Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Năng suất thực thu: Năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm dao động từ 19,26 đến 22,31 tấn/ha. Năng suất ở công thức TS50:50 (22,31 tấn/ha) đạt cao nhất khi sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ 50% Trichoderma và 50% Streptomyces, cao hơn so với công

Năng suất thực thu: Năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm dao động từ 19,26 đến 22,31 tấn/ha. Năng suất ở công thức TS50:50 (22,31 tấn/ha) đạt cao nhất khi sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ 50% Trichoderma và 50% Streptomyces, cao hơn so với công

Tải bản đầy đủ - 0trang

sinh học, sự sai khác có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ sử dụng chế phẩm sinh học với các

tỷ lệ khác nhau ảnh hưởng tới năng suất của cây ớt, đặc biệt sử dụng kết hợp tỷ lệ 50%

Trichoderma và 50% Streptomyces cho năng suất cao nhất.

3.1.7.3. Kết quả phân tích vi sinh vật đất trước và sau khi bố trí thí nghiệm

Đất là nơi cư trú rộng rãi nhất của vi sinh vật cả về thành phần cũng như số

lượng so với các môi trường khác. Sở dĩ như vậy vì trong đất có điểu kiện nhiệt độ,

ẩm độ thích hợp và nguồn thức ăn phong phú cho vi sinh vật nói chung và vi sinh vật

có lợi đối với cây trồng nói riêng phát triển như nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà

tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, ... Do đó, cần thường

xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất cũng như bổ sung các nguồn vi sinh vật có lợi để

tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ cây trồng phát triển hạn chế mầm bệnh. Kết quả

nghiên cứu cho thấy việc bổ sung chế phẩm từ nấm Trichoderma và xạ khuẩn

Streptomyces khơng chỉ có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của ớt, làm giảm tác

nhân gây bệnh như héo xanh vi khuẩn Ralsonia solanacearum (Bảng 3.11), thán thư

Colletotrichum sp (Bảng 3.12; 3.13) mà nó còn giúp tăng cường các nguồn vi sinh

vật có lợi như vi khuẩn tổng số, nấm sợi, xạ khuẩn, vi khuẩn phân giải xenlulose,

VSV phân giải photphat khó tan, VSV sinh màng nhầy polyssaccaride trong đât

(Bảng 3.9).



57



Bảng 3.9. Kết quả phân tích vi sinh vật đất trước và sau khi bố trí thí nghiệm

Đơn vị tính: CFU/g đất

Khuẩn lạc

Vi khuẩn

tổng số



Nấm sợi



Xạ khuẩn



Cơng thức



Vi khuẩn

phân giải

xenlulose



VSV phân

giải

photphat

khó tan



VSV sinh

màng nhầy

polyssaccaride



2,6x106



1,5x106



5,2x106



3,0x106



1,0x106



1,6x106



Đối chứng



2,2x106



1,4x106



9,0x106



3,5x106



5,7x106



2,0x106



T100



2,5x106



3,5x106



8,2x106



7,2x106



11,5x106



9,5x106



S100



3,0x106



9,4x106



7,1x106



9,5x106



5,2x106



10,7x106



TS50:50



8,8x106



7,0x106



13,7x106



13,0x106



10,0x106



14,0x106



TS70:30



5,0x106



5,0x106



9,0x106



12,5x106



9,0x106



9,5x106



TS30:70



3,7x106



6,0x106



8,5x106



11,2x106



7,5x106



7,5x106



Trước bố trí nghiệm

Sau bố trí thí nghiệm



Từ bảng 3.9 cho thấy ở các cơng thức có xử lý chế phẩm từ nấm Trichoderma và

xạ khuẩn Streptomyces sau khi bố trí thí nghiệm số lượng vi sinh vật trong đất (vi

khuẩn tổng số, nấm sợi, xạ khuẩn, vi khuẩn phân giải xenlulose, VSV phân giải

photphat khó tan, VSV sinh màng nhầy polyssaccaride) đều cao hơn công thức Đối

chứng không xử lý và cao hơn trước bố trí thí nghiệm, cụ thể như sau:

Đối với vi khuẩn tổng số: Trước bố trí thí nghiệm số lượng vi khuẩn tổng số là

2,6x10 CFU/g đất; sau khi bố trí thí nghiệm số lượng vi khuẩn tổng số ở công thức Đối

chứng không xử lý chế phẩm giảm còn 2,2x106 CFU/g đất. Các cơng thức có xử lý chế

phẩm từ nấm Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces số lượng vi khuẩn tổng số đều tăng

hơn so với trước xử lý, trong đó số lượng vi khuẩn tổng số cở công thức TS50:50 là cao

nhất (8,8x106 CFU/g đất) và thấp nhất là công thức T100 (2,5x106 CFU/g đất).

6



Đối với nấm sợi: Trước bố trí thí nghiệm số lượng nấm sợi là 1,5x10 6 CFU/g

đất, sau khi bố trí thí nghiệm số lượng nấm sợi ở cơng thức Đối chứng giảm còn

1,4x106 CFU/g đất. Sau khi bố trí thí nghiệm các cơng thức có xử lý chế phẩm số

lượng nấm sợi đều tăng hơn so với trước bố trí thí nghiệm và cao hơn cơng thức Đối

chứng khơng xử lý chế phẩm, số lượng nấm sợi cao nhất ở công thức S100 là 9,4x10 6

CFU/g đất, cao hơn gấp 6 lần so với trước bố trí thí nghiệm và cao hơn gấp 7,5 lần so

với công thức Đối chứng.

Đối với xạ khuẩn tổng số: Các công thức sau khi bố trí thí nghiệm có số lượng xạ

khuẩn tổng số đều cao hơn trước khi bố trí thí nghiệm, trong đó cơng thức TS50:50 cố số

lượng xạ khuẩn tổng số cao nhất là 13,7x106 CFU/g đất. Số lượng xạ khuẩn tổng số sau

bố trí thí nghiệm cơng thức S100 xử lý 100% chế phẩm từ xạ khuẩn là thấp nhất 7,1x106

CFU/g đất có thể là do xạ khuẩn từ chế phẩm đã ức chế xạ khuẩn tổng số trong đất.

Đối với vi khuẩn phân giải xenlulose: Trước khi bố trí thí nghiệm số lượng vi

khuẩn phân giải xenlulose thấp hơn sau khi bố trí thí nghiệm do đất trồng ớt là đất cát

nghèo dinh dưỡng và nghèo chất hữu cơ, sau khi bố trí thí nghiệm ruộng thí nghiệm đã

được bổ sung phân hữu cơ, đặc biệt là các công thức có xử lý chế phẩm từ nấm

Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces thì số lượng vi khuẩn phân giải xenlulose đã

tăng lên, số lượng vi khuẩn phân giải xenlulose cao nhất ở công thức TS50:50 là

13,0x106 CFU/g đất, cao gấp 2,6 lần số lượng vi khuẩn phân giải xenlulose trước bố trí

thí nghiệm (5,2x106 CFU/g đất).

Đối với VSV phân giải photphat khó tan: Trước khi bố trí thí nghiệm và xử lý chế

phẩm từ nấm Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces, số lượng VSV phân giải photphat

khó tan chỉ có 1,0x106 CFU/g đất. Sau khi bố trí thí nghiệm và xử lý chế phẩm, số lượng

VSV phân giải photphat khó tan ở các công thức đều tăng lên đáng kể, cao nhất ở công

thức T100 xử lý 100% Trichoderma số lượng VSV phân giải photphat khó tan đạt

11,5x106 CFU/g đất, tăng 5,8x106 CFU/g đất so với công thức Đối chứng không xử lý và

10,5x106CFU/g so với trước khi bố trí thí nghiệm và xử lý chế phẩm. Các công thức

59



TS50:50, TS70:30, TS30:70 số lượng VSV phân giải photphat khó tan cũng đều tăng

hơn so với công thúc Đối chứng, số lượng VSV phân giải photphat khó tan ở các cơng

thức này tương ứng là 10,0x106 CFU/g đất; 9,0x106 CFU/g đất; 7,5x106 CFU/g đất.

Riêng công thức xử lý S100, số lượng VSV phân giải photphat khó tan (5,2x106 CFU/g)

có tăng hơn so với trước bố trí thí nghiệm (1,0x10 6 CFU/g đất) nhưng lại giảm so với

công thức Đối chứng không xử lý chế phẩm (5,7x106 CFU/g đất).

Đối với VSV sinh màng nhầy polyssaccaride: Cũng giống như các VSV khác,

số lượng VSV sinh màng nhầy polyssaccaride trong đất đã tăng lên sau khi xử lý chế

phẩm Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces. Trước khi xử lý chế phẩm số lượng

VSV sinh màng nhầy polyssaccaride chỉ có 1,6x106 CFU/g đất. Sau một thời gian xử

lý chế phẩm, ở công thức Đối chứng không xử lý chế phẩm, số lượng VSV sinh màng

nhầy polyssaccaride tăng lên 5,0x106 CFU/g đất. Các cơng thức có xử lý chế phẩm số

lượng tăng hơn nhiều so với đối chứng. Tương ứng với các công thức xử lý chế phẩm

T100, S100, TS50:50, TS70:30 và TS30:70 số lượng VSV sinh màng nhầy

polyssaccaride là 9,5x106 CFU/g đất; 10,7x106CFU/g đất; 14,0x106CFU/g đất; 9,5x106

CFU/g đất và 7,5x106 CFU/g đất.

Như vậy, chế phẩm Trichoderma và Streptomyces có ý nghĩa rất lớn trong việc

tăng số lượng các vi sinh vật có ích trong đất, giúp kích thích bộ rễ cây ớt phát triển

làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển cũng như khả năng chống chịu sâu bệnh hại

của cây. Do đó đối với đất trồng ớt nói riêng và đất nơng nghiệp nói chung nên bổ

sung chế phẩm sinh học Trichoderma và Streptomyces trong quá trình canh tác.

3.2. ẢNH HƯỞNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRICHODERMA VÀ

STREPTOMYCES ĐẾN PHÒNG TRỪ BỆNH HÉO XANH VI KHUẨN

(RALSONIA SOLANACEARUM) VÀ BỆNH THÁN THƯ HẠI ỚT

(COLLECTOTRICHUM SP.)

3.2.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Trichoderma và Streptomyces đến bệnh héo xanh

vi khuẩn ở các cơng thức thí nghiệm

Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) là loại bệnh hại nguy hiểm

trên cây ớt, bệnh thường xuất hiện trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, gây hại nặng

vào giai đoạn cây ớt có hoa đến khi thu hoạch. Bệnh làm chết cây làm giảm mật độ từ

đó làm giảm năng suất, do vậy nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh héo xanh là

rất quan trọng. Kết quả theo dõi diễn biến bệnh héo xanh ở các cơng thức thí nghiệm

được trình bày ở bảng 3.11.

Kết quả ở bảng 3.11 cho thấy: Bệnh héo xanh bắt đầu xuất hiện ở ngày thứ 52

đến ngày thứ 59 sau trồng, đây là giai đoạn cây ớt đang ra hoa đậu quả. Trong 6 cơng

thức thí nghiệm thì bệnh xuất hiện đầu tiên ở cơng thức Đối chứng với tỷ lệ bệnh là

0,59%. Khi xử lí thống kê tỷ lệ bệnh ở ngày thứ 52 sau trồng sự sai khác khơng có ý

nghĩa. Đến ngày thứ 59 sau trồng, sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa công

60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Năng suất thực thu: Năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm dao động từ 19,26 đến 22,31 tấn/ha. Năng suất ở công thức TS50:50 (22,31 tấn/ha) đạt cao nhất khi sử dụng chế phẩm sinh học tỷ lệ 50% Trichoderma và 50% Streptomyces, cao hơn so với công

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×