng tăng khiến cho Trái Đất nóng lên, cao hơn nhiệt độ

trung bình hiện nay (150C). Từ năm 1850 đến nay, nhiệt độ trung bình đã tăng 0,740C;

trong đó nhiệt độ tại 2 cực của Trái Đất tăng gấp 2 lần so với số liệu trung bình tồn

cầu, nhiệt độ trên đất liền tăng nhiều hơn ở trên biển. (Hình 1.1).



Hình 1.1 Sự thay đổi nhiệt đợ trung bình tồn cầu từ năm 1880 đến năm 2010

Nguồn [6]



20



Nhiệt độ trung bình của Trái Đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 - 1940,

sau đó giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại tiếp tục tăng từ sau năm

1975. Đây là thời kỳ nhiệt độ Trái Đất cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây và

thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua [6].

Bước sang thế kỷ 21, nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng. Năm 2003 nhiệt độ

trung bình của Trái Đất tăng 0,460C so với trung bình của thời kỳ 1971 - 2000, trong

đó chuẩn sai nhiệt độ ở bán cầu Bắc là +0,59C, ở bán cầu Nam là + 0,320C.

Các dự tính của các nhà khoa học cho thấy đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung

bình của Trái Đất có thể sẽ tăng 2,0-4,5 0C so với cuối thế kỷ 20. Trái Đất sẽ nóng

lên khá rõ rệt [6].

Mực nước biển dâng cao: Các đo đạc và tính tốn cho thấy cùng với sự tăng

lên của nhiệt độ là sự tăng lên của mực nước biển trên các đại dương thế giới. Tính

chung, mực nước biển trung bình lên 10 - 25cm với tốc độ tăng trung bình 1 2mm/năm trong thế kỷ 20. Thời kỳ 1993 - 2003 mức nước biển đã dâng cao khoảng

2,8mm/năm, trong đó tăng khoảng 1,6mm/năm do giãn nở nhiệt độ và khoảng

1,2mm/năm do băng tan. Đang chú ý là trong thời gian gần đây, thời kỳ 1993 - 2003,

mực nước biển dâng nhanh đáng kể so với khoảng thời kỳ trước đó từ 1961 – 2003 [6].



Hình 1.2. Mực nước biển trung bình và xu thế mực nước biển toàn cầu giai

đoạn 1992-2011

Nguồn [6]



21



Sự thay đổi thành phần của khí quyển: Tác động của những hoạt động do

con người gây ra cùng với những tác động của tự nhiên như núi lửa, cháy rừng, hạn

hán, bão, lũ lụt đã làm cho thành phần của khí quyển thay đổi rất nhiều. Đó là sự gia

tăng của các chất khí nhà kính trong khí quyển, tuy chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, nồng độ

rất thấp so với hai chất khí chủ yếu là nitơ (78%) và ôxi (21%) nhưng tác hại của

chúng lại rất lớn [6].

Sự xuất hiện và có chiều hướng gia tăng của các thiên tai: Các thiên tai có

liên quan đến khí quyển, đến sự BĐKH trên quy mơ tồn cầu như bão lớn (siêu bão) lốc

xoáy, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, trở nóng, trở lạnh... xảy ra thường xuyên hơn, đột ngột và

bất thường hơn, trái với các quy luật thông thường, cường độ cũng lớn hơn, quy mô cũng

rộng lớn hơn. Các thiên tai này đã gây nên những thiệt hại vô cùng nặng nề, những thảm

hoạ cho nhân loại do khó dự báo trước, khó phòng tránh và lường trước hết các hậu quả

do chúng mang lại [6].

 Kịch bản Biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21

- So với trung bình thời kỳ 1988 - 2005: Nhiệt độ trung bình tồn cầu vào

cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 1,8 0C (RCP4.5) và tăng khoảng 3,70C (RCP8.5). Lượng

mưa tăng ở vùng vĩ độ cao và trung bình, giảm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Mực nước biển tiếp tục tăng trong thế kỷ 21 với tốc độ lớn hơn 2,0 mm/ năm. Mực

nước biển dâng trung bình tồn cầu vào cuối thế kỷ 21 tăng 47 cm (RCP4.5) và tăng

khoảng 63 m (RCP8.5) [53], (bảng 1.1 và phụ lục 2).

- Về các hiện tượng thời tiết cực đoan: Cực đoan nhiệt độ có xu thế tăng,

theo kịch bản RCP8.5, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ngày lạnh nhất tăng từ 5 0C đến

100C; nhiệt độ ngày nóng nhất tăng từ 50C đến 70C; Mưa cực trị có xu thế tăng. Dự

tính lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong năm (tính trung bình 20 năm) tăng 5,3% ứng

với mức tăng 10C của nhiệt độ trung bình. Gió mùa có xu hướng tăng về phạm vi và

cường độ trong thế kỷ 21. Thời điểm bắt đầu của gió mùa xảy ra sớm hơn và kết

thúc muộn hơn dẫn đến sự chậm pha của mùa mưa. Bão mạnh có chiều hướng gia

tăng, mưa lớn do bão gia tăng [53].



22



Bảng 1.1. Mức tăng nhiệt độ và mực nước biển dâng toàn cầu cuối thế kỷ 21 so với

thời kỳ 1986 - 2005

Thời kỳ



2046 - 2065



2081 - 2100

Khoảng



Kịch bản



Trung bình



RCP2.6



1.0



giới hạn

0.4-1.6



RCP4.5



1.4



RCP6.0



Trung bình



Khoảng



1.0



giới hạn

0.3-1.7



0.9-2.0



1.8



1.1-2.6



1.3



0.8-1.8



2.2



1.4-3.1



RCP8.5



2.0



1.4-2.6



3.7



2.6-4.8



Kịch bản



Trung bình



Khoảng

giới hạn



Trung bình



Khoảng

giới hạn



Mực nước biển



RCP2.6



24



17-32



40



26-55



trung bình (cm)



RCP4.5



26



19-33



47



32-63



RCP6.0



25



18-32



48



33-63



RCP8.5



30



22-38



63



45-82



Mức tăng

nhiệt độ trung

0



bình ( C)



Nguồn: [53].

1.1.3.2. Ở Việt Nam

 Biểu hiện Biến đổi khí hậu

Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,7 0C, mực

nước biển dâng khoảng 20cm. Hiện tượng Elnino, Lanina ngày càng tác động mạnh

mẽ đến Việt Nam. BĐKH thực sự đã làm cho các loại hình thiên tai mà đặc biệt là

bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt [6].

Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP): Việt

Nam nằm trong số 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi

khí hậu và khi mực nước biển tăng 1m ở Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11%

người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn thóc)

và 10% GDP.



23



Bảng 1.2: Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các

vùng khí hậu của Việt Nam

Nhiệt đợ (OC)



Lượng mưa (%)

Năm



Thời

kỳ XIIV



Thời

kỳ V-X



Năm



0,5



0,5



6



-6



-2



1,5



0,3



0,6



0



-9



-7



Đồng bằng Bắc

Bộ



1,4



0,5



0,6



0



-13



-11



Bắc Trung Bộ



1,3



0,5



0,5



4



-5



-3



Nam Trung Bộ



0,6



0,5



0,3



20



20



20



Tây Nguyên



0,9



0,4



0,6



19



9



11



Nam Bộ



0,8



0,4



0,6



27



Vùng khí hậu



Tháng

I



Tháng

VII



Tây Bắc Bộ



1,4



Đơng Bắc Bộ



6

9

Nguồn: IMHEN/2010

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm



thường vượt quá 200C, lượng mưa trung bình 1500 mm. Mùa lạnh và khô từ tháng

11 đến tháng 4, còn mùa nóng diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10. Tuy nhiên, các chỉ số

này thay đổi theo từng vùng miền, từng địa hình và theo cả địa hình cho nên mùa

mưa với lũ lụt và mùa khơ với hạn hán thường mang tính cực đoan và gây nhiều

hậu quả nghiêm trọng. Việt Nam nằm dọc theo đường di chuyển bão Tây - Bắc Thái

Bình Dương và là một trong 10 nước trên thế giới được coi là dễ bị tổn thương nhất

trước áp thấp nhiệt đới. Trung bình mỗi năm có 6 - 7 trận bão hay áp thấp nhiệt đới

ảnh hưởng đến vùng bờ biển của Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc và miền Trung.

Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam cho thấy, từ năm 1900 đến năm 2000, nhiệt

độ trung bình tăng 0,10C một thập kỷ. Mùa hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các

tháng hè tăng từ 0,10C đến 0,30C một thập kỷ. Nếu so với năm 1990, nhiệt độ tăng

trong khoảng từ 1,4 - 1,50C vào năm 2050 và từ 2,5 - 2,8 0C vào năm 2100. Điều này

cho thấy xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên. Mùa nóng sẽ khắc nghiệt,

và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở các vùng miền. Mùa

khơ sẽ càng sâu sắc và có nguy cơ biến các vùng dễ bị tổn thương như Nam Trung

Bộ thành bán hoang mạc. Phần lớn diện tích vùng ven bờ của Việt Nam bị đe dọa

ngập lụt hàng năm, trong đó có ĐB sơng Cửu Long chiếm 75% tổng diện tích, và

24



10% diện tích của ĐB sơng Hồng. Ở một số khu vực như các tỉnh miền Trung và

ĐB sông Cửu Long, lũ xuất hiện với cường độ ngày càng tăng. Các trận bão gần

đây mà Việt Nam phải hứng chịu đã trở nên khốc liệt và quỹ đạo các trận bão dường

như đã chuyển hướng về phía Nam - vốn là những mảnh đất an toàn.

Theo chương trình MT của LHQ (1993) mực nước biển bao quanh Việt Nam

đã dâng cao 5cm từ giữa 1960 đến năm 1990. Tổng cục Khí tượng - Thủy văn ước

tính mực nước biển đang dâng cao với tốc độ trung bình là 2mm/năm. Hiện tượng

xói lở bờ biển cũng đã và đang xảy ra như ở Cà Mau có một số địa phương bị xói lở

600 ha với các dải đất rộng 200m bị mất. Theo ông Bernard Ơ Callaghan - điều phối

viên chương trình của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới cho biết: “Mực nước

biển dâng cao, như dự báo vào năm 2030, sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của

ĐB sơng Cửu Long có nguy cơ nhiễm mặn cực độ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt.

Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9%. Nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn

ĐBSCL sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm”.

Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong 2 thập kỷ

gần đây (cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15 - 16

đợt khơng khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (tháng 11 đến tháng 3) thấp dị thường

(0 - 1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994,

2/1997, 11/1997). Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh

BĐKH tồn cầu là đợt khơng khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong

tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp [6].

Trong những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quĩ đạo

bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều

cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn. Trận lụt lịch sử diễn ra vào cuối năm

1999 đã cướp đi 800 sinh mạng và gây thiệt hại hơn 300 triệu USD; sự tàn phá của

cơn bão Xangsane (tháng 10/2006) với sức gió mạnh lên đến trên cấp 13 (149km/h),

gió giật lên đến 205km/h làm sóng biển dâng cao 7m.

Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với mức độ

không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu. Hiện

tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt

là ở Trung Bộ và Nam Bộ.

Ở Việt Nam, số liệu mực nước quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt

25



Nam cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm khơng giống nhau.

Hầu hết các trạm có xu hướng tăng, tuy nhiên, một số ít trạm lại khơng thể hiện rõ

xu hướng này. Xu thế biến đổi trung bình của mực nước biển dọc bờ biển Việt Nam

là khoảng 2,8mm/năm.

 Kịch bản Biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21

- Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng năm 2012, dự báo ở Việt Nam vào

cuối thế kỷ 21, mức tăng nhiệt độ từ 1 - 2,20C (B1), từ 1,9 - 3,10C (B2, A1B), từ 2,5 3,70C (A2, A1BI). Mức tăng lượng mưa từ 5 - 6% (B1), từ 2 - 7% (B2, A1B), từ 2 10% (A2, A1BI) (phụ lục 3). Mực nước biển dâng từ 49 - 64 cm (B1), từ 57 - 73 cm

(B2, A1B), từ 78 - 95 cm (A2, A1BI) (bảng 1.3).

Bảng 1.3. Mức tăng nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển dâng ở Việt Nam đến

cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ 1980 - 1999

Kịch bản BĐKH



Mức tăng

nhiệt độ ( 0C)



Mức tăng

lượng mưa (%)



Mực nước biển

dâng (cm)



B1



1 - 2,2



5–6



49 - 64



B2, A1B



1,9 - 3,1



2–7



57 - 73



A2, A1FI



2,5 - 3,7



2 – 10



78 - 95

Nguồn [6]



1.1.3. Nguyên nhân của BĐKH toàn cầu

1.1.3.1. Nguyên nhân do những quá trình tự nhiên

Xuất phát từ nguồn gốc năng lượng chủ yếu cho mọi quá trình tự nhiên cũng

như quyết định sự sống của sinh vật trên Trái Đất là nguồn năng lượng bức xạ mặt

trời. Nguồn năng lượng này tác động trực tiếp tới Trái Đất thông qua những diễn

biến trong khí quyển. Khi nguồn năng lượng này có những biến động bất thường,

tất yếu sẽ dẫn đến những BĐKH Trái Đất. Sự biến động bất thường của nguồn năng

lượng bức xạ mặt trời chiếu tới bề mặt Trái Đất có thể do các nguyên nhân sau:

- Bức xạ mặt trời - nguồn năng lượng chủ yếu của Trái Đất cũng có thể thay đổi.

- Góc nghiêng giữa trục quay của Trái Đất với mặt phẳng hoàng đạo cũng có

sự thay đổi trong q trình hình thành và phát triển của hệ Mặt Trời.

- Khói bụi do hoạt động của núi lửa phun trào hoặc do sự va đập của các

thiên thạch vào Trái Đất gây nên các vụ nổ rất lớn làm lớp khơng khí sát bề mặt đất

bị che phủ mù mịt ngăn cản năng lượng bức xạ mặt trời chiếu tới Trái Đất khiến cho

Trái Đất bị lạnh đi trong một thời gian dài.

26



- Sự biến động của thành phần các chất khí trong khí quyển cũng luôn diễn ra.

Thường là khi thành phần hơi nước và khí CO 2 tăng lên làm cho nhiệt độ khơng khí

cũng tăng lên.

Các q trình tự nhiên này thường diễn ra trong thời gian dài tới hàng triệu năm

và cũng có khi diễn ra theo chu kỳ kế tiếp nhau từ hàng nghìn năm tới hàng chục vạn

năm. Bởi vậy người ta cũng thường nói đó là sự BĐKH trong thời kỳ địa chất.

1.1.3.2. Nguyên nhân do ảnh hưởng hoạt động của con người

Khí hậu của Trái Đất hiện nay đang nóng lên. Những quan trắc và đo đạc

trong vòng hơn 200 năm gần đây người ta nhận thấy nhiệt độ trung bình của Trái

Đất tăng lên có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng nồng độ của các chất khí như

CO2, CH4 và một số chất khí khác. Các chất khí năng có đặc tính hấp thu rất mạnh

nguồn năng lượng bức xạ sóng dài làm cho các lớp khơng khí ở sát mặt đất nóng lên

giống như khả năng giữ nhiệt trong nhà kính.Vì thế các chất khí này được gọi là khí

nhà kính. Sự tăng nồng độ của khí nhà kính sẽ dẫn đến sự tăng hiệu ứng nhà kính

của khí quyển và dẫn đến kết quả là làm tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất.

Theo tính tốn của các nhà khoa học, tỉ lệ phần trăm của các chất khí gây nên

hiệu ứng nhà kính hiện nay là: CO2 50%; CFCs 20%; CH4 16%, O3 8%, N2O 6%; tỉ lệ

phần trăm của các hoạt động con người sản sinh ra các khí nhà kính là: sản xuất điện

năng 21,3%; nơng nghiệp 12,5%; khai thác, chế biến và phân phối nhiên liệu 11,3%;

thương mại và tiêu dùng 10,3%; sử dụng và đốt cháy sinh khối 10,0%; rác thải 3,4%.

Trong số các chất khí nhà kính thì khí CO2 là chất khí đóng vai trò quan trọng

nhất vì nó chiếm tới một nửa khối lượng khí nhà kính và đóng góp tới 60% khả

năng làm tăng nhiệt độ khơng khí. Từ giữa thế kỷ thứ 18 nhân loại bước vào thời kỳ

sản xuất công nghiệp. Hoạt động sản xuất cơng nghiệp đòi hỏi rất nhiều năng lượng,

nguyên liệu. Con người phải đốt nhiều loại nhiên liệu hóa thạch và thải vào khí

quyển ngày càng nhiều CO2. Các số liệu đo đạc cho thấy chỉ trong vòng 250 năm, từ

năm 1750 đến năm 2000, nồng độ khí CO 2 trong khí quyển đã tăng lên khoảng

28%, từ 280ppm lên 370ppm và tính trung bình tổng lượng CO 2 trong khí quyển

tăng từ 0,5 đến 1% mỗi năm.

Lượng CO2 trong khí quyển tăng lên còn do việc sử dụng ngày càng nhiều

các phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là nạn đốt

phá rừng, cháy rừng thải vào khí quyển nhiều khí CO 2 làm giảm hẳn khả năng hấp

27



thụ khí CO2 trong khơng khí. Chính vì thế chỉ số CO 2 được lựa chọn là chỉ tiêu quan

trọng nhất để xác định và tính tốn các kịch bản BĐKH.

Khí CH4 là loại khí nhà kính quan trọng thứ hai sau khí CO 2 chủ yếu do hoạt

động sản xuất nông nghiệp gây ra từ sự phân giải yếm khí của các thải hữu cơ. Khí

CH4 cũng có thể do các mỏ than, giếng dầu và các ống dầu khí rò rỉ ra. Tính chung

nồng độ khí CH4 trong khí quyển tăng lên rất nhanh và hoạt động của con người đã

chiếm một nửa trong số tăng đó.

N2O là khí nhà kính có nguồn gốc tự nhiên, chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong

thành phần khí quyển. Tuy vậy do hoạt động của con người đốt các loại nhiên liệu,

đốt phá rừng, sản xuất các hóa chất, sử dụng phân hóa học đã làm cho nồng độ ôxit

ni tơ tăng lên khoảng 8% trong khoảng 100 năm gần đây và làm tăng 15% lượng

ơxit ni tơ trong khí quyển.

Khí O3 là loại khí nhà kính quan trọng thứ ba sau khí mêtan. O 3 có nguồn gốc

tự nhiên và do hoạt động của con người thải vào khí quyển từ việc sử dụng các

động cơ, các nhà máy điện. Hiện nay hàm lượng khí ơzơn ở tầng đối lưu đã tăng lên

khoảng 35% so với thời kỳ tiền công nghiệp.

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẤT VÀ TÀI NGUYÊN ĐẤT

1.2.1. Khái niệm về đất và tài nguyên đất

1.2.1.1. Đất

Theo Dokuchaev “Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử

phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong

nó. Đất được coi là khác biệt bởi với đá. Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một

loạt các yếu tố tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi” (Vũ

Ngọc Tuyên, 1994; Nguyễn Ngọc Bình, 2007).

Nhìn từ góc độ thổ nhưỡng học, nguồn gốc ban đầu của đất (soil) là từ các

loại đá mẹ nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác động của các

yếu tố lý học, hóa học và sinh học (Nguyễn Mười và cs., 2000).

Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (khí quyển),nước

(thuỷ quyển), sinh vật (sinh quyển), đá mẹ (thạch quyển), qua thời gian lâu dài. Thổ

nhưỡng là một hỗn hợp gồm các khoáng vật do đá mẹ phong hoá dưới tác động của

các nhân tố vật lý, hoá học và chất mùn do xác động thực vật phân huỷ tạo thành

(Vũ Ngọc Tuyên, 1994).

28



1.2.1.2. Tài nguyên đất

Đất bao gồm thành phần vật chất và năng lượng hàm chứa trong nó được phát

sinh sau cùng. Khi đất được đưa vào sử dụng cho con người thì đất là tài nguyên. Tài

ngun đất có khả năng phục hồi song có tính chậm chạp. Để hình thành một phẫu

diện đất hồn chỉnh phải cần đến hàng trăm thậm chí hàng nghìn năm.

1.2.2. Vai trò của đất

Trong các ngành phi nơng nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng

là cơ sở khơng gian và vị trí để hồn thiện q trình lao động, là kho tàng dự trữ

trong lòng đất (các ngành khai thác khống sản). Q trình sản xuất và sản phẩm

được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm

thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất.

Trong các ngành nơng-lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản

xuất, là điều kiện vật chất – cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (ln chịu

sự tác động của q trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo….) và công cụ hay phương tiện

lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Q trình sản xuất nơng-lâm nghiệp ln

liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất.

Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội lòai người, sự hình thành và

phát triển của mọi nền văn minh vật chất-văn minh tinh thần, các tinh thành tựu kỹ

thuật vật chất-văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản- sử dụng đất.

1.2.3. Các nhân tố thành tạo đất

- Đá mẹ: Đất được hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá mẹ. Vai trò của đá

mẹ thể hiện:

+ Cung cấp vật chất khống ngun sinh và thứ sinh, hình thành bộ phận vơ

cơ của đất, giải phóng và hình thành những nguyên tố hóa học trong đất (Si, K,Ca,

Fe, Al...).

+ Ảnh hưởng đến thành phần cơ giới và các tính chất vật lí của đất, độ dày

tầng đất.

- Khí hậu: Khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình hình thành đất:

+ Trực tiếp: Nước mưa quyết định độ ẩm, mức độ rửa trôi, pH của dung dịch

đất và tham gia tích cực vào phong hóa hóa học. Nhiệt độ làm cho đất nóng hay

lạnh, nó thúc đẩy q trình hóa học, hòa tan và tích lũy chất hữu cơ.



29



+ Gián tiếp: Biểu hiện qua thế giới sinh vật mà sinh vật là yếu tố chủ đạo cho

quá trình hình thành đất: biểu hiện qua quy luật phân bố địa lý theo vĩ độ, độ cao và

khu vực.

- Sinh vật: Là nhân tố có tác dụng chủ đạo trong sự hình thành đất.

+ Thực vật có vai trò quan trọng nhất vì nó tổng hợp nên chất hữu cơ từ những

chất vô cơ của đất và của khí quyển – nguồn chất hữu cơ của đất.

+ Vi sinh vật phân hủy, tổng hợp và cố định nitơ (N)

+ Các động vật đất cũng là nguồn cung cấp hữu cơ cho đất, xới đảo đất làm

cho đất tơi xốp, đất có cấu trúc.

- Địa hình

+ Phân bố lại nhiệt ẩm trên bề mặt lục địa. Sự thay đổi độ cao địa hình kéo

theo sự thay đổi độ ẩm và chế độ nhiệt hình thành nên các đai thổ nhưỡng theo

chiều cao. Hướng phơi của sườn cũng ảnh hưởng đến sự hình thành đất.

+ Dạng địa hình (núi, đồi, thung lũng, đồng bằng...) góp phần hình thành các

loại đất khác nhau (phù sa, đất dốc tụ, đất bạc màu)

+ Địa hình phân bố lại vật chất dưới tác dụng của trọng lực do dòng nước chảy

thể hiện qua hiện tượng xói mòn và bồi tụ, hình thành các loại đất tương ứng.

- Yếu tố thời gian

+ Yếu tố này được coi là tuổi của đất. Đó là thời gian diễn ra quá trình hình

thành đất.

+ Tuổi của đất là nhân tố biểu thị thời gian tác động của các yếu tố hình thành

đất dài hay ngắn, còn thể hiện cường độ của các q trình tác động đóĐất có tuổi

càng cao, thời gian hình thành đất càng dài thì sự phát triển của đất càng rõ rệt.

- Con người: Ngày nay hoạt động sản xuất của con người có tác động rất mạnh đối

với quá trình hình thành đất. Tích cực: Sử dụng hợp lí, bảo vệ và cải tạo đất làm cho

độ phì của đất ngày càng tốt hơn. Tiêu cực: Sử dụng đất bất hợp lí dẫn đến xói mòn,

rửa trơi, nhiễm mặn, hoang mạc hóa đất...

1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA BĐKH VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT

1.3.1. Mối quan hệ giữa đặc điểm của đất với các yếu tố khí hậu

1.3.1.1. Vai trò của khí hậu trong quá trình hình thành đất

Theo Tổng cục Quản lý đất đai (2014), các yếu tố khí hậu như mưa, gió,

nhiệt độ, biến thiên nhiệt độ (theo ngày, đêm, theo mùa) có tác dụng mạnh đến sự

hình thành tài ngun đất, cụ thể như sau:

Ảnh hưởng trực tiếp: Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đất được thể hiện ở

lượng nước mưa và nhiệt. Nước và nhiệt độ là tác nhân gây nên phong hóa hóa

30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×