Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP HUYỆN MINH LONG

Chương 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP HUYỆN MINH LONG

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện

trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất: Đến nay, trên địa bàn huyện đã

thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính theo hệ tọa độ VN 2000 bằng công nghệ hiện

đại. Đây là nguồn tài liệu cho công tác đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, lập hồ sơ địa chính. Thực hiện xây dựng được bộ dữ liệu kiểm kê đất đai

của huyện và đã xây dựng được bản đồ hiện trạng sử dụng đất vào các năm: 2005,

2010 và 2015. Trên cơ sở bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, huyện đã

xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020.

Định giá đất: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày

31/12/2014 ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi áp

dụng cho thời kỳ 5 năm 2015 – 2019 trên địa bàn toàn tỉnh.

3.1.3. Quản lý quy hoạch sử dụng đất và công tác thu hồi, bồi thường và hỗ trợ

tái định cư

Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Quy hoạch sử dụng đất đến năm

2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của UBND huyện Minh

Long đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt tại quyết định số 97/QĐ-UBND

ngày 14/4/2014. Trên cơ sở đó huyện đã tiến hành lập kế hoạch sử dụng đất hàng

năm. Đây là một trong những căn cứ pháp lý và cơ sở quan trọng để tỉnh và huyện

thực hiện công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích

sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng

đất của các ngành, phục vụ tăng trưởng KT - XH và bảo vệ môi trường và quốc

phòng, an ninh của huyện. Việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa

bàn huyện ở cấp huyện được thực hiện khá đảm bảo, tuy nhiên ở cấp xã thực hiện

chưa tốt; có nhiều trường hợp sử dụng đất sai quy hoạch được duyệt.

Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng

đất: Nhìn chung, công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử

dụng đất trên địa bàn huyện trong thời gian qua thực hiện đúng theo quy định của

Luật Đất đai. Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử

dụng đất đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Tình trạng giao đất,

cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái thẩm quyền,



55



sai pháp luật, không đúng đối tượng hầu như đã chấm dứt. Đất được giao, được

thuê, được chuyển mục đích nói chung là phù hợp với quy hoạch, Kế hoạch sử dụng

đất được duyệt. Tuy nhiên, ở một số địa bàn các xã vẫn còn tình trạng nhân dân tự ý

chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, trồng rừng trên đất màu…

3.1.4. Quản lý hồ sơ địa chính, thực hiên kiểm kê và xây dựng hệ thống thông

tin đất đai

Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ:

Nhìn chung, cơng tác cấp GCNQSDĐ đã được đẩy mạnh, từ năm 2007 đến nay trên

địa bàn huyện đã thực hiện cấp GCNQSDĐ cho 56.855 tờ GCN/ 56.855 thửa đạt

97,1% thửa đất cần cấp GCN. Trong đó: Cấp đất sản xuất nông nghiệp: 37.410 tờ

GCN/ 3.626,92 ha; Đất lâm nghiệp: 14.917 tờ GCN/ 16.534,49 ha; Đất nuôi trồng

thủy sản; 186 tờ GCN/ 5,18 ha; Đât ở tại nông thơn: 4,342 tờ GCN/ 163,98 ha.

Hồ sơ địa chính đã được lập theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất và đã được bàn giao cho 3 cấp để quản lý theo quy định.

Thống kê, kiểm kê đất đai: Công tác thống kê đất đai được thực hiện hàng

năm và kiểm kê đất đai được tiến hành 05 năm một lần theo Luật Đất đai quy định.

Công tác kiểm kê đất đai có xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm

kiểm kê. Thống kê đất đai không xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, chỉ phân

tích hiện trạng sử dụng đất hàng năm và phân tích biến động đất đai giữa năm trước

và năm thống kê. Quy trình kiểm kê, thống kê đất đai được thực hiện theo đúng

hướng dẫn tại thông tư số 28/2014/TT-BTNMT. Tuy nhiên, quá trình kiểm kê, thống

kê đất đai u cầu tính chính xác, trong khi đó trình độ cơng chức cấp xã còn thấp,

chưa đáp ứng được yêu cầu trong quá trình thực hiện.

Xây dựng hệ thống thông tin đất đai: Theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và

môi trường tại thông tư số 34/2014/TT-BTNMT quy định về xây dựng, quản lý,

khai thác hệ thống thông tin đất đai. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại cơ sở dữ liệu

vẫn chưa được cơ quan chuyên môn cập nhật đầy đủ thông tin, dữ liệu đất đai trên

phần mềm. Do vậy, việc xây dựng thông tin đất đai thực hiện chưa đảm bảo.

3.1.5. Quản lý tài chính, giá đất và các hoạt động dịch vụ về đất đai

Quản lý tài chính về đất đai: Căn cứ các văn bản hướng dẫn của Trung ương



56



về phương pháp xác định giá đất, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 67/QĐUBND ngày 31/12/2014 ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh

Quảng Ngãi áp dụng cho thời kỳ 5 năm 2015 – 2019 trên địa bàn tồn tỉnh. Nghĩa

vụ tài chính về đất được Chi Cục thuế huyện phối hợp với các cơ quan chuyên mơn

như: Phòng Tài ngun mơi trường, Văn phòng đăng ký đất đai chi hánh tiến hành

thu các khoản tài chính. Cơng tác quản lý thu, chi tài chính liên quan đến tài chính

đất đai được UBND huyện chỉ đạo cơ quan chuyên ngành thực hiện nghiêm túc;

đảm bảo các nguồn thu gồm: Tiền sử dụng đất, thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu

nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, tiền thu từ việc xử phạt vi phạm hành chính về

đất đai, bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong việc quản lý và sử dụng

đất, phí và lệ phí trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, đối với huyện

Minh Long nguồn thu tài chính về đất đai rất thấp.

Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động

sản: Đất đai của địa phương khơng có giá trị cao so với các huyện đồng bằng và nhu

cầu sử dụng đất thực tế của người dân cũng không lớn nên các hoạt động dịch vụ về

đất đai không được phổ biến..

3.1.6. Quản lý, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và giải quyết

tranh chấp về đất đai

a) Quản lý việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Đối với quyền người sử dụng đất: Được cấp GCNQSDĐ, được bồi thường

đất, tài sản và hoa màu trên đất khi Nhà nước thu hồi đất, được giải quyết tranh chấp

đất đai… Những quyền trên đều được UBND huyện chỉ đạo thực hiện theo Luật Đất

đai và các quy định hiện hành của Nhà nước. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Tất

cả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất thơng qua phòng Tài ngun và Mơi trường đều

được thực hiện đảm bảo tính chính xác và kịp thời theo thời gian quy định.

Đối với nghĩa vụ của người sử dụng đất bao gồm: Nộp thuế sử dụng đất, thuế

chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, sử dụng đất

theo quy hoạch và pháp luật… Tuy nhiên, đối với huyện Minh Long các khoản phí, lê

phí, thuế… đều khơng được quan tâm triển khai thực hiện. Nhiều chủ sử dụng đất

vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đăng ký quyền sử dụng đất nên chưa



57



tích cực trong nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất. Đây cũng là nguyên nhân làm

chậm tiến độ cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện. Chuyển quyền sử dụng đất theo

quy định: Mặc dù, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng được khẳng định nhưng thị

trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở huyện trong giai đoạn vừa qua diễn ra ít.

Tóm lại, việc quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người

sử dụng đất là một việc khó đối với huyện, vì nhiều giao dịch khơng thực hiện việc

đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền.

b) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất

đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Nhằm để công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện được tốt,

hàng năm, huyện đều thành lập các Đoàn thanh tra, kiểm tra để kiểm tra, thanh tra

tình hình quản lý và sử dụng đất của các xã, của các tổ chức, cá nhân được giao đất,

cho thuê đất. Đồng thời, cử cán bộ các phòng chun mơn của UBND huyện tham

gia với các Đoàn kiểm tra, thanh tra của tỉnh kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Pháp

luật về đất đai của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn huyện. Qua kiểm tra, thanh

tra đã phát hiện, chấn chỉnh những việc làm thiếu sót; ngăn chặn, xử lý các trường

vi phạm về lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, kết quả thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc

chấp hành Pháp luật về đất đai vẫn còn nhiều hạn chế về số lượng và đối tượng

thanh tra, kiểm tra, chưa có hình thức răn đe thích hợp đối với các trường hợp sử

dụng đất sai mục đích, lấn chiếm đất công…

c) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi

phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

Huyện đã phân công cho các Phòng, ban có chức năng chủ động thụ lý hồ sơ,

giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử

dụng đất đai. Các vụ việc tranh chấp đều được tiến hành đúng quy trình, đều được

tiến hành hòa giải ở thơn, khu dân cư, trường hợp khơng hòa giải thành thì cấp xã

tiếp nhận và tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành thì cấp huyện xem xét giải

quyết kịp thời đối với đơn thuộc thẩm quyền, không để tình trạng phức tạp, gây mất

ổn định xã hội, an ninh trật tự; các khiếu nại, tố cáo trên địa bàn phần lớn là liên

quan đến đất đai, nhất là liên quan đến tranh chấp các hộ, lấn chiếm đất công đều

được huyện tiếp nhận và giải quyết theo quy định; các quyết định giải quyết sau khi



58



ban hành cơ bản đều được thực hiện nghiêm.

Tuy nhiên, đối với những vụ việc phức tạp, chưa giải quyết thỏa đáng nên vẫn có

tình trạng khiếu nại nhiều lần, nhưng chưa được giải quyết, tạo dư luận và bức xúc trong

nhân dân địa phương nhất là trường hợp thu hồi đất, bồi thường, tái định cư.

Nhận xét chung: Công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện Minh Long

trong thời gian qua đã có nhiều bước chuyển biến tích cực cụ thể như: Bộ máy quản

lý đất đai của huyện được kiện tồn từ các phòng, ban chun mơn cấp huyện đến

cơng chức cấp xã phụ trách; tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện đã

từng bước chuyển biến tích cực; Luật Đất đai và các văn bản pháp luật của cấp trên

được thực hiện nghiêm; việc quản lý mốc giới, địa giới, hồ sơ địa giới hành chính

ổn định, đúng quy định; cơng tác khảo sát đo đạc lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện

trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất được quan tâm; Công tác giao đất, thu hồi đất,

cho thuê đất, đăng ký quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất... đã được thực hiện, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Công tác thanh tra, kiểm tra

việc quản lý và sử dụng đất được tổ chức thực hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các

vụ vi phạm pháp luật về đất đai; Công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, tranh

chấp đất đai đa số được giải quyết kịp thời.

Tuy nhiên, trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại huyện vẫn còn một

số nội dung chưa đảm bảo, cụ thể như: Một là công tác tuyên truyền và phổ biến,

giáo dục pháp luật nhất là về Luật Đất đai và các văn bản pháp luật liên quan chưa

tốt, hình thức tuyên truyền chưa phong phú, nội dung chưa có sự đầu tư; Việc cơng

khai các thủ tục hành chính về đất đai mới chỉ thực hiện 2 năm gần đây; Công tác lập

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tuy đã thực hiện, nhưng chất lượng chưa cao, chưa

sát với yêu cầu thực tiễn nhiều nội dung được quy hoạch nhưng được thực hiện do

thiếu vốn; Việc cấp GCNQSDĐ vẫn còn chậm, cấp sai địa danh, sai vị trí… gây khó

khăn cho cơng tác quản lý, sử dụng và tranh chấp đất đai kéo dài khó giải quyết;

Cơng tác lãnh đạo chỉ đạo của các cơ quan chức năng, UBND xã thiếu sâu sát, công

chức chuyên môn tham mưu vẫn chưa làm hết trách nhiệm, tình trạng lấn chiếm đất

cơng, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép còn diễn ra, nhất là chuyển mục đích

đất nơng nghiệp sang đất ở; chuyển nhượng quyền sử dụng đất khơng thơng qua cơ



59



quan có thẩm quyền ký chứng thực…

3.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI 3 XÃ

ĐIỀU TRA

3.2.1. Hiệu quả về kinh tế

Tiến hành lựa chọn 60 hộ để điều tra phỏng vấn về hiệu quả kinh tế ở 3 xã là:

xã Thanh An, xã Long Mai và xã Long Sơn thì tất cả các hộ đều trồng cây keo là

cây trồng chính. Kết quả điều tra thể hiện cụ thể như sau:

Bảng 3.1. Kết quả điều tra thu thập thông tin tại 3 xã

Số hộ



Diện



Tổng chi



Tổng thu



Lợi



Tên xã



điều



tích



phí (Triệu



nhập (Triệu



nhuận/năm/ha



Xã Long Sơn

Xã Long Mai

Xã Thanh An



tra

20

20

20



(ha)

62,7

60,2

52,0



đồng)

912,20

928,54

704,80



đồng)

5.531,00

5.404,00

4.649,00



(Triệu đồng)

3,42

3,70

4,25



STT

1

2

3



(Nguồn: Kết quả điều tra thu thập thông tin)

Cây keo được trồng để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy với chu kỳ

sinh trưởng từ lúc trồng đến lúc khai thác là 5 năm. Thơng thường, chi phí trong

năm đầu lớn do phải phát dọn thực bì, đào lỗ để trồng, bón phân; vào những năm

sau thì chỉ có chi phí phát quang (có thể là phát quang hàng năm hoặc 2 năm mới

phát quang một lần). Vào năm thu hoạch (năm thứ 5), các hộ trồng keo khơng phải

chi phí cho việc phát cỏ và thu hoạch mà lại có được doanh thu bán gỗ keo do người

đến mua tự thu hoạch.

Vì chu kỳ sản xuất của cây keo dài nên việc tính tốn hiệu quả kinh tế phải

tính đến hệ số chiết khấu. Hệ số chiết khấu được lựa chọn là r = 7% tương ứng với

mức lãi suất cho vay phổ biến được Nhà nước hỗ trợ trong lĩnh vực nông nghiệp,

nông thôn, xuất khẩu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2010- 2016.

Kết quả tính tốn hiệu quả sản xuất của cây keo cho thấy, các hộ gia đình

trồng keo thu được lợi nhuận thấp nhất là 8.675.000 đồng đến 11.982.000 đồng. Kết

quả tính tốn cũng cho thấy, NPV khơng những dương mà còn đạt giá trị rất cao, do

đó cây keo vẫn là cây trồng chủ lực và cần mở rộng diện tích. Thể hiện ở hình 3.1

dưới đây.



60



Hình 3.1. Kết quả điều tra thu thập thơng tin tại 3 xã

Căn cứ vào số liệu được điều tra, thu thập ở trên, tình hình trồng keo nguyên

liệu của người dân đầu tư cho 01 ha trong một chu kỳ sản xuất rừng nguyên liệu là 5

năm, lãi suất vốn vay ngân hàng là 7%/năm thì người dân phải bỏ ra chi phí để

trồng, chăm sóc trung bình là 14.300.000 đồng, cụ thể ở bảng 3.2 như sau:

Bảng 3.2. Hiệu quả kinh doanh 01 ha gỗ keo nguyên liệu

STT

1

2

3

4

I

II



Chỉ tiêu

Trồng, chăm sóc năm 1

Chăm sóc năm 2

Chăm sóc năm 3

Chăm sóc năm 4

Tổng chi phí

Tổng thu nhập

Cân đối (NPV) = (II) – (I)



Tổng vốn đầu



Số năm



Tổng vốn và lãi đến



tư /ha (đồng)

8.300.000

2.000.000

2.000.000

2.000.000

14.300.000

89.000.000

74.700.000



tính lãi

4

3

2

1



cuối chu kỳ (r=7%)

10.628.000

2.423.000

2.282.000

2.141.000

17.474.000

89.000.000

71.526.000



(Nguồn: Kết quả điều tra thu thập thông tin)



Sau chu kỳ 5 năm, sản lượng thu được là khoảng 95 tấn/1 ha, giá bán bình

quân 936.842 đồng/1 tấn. Như vậy đến cuối kỳ thu được 89.000.000 đồng. Nếu quy



61



cả vốn và lãi trong cả chu kỳ sản xuất về hiện tại với mức lãi bình quân là 7% thì ta

có: Ʃ CPV = 17.474.000 đồng; Ʃ BPV = 89.000.000 đồng; như vậy giá trị Ʃ NPV =

71.526.000 đồng.



Đối với cây keo có năng suất cao và lợi nhuận mang lại cũng tương đối cao.

Trên địa bàn huyện diện tích trồng keo là khá lớn, thu hút được lực lượng lao động

tạo thêm công ăn việc làm, thu nhập ổn định và cây keo nâng cao hiệu quả sử dụng

đất, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói mòn rửa trôi, bảo vệ và

cải tạo đất. Mặc khác người dân tận dụng sức lao động trong nhà, nên giảm đáng kể

chi phí th nhân cơng để phát chồi và cơng chăm sóc, bảo vệ. Ngồi ra người dân

có thể tận dụng nguồn vốn sẵn có trong gia đình nên khơng tốn lãi suất vốn vay

ngân hàng.

Cây keo có ý nghĩa trong vấn đề cải tạo môi trường, giữ nguồn nước ngầm,

tạo cảnh quan môi trường trong sạch. Như vậy cần tiếp tục đầu tư các biện pháp

khoa học kĩ thuật cũng như các biện pháp khác để giảm chi phí sản xuất cây trồng

và nâng cao giá trị sản xuất, tăng thu nhập cho người dân.

3.2.2. Hiệu quả xã hội

Ngoài việc xác định hiệu quả kinh tế thì hiệu quả xã hội là việc trồng rừng

sản xuất đã tạo công ăn việc làm cho người dân ở địa bàn cư trú, tăng thu nhập và

ổn định cuộc sống; góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong

công tác bảo vệ và phát triển rừng, đây là hiệu quả sâu xa mà việc phát triển rừng

mang lại. Một mặt người dân có cơng ăn, việc làm ổn định, thu nhập được nâng cao,

mặt khác nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề phát triển lâm nghiệp, cải

thiện mơi trường.

3.2.3. Hiệu quả mơi trường

Ngồi việc xác định hiệu quả kinh tế thì hiệu quả xã hội là việc trồng rừng

sản xuất tăng độ che phủ rừng, góp phần giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năm sinh thủy,

đảm bảo nguồn nước cho vùng hạ du để sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của người

dân, tăng độ phì cho đất, môi trường sinh thái ngày càng được nâng cao, sức khỏe

nhân dân cũng được nâng cao.

3.3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP CÓ



62



HIỆU QUẢ Ở HUYỆN MINH LONG

3.3.1. Cơ sở khoa học đề xuất giải pháp

a) Cơ sở pháp lý

Đề xuất các giải pháp dựa trên hệ thống các văn bản mang tính pháp lý có

liên quan đến vấn đề quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp nhằm đảm bảo tuân thủ theo

những quy định, chính sách, Pháp luật mà Trung ương, tỉnh đã ban hành. Cụ thể là

một số văn bản pháp luật như sau: Luật Đất đai năm 2013 và một số văn bản dưới

luật hướng dẫn thực hiện Luật, Chính sách khoán bảo vệ rừng theo Nghị định số

75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015, Chính sách chi trả dịch vụ mơi trường rừng theo

Nghị định 99/2010/NĐ-CP…

b) Cơ sở lý luận khoa học

Kết quả đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp là những căn cứ

quan trọng để lựa chọn loại hình sử dụng đất thích hợp với địa phương. Đồng thời,

đưa ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế còn mắc phải trong quá trình sử

dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện.

c) Cơ sở thực tiễn

Qua việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên như: Đặc thù về đất đai, địa hình và

khí hậu thời tiết thích hợp để phát triển cây lâm nghiệp khác nhau. Diện tích đất lâm

nghiệp của huyện lớn, thuận lợi cho việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung

chuyên canh; Nghiên cứu đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Minh Long như: Hệ

thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất của huyện chưa phát triển. Trình độ dân

trí thấp, chậm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Tuy nhiên, hộ

dân có kinh nghiệm trồng rừng, trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp. Phong tục, tập

quán canh tác của địa phương cũng là một cơ sở quan trọng để chọn lựa loại hình sử

dụng đất để tiếp tục phát triển trong tương lai.



3.3.2. Giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

a) Giải pháp quản lý đất lâm nghiệp

* Hồn thiện cơng tác ban hành văn bản, tổ chức thực hiện và phổ biến,



63



giáo dục pháp luật về đất đai

Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất

đai, bảo vệ phát triển rừng cho cán bộ, công chức, tồn thể nhân dân trên địa bàn

huyện. Cơng tác tun truyền, phổ biến cần có đầu tư về nội dung và phong phú về

hình thức tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức cho nhân dân. Về đối tượng cần chú

trọng đến các hộ dân sống ven rừng, gần rừng, kinh tế phụ thuộc vào rừng. Nhân rộng

các mô hình hay cách quản lý rừng và đất lâm nghiệp hiệu quả để nhân rộng cho chính

quyền các cấp thuộc UBND huyện. Đồng thời tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật

về đất đai trong cộng đồng nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật trong nhân dân.

Khuyến khích cơng đồng dân cư dựa trên phong tục tập quán truyền đời và

các văn bản pháp luật liên quan phù hợp với tình hình xây dựng hương ước, quy

ước bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Khuyến khích việc quản lý

rừng dựa vào cộng đồng dân cư. Nâng cao quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng

trong việc bảo vệ và khai thác rừng.

Chính quyền từ cấp huyện đến xã tổ chức cho cán bộ, công chức học tập, tiếp

thu các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Đồng thời tổ chức

tập huấn Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành cho cán bộ, công chức và

người lao động các cấp.

Xây dựng chuyên mục hỏi đáp về Luật Đất đai trên cổng thông tin điện tử

của huyện. Đồng thời phát huy vai trò của đài truyền thanh và tủ sách pháp luật cơ

sở ở các xã.

* Hồn thiện cơng tác quy hoạch và quản lý quy hoạch sử dụng đất

Xây dựng các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bảo vệ phát triển rừng cho

giai đoạn có chất lượng, đảm bảo tính khả thi cao trong quá trình thực hiện là nhiệm

vụ hết sức quan trọng và cần thiết nhằm để có định hướng quản lý, sử dụng rừng và

đất lâm nghiệp có hiệu quả. Cụ thể đối với rừng phòng hộ: có thể thực hiện các biện

pháp như chấn chỉnh cơng tác quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có. Đối với những

diện tích đã quy hoạch rừng phòng hộ nhưng chưa thành rừng cần thực hiện quy

hoạch trồng, khoanh nuôi và tái sinh rừng. Đối với rừng sản xuất: tập trung quy

hoạch vùng sản xuất chuyên canh cây trồng có hiệu quả cao về kinh tế và hiệu quả



64



trong việc phòng hộ, bảo vệ mơi trường. Bảo vệ diện tích đất lâm nghiệp hiện có

bằng các biện pháp sử dụng hợp lý, bền vững tránh hiện trạng bị rửa trôi, bạc màu,

sạt lở. Đồng thời, phát huy hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp được giao, chuyển diện

tích hoang hóa để trồng rừng nhằm khai thác triệt và sử dụng tiết kiệm quỹ đất.

* Quản lý hồ sơ địa chính, thực hiên kiểm kê và xây dựng hệ thống thông tin

đất đai

Tiếp tục thực hiện việc đo đạc, cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp, đồng thời chỉnh

lý những GCNQSDĐ cấp năm 2008 sai địa danh, sai vị trí… đảm bảo giá trị pháp

lý của GCNQSDĐ đã giao. Các cấp lãnh đạo cần tiếp tục thực hiện tốt công tác lãnh

đạo, chỉ đạo bộ phận chuyên môn tham mưu thực hiện kế hoạch cấp GCNQSDĐ

trên địa bàn, nghiêm cấm các hành vi hạch sách, nhũng nhiễu trong việc lập hồ sơ

cấp GCNQSDĐ.

Đầu tư kinh phí mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công

tác đo đạc, lập hồ sơ địa chính và xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu

đất đai cho toàn huyện tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà lãnh đạo quản lý, nhân

dân truy cập, khai thác dữ liệu về đất đai được thuận tiện dễ dàng đẫy nhanh tiến

trình cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai.

* Hồn thiện cơng tác thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và giải

quyết tranh chấp về đất đai

Các cơ quan chuyên môn cần tăng cường hơn nữa công tác tuần tuần tra, truy

quét, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật trong lingx vực bảo vệ rừng

như khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái phép. Khuyến khích xét xử lưu

động tại những nơi có người vi phạm nhắm tác động đến hành vi cộng đồng dân cư,

nâng cao được tính giáo dục cộng đồng.

Cơ quan tham mưu cấp huyện cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra về

việc quản lý của chính quyền cấp dưới để kịp thời phát hiện những sai phạm để có

hướng xử lý kịp thời tránh để lại hiệu quả nghiêm trọng, khó giải quyết. Đối với

chính quyền cấp xã thuộc huyện cũng cần tăng cường hơn nữa trong công tác quản

lý việc sử dụng đất của nhân dân trên địa bàn nhất là quản lý tốt việc tự ý chuyển

đổi mục đích sử dụng đất, sử dụng đất khơng đúng mục đích, hủy hoại đất lâm



65



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP HUYỆN MINH LONG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×