Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát,

chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

- Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm

khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di

tích lịch sử, văn hố, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy

định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng [14].

c) Sử dụng đất

Sử dụng đất là hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm đạt kết

quả mong muốn trong quá trình sử dụng. Thực chất là cẩn phải đưa tối đa diện tích

đất đai tự nhiên hiện có vào sản xuất, kinh doanh. Sử dụng đất phải hợp lý về mặt

định tính và định lượng, yêu cầu là phải tăng sức sản xuất của đất hay tăng khối

lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất. Quy luật phát triển

kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái

quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa

công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất [14].

d) Quản lý sử dụng đất

Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất

đai. Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai, trong

việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương, kế hoạch của

Nhà nước; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai; trong việc điều

tiết các nguồn lợi từ đất đai [14].

e) Biến động sử dụng đất

Theo Từ điển Khoa học trái đất "Biến động sử dụng đất và lớp phủ (LUCC),

được biết như biến động đất đai, đây là một thuật ngữ chung chỉ những thay đổi bề

mặt lãnh thổ trái đất xảy ra do tác động của con người” (dẫn theo Ellis, 2010).

Sherbinin (2002) cho rằng, biến động sử dụng đất là nguyên nhân dẫn tới biến động

lớp phủ, điều đó có nghĩa là biến động lớp phủ chính là hệ quả của biến động sử dụng

đất. Biến động sử dụng đất là sự thay đổi trạng thái tự nhiên của lớp phủ bề mặt đất

gây ra bởi hành động của con người, là một hiện tượng phổ biến liên quan đến tăng



5



trưởng dân số, phát triển thị trường, đổi mới công nghệ, kỹ thuật và sự thay đổi thể

chế, chính sách. Biến động sử dụng đất có thể gây hậu quả khác nhau đối với tài

nguyên thiên nhiên như sự thay đổi thảm thực vật, biến đổi trong đặc tính vật lý của

đất, trong quần thể động, thực vật và tác động đến các yếu tố hình thành khí hậu

(Turner et al., 1995; Lambin et al., 1999; Aylward, 2000 dẫn theo Muller, 2004).

Muller (2003) chia biến động sử dụng đất thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là sự thay

đổi từ loại hình sử dụng đất hiện tại sang loại hình sử dụng đất khác. Nhóm thứ hai là

sự thay đổi về cường độ sử dụng đất trong cùng một loại hình sử dụng đất [14].

1.1.2. Vai trò của đất trong sản xuất lâm nghiệp

Đất đai đóng vai trò quyết định tới tồn bộ q trình sản xuất. Khơng có đất

đai thì khơng thể tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất nào. Đât đai là sản phẩm

của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng riêng, nó khơng giống bất kỳ

một tư liệu sản xuất nào khác, đó là: đất có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố

định trong khơng gian và vĩnh cữu với thời gian nếu biết sử dụng đúng.

Do đó, vai trò của đất đai trong sản xuất lâm nghiệp nói riêng và trong mọi

hoạt động sản xuất nói chung là khơng thể thay thế. Lâm nghiệp là ngành cung cấp

gỗ, các loại lâm sản, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an

toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đồng thời, lâm

nghiệp cũng là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; nguyên liệu từ lâm

nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác.

Lâm nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, việc tiêu dùng của dân cư nơng thơn

đối với hàng hóa cơng nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu

xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất. Bên cạnh đó, lâm nghiệp còn mang lại nguồn

ngoại tệ và nguồn nhân lực cho nền kinh tế [14].

Trong các bộ phận cấu thành của sinh quyển thì đất lâm nghiệp có vai trò

quan trọng trong sự phát triển KT - XH, sinh thái và mơi trường. Việc hình thành

các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ đến sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên

với vùng địa lý và điều kiện khí hậu. Mỗi kiểu rừng được hình thành thì khí hậu, đất

đai và độ ẩm sẽ xác định thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực

vật rừng. Sự phân bố của các loại rừng về cơ bản không chịu tác động của con



6



người, sự phân chia các kiểu thảm thực vật rừng chủ yếu dựa vào ưu thế sinh thái

(Lê Văn Khoa, 2011). Rừng và đất rừng có vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn

nước, bảo vệ đất chống xói mòn. Thảm thực vật có chức năng quan trọng trong việc

ngăn cản một phần lượng mưa rơi xuống mặt đất và có vai trò quan trọng trong

phân phối lại lượng nước mưa này, qua nghiên cứu cho thấy ở vùng ôn đới thảm

thực vật sẽ giữ được 25% lượng nước mưa này. Lượng nước mưa được tán cây giữ

lại sẽ chảy từ tán lá, qua cành theo thân cây thấm vào đất hoặc đổ vào dòng chảy

trên mặt và một phần khác sẽ bay hơi vào khí quyển (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình

Sâm, 2003). Tán rừng có khả năng giảm sức cơng phá của nước mưa đối với tầng

đất mặt trong khi rễ, thân cây có khả năng giữ nước và hạn chế dòng chảy trong khi

tầng thảm mục có khả năng giữ nước tới 90 - 100% trọng lượng của lớp thảm mục

do đó giảm đáng kể xói mòn ở những nơi có rừng. Thảm mục rừng là kho chứa các

chất dinh dưỡng khoáng, mùn và ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì nhiêu của đất trong

khi rễ cây ăn sâu vào lòng đất giúp đất tơi xốp, tăng khả năng giữ nước và chống lại

q trình xói mòn (Tzschuphe, 1998).

1.1.3. Các đặc tính của đất lâm nghiệp

Đất lâm nghiệp có địa hình phức tạp, đồi núi dốc, chủ yếu dùng trong sản xuất

kinh doanh lâm nghiệp. Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là cây rừng có chu kỳ sinh

trưởng và phát triển rất dài, có thể tới hàng chục có thể hàng trăm năm và sở hữu đất

đai là của chung. Địa bàn sản xuất rộng lớn, phức tạp, đi lại khó khăn, do đó việc quản

lý cũng như áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất lâm

nghiệp gặp nhiều khó khăn trở ngại. Sản xuất lâm nghiệp khơng những có ý nghĩa

mang lại lợi ích kinh tế, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ

môi trường sinh thái, cảnh quan, du lịch.

1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất lâm nghiệp

a) Các yếu tố về điều kiện tự nhiên

Sử dụng đất đai luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên, do vậy ngoài

sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh

sáng, lượng mưa, khơng khí và các khống sản trong lòng đất... Trong điều kiện tự

nhiên, khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều



7



kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác.

- Điều kiện khí hậu: Vavilop cho rằng “Biết được các yếu tố khí hậu, chúng

ta sẽ xác định được năng suất, sản lượng mùa màng, chúng mạnh hơn cả kinh tế,

mạnh hơn cả kỹ thuật”, những điều kiện khí hậu này là ánh sáng, nhiệt độ, nước

(dẫn theo Nguyễn Văn Viết, 2007). Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp

đến sản xuất lâm nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ơn nhiều

hay ít, nhiệt độ bình qn cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không

gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân

bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Ví dụ, chế độ nước vừa là điều kiện

quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh

vật sinh trưởng và phát triển; Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý

nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cùng khả năng đảm bảo

cung cấp nước cho sự sinh trưởng của động thực vật.

- Yếu tố thủy văn: Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi sự phân bố của hệ

thống sơng ngòi, ao, hồ,... với các chế độ thủy văn cụ thể như lưu lượng nước, tốc

độ dòng chảy,... sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu cầu

sử dụng đất. Hệ sinh thái (như tài nguyên rừng) thường do thiên nhiên trải qua rất

nhiều năm thích nghi đã tạo lập nên.

- Yếu tố địa hình: Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng

đất của ngành sản xuất lâm nghiệp. Sự sai khác giữa địa hình, độ cao so với mặt

nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường

dẫn đến sự khác nhau về đất đai và khí hậu giữa các vùng, từ đó ảnh hưởng đến sản

xuất, phân bố phương thức sử dụng đất của các ngành lâm nghiệp.

- Yếu tố thổ nhưỡng: Mỗi loại đất đều có những đặc tính sinh, lý, hóa học

riêng biệt trong khi đó mỗi mục đích sử dụng đất cũng có những yêu cầu sử dụng

đất cụ thể. Do vậy, yếu tố thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất và

mang tính chất quyết định để bố trí và lựa chọn cây trồng.

b) Các yếu tố về điều kiện KT - XH

Yếu tố KT - XH như chế độ xã hội, dân số và lao động, mức độ phát triển

của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, khả năng áp dụng các



8



tiến bộ khoa học trong sản xuất, thị trường,... Yếu tố KT - XH thường có ý nghĩa

quan trọng đối với định hướng sử dụng đất đai, ví dụ như yếu tố thị trường thì sản

xuất hàng hóa khơng thể tách khỏi thị trường. Điều kiện tự nhiên của đất cho phép

xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất còn sử dụng đất như thế

nào, được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện KT - XH, kỹ

thuật hiện có.

Trong trường hợp điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế nhưng các điều kiện xã

hội, kinh tế kỹ thuật không tương ứng thì ưu thế tài nguyên cũng khó có thể trở

thành sức sản xuất hiện thực. Ngược lại, khi điều kiện kỹ thuật được ứng dụng vào

khai thác và sử dụng đất thì sẽ phát huy được mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất,

đồng thời góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên

bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển KT - XH. Thực tiễn cho thấy trình độ

phát triển kinh tế và xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau. Nền

kinh tế càng phát triển, yêu cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho

việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ càng

được nâng cao [14].

1.1.5. Quản lý Nhà nước về đất đai

a) Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai;

đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phân phối

và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình

sử dụng đất [24].

b) Ý nghĩa của quản lý Nhà nước về sử dụng đất lâm nghiệp

Tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về việc sử dụng đất đai

được bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của việc sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, tài

nguyên rừng đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội. Thực hiện phân phối và phân phối

lại quỹ đất rừng theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử

dụng đất rừng; điều tiết các nguồn lợi từ đất rừng.



9



c) Mục đích của quản lý Nhà nước về sử dụng đất lâm nghiệp

Nhằm bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất rừng; Bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của người sử dụng đất; Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất rừng của quốc

gia; Tăng cường hiệu quả sử dụng đất, cải tạo đất; Bảo vệ đất, bảo vệ mơi trường.

d) Vai trò của quản lý Nhà nước về sử dụng đất lâm nghiệp

Hai vai trò cơ bản của quản lý Nhà nước về sử dụng đất rừng: một là “đại

diện chủ sở hữu toàn dân để thống nhất quản lý toàn bộ đất rừng”; hai là “chủ sử

dụng (cụ thể, trực tiếp) đối với bộ phận đất công”.

1.1.6. Sử dụng tài nguyên đất lâm nghiệp

a) Nguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp

Các nguyên tắc sử dụng đất rừng cần được chú trọng như: Sử dụng đất rừng

đầy đủ và hợp lý; Sử dụng đất rừng phải mang lại hiệu quả về mặt KT - XH và môi

trường; Sử dụng đất rừng phải bảo đảm tính bền vững.

b) Các xu hướng chính trong sử dụng đất lâm nghiệp

Xu hướng trong sử dụng đất rừng đó là sự kết hợp sử dụng đất rừng theo

chiều rộng và chiều sâu, trong đó theo chiều sâu là con đường cơ bản và lâu dài. Sử

dụng đất rừng theo hướng đa dạng hóa và chun mơn hóa.

c) Đặc điểm sử dụng đất lâm nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà

nước về sử dụng đất

Đặc điểm sử dụng đất rừng ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước đó là:

Diện tích đất rừng rộng, địa hình phức tạp, khó xác định ranh giới cũng như cập

nhật biến động diện tích chính xác. Đất rừng phân bố khơng đồng đều nên dễ bị

xâm canh, chuyển mục đích sử dụng. Cây trồng trên đất rừng có chu kỳ kinh doanh

dài, các hoạt động trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ, thu hoạch mất thời gian dài nên

chậm thu hồi vốn và khó xác định giá trị cũng như mức độ tăng trưởng hàng năm.

Trình độ dân trí thấp, mức sống thấp, tập quán sản xuất lạc hậu. Sản xuất lâm

nghiệp mang tính xã hội sâu sắc...

1.1.7. Vấn đề hiệu quả giao đất và đánh giá hiệu quả giao đất lâm nghiệp

Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 33,15 triệu ha. Cùng với

dân số ngày càng tăng nhanh, việc lấn chiếm chặt phá rừng bừa bãi vẫn diễn ra



10



thì việc sử dụng hiệu quả đất lâm nghiệp đem lại hiệu quả cao luôn là vấn đề

được Đảng và Nhà nước quan tâm. Hiệu quả sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sau

khi được giao là một vấn đề lớn, quyết định những yếu tố hết sức quan trọng đối

với người nhận như tăng thu nhập cải thiện đời sống hàng ngày, hoặc ở mức độ

lớn hơn như phát triển kinh tế trang trại, lâm sản, bảo vệ môi trường sinh thái…

Hơn thế nữa, điều đặc biệt quan trọng là sự thay đổi trong nhận thức, hành vi của

người dân, những thay đổi về quan hệ xã hội, cũng như hiệu quả của việc thực

thi chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương trong việc quản lý tài

nguyên rừng nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung.

a) Quan điểm hiệu quả trong cơng tác giao đất lâm nghiệp

Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi quỹ

đất chỉ có hạn. Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai thác với

nhiều mục đích khác nhau. Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu giao

đất lâm nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả KT - XH tăng cường nguyên

liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất lâm nghiệp trong sản

xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển KT - XH, tận dụng tối đa lợi thế so

sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những

nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài

nguyên đất đai. Chính vì vậy, đất lâm nghiệp cần được giao hợp lý, hiệu quả phù

hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương.

b) Đặc điểm tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả giao đất lâm nghiệp

Hiệu quả giao đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản

xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó

khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản

xuất lâm nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong

nước với thị trường quốc tế. Hiện nay, vấn đề đánh giá hiệu quả giao đất không chỉ

xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng

thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.



11



1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những chính sách quản lý rừng trên thế giới

Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư

bản chủ nghĩa. Từ thế kỷ XIX, khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu phát triển với

tốc độ nhanh chóng theo các ngành kinh tế thì nhu cầu về gỗ bao gồm cả về khối

lượng và chất lượng ngày càng tăng. Vì vậy, sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa

phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa Tư bản chủ

nghĩa. Thực tế này đòi hỏi sản xuất lâm nghiệp khơng thể bó hẹp trong việc sản xuất

gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo lợi ích

tối đa cho các chủ rừng đồng thời bảo vệ môi trường hướng nền lâm nghiệp phát triển

theo hướng bền vững. Vì những yêu cầu khách quan đó mà những lý luận về quy

hoạch lâm nghiệp đã được hình thành và phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu thực tế

khách quan của xã hội loại người. Thời kỳ này đã có những cơng trình nghiên cứu về

quy hoạch nơng lâm nghiệp nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng.

Chính sách giao đất, giao rừng ở một số nước trên thế giới:

* Ở Trung Quốc:

Chính sách đất đai của Trung Quốc thể hiện trong Luật Đất đai ban hành năm

1987 và Luật Quản lý nhà đất thành thị ban hành năm 1999. Văn kiện số 1 (1984)

quy định “Kéo dài thời gian giao khoán để khuyến khích người nơng dân tăng đầu

tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh”. Ngày 14/10/1998 Hội nghị Ban chấp hành

Trung ương khoá 15 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra quan điểm, chính sách

của Đảng đối với đất nông nghiệp là: “Ổn định lâu dài thể chế kinh doanh hai tầng

kết hợp giữa tập trung và phân tán, coi kinh doanh khoán gia đình là cơ sở”. Nội

dung cơ bản của chính sách này là ổn định và hồn thiện quan hệ khốn đất nơng

nghiệp nhằm đảm bảo điều kiện cơ bản nhất cho sản xuất và đời sống của nông dân.

Luật Đất đai Trung Quốc quy định 4 chủ sở hữu đất nông nghiệp ở nông thôn là tập

thể nông dân xã, tập thể nông dân thôn tự trị, tập thể nhóm nơng dân và tổ tự trị.

Trong những năm qua, ở Trung Quốc việc thực hiện một loạt chính sách và

pháp luật đã giúp cho lâm nghiệp phát triển. Chính phủ sử dụng chính sách kết hợp

chương trình lâm nghiệp quốc gia với phát triển kinh tế vùng và lợi ích của nhân



12



dân để hướng dẫn, khuyến khích, hỗ trợ nơng dân kinh doanh lâm nghiệp. Chính

phủ Trung Quốc xác định nguyên tắc xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cơ sở.

Phát triển mạnh mẽ việc trồng cây, mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai

thác với bảo vệ rừng [14].

* Ở Indonesia:

Chính sách khuyến khích nơng dân sản xuất nơng lâm kết hợp ở Indonesia

một gia đình nông dân ở gần rừng được nhận khốn trồng cây trên diện tích 2.500

m2, trong hai năm đầu được phép trồng lúa cạn, hoa mầu trên diện tích đó, được

hưởng tồn bộ sản phẩm trồng xen, không phải nộp thuế. Công ty lâm nghiệp cho

nông dân vay vốn dưới hình thức cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu. Sau khi

thu hoạch người nơng dân trả lại đầy đủ số giống đã vay, còn phân hoá học và thuốc

trừ sâu chỉ phải trả 70%, nếu mất mùa thì khơng phải trả vốn vay đó. Ngồi ra, Nhà

nước còn hỗ trợ một phần để phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hướng dẫn người

dân kỹ thuật nông lâm nghiệp thông qua các hoạt động khuyến nông khuyến lâm, tổ

chức làm điểm, học tập rút kinh nghiệm và triển khai ra diện rộng [14].

* Ở Nhật Bản:

Tháng 12/1945 Nhật Bản ban hành Luật Cải cách ruộng đất xác lập quyền sở

hữu ruộng đất của nông dân, buộc địa chủ có trên 5 ha phải chuyển nhượng đất,

phải thanh tốn địa tơ bằng tiền mặt. Cải cách ruộng đất lần thứ hai với nội dung

thực hiện chuyển quyền sở hữu đất do Chính phủ quyết định, xác lập quyền sở hữu

ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô. Mức hạn điền mới không vượt quá 1 ha

(đối với vùng ít ruộng) và 4 ha (đối với vùng nhiều ruộng), nếu phú nơng có 3 ha

mà sử dụng không hợp lý sẽ bị trưng thu. Các luật về bảo đảm quyền sở hữu đất của

nông dân, luật cải tạo đất nông nghiệp... được ban hành [14].

* Ở Thái Lan:

Chương trình giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi, Chương trình này bắt

đầu từ năm 1979, mỗi mảnh đất được chia làm hai miền: Miền ở phía trên nguồn

nước và miền đất có thể dành để canh tác nơng nghiệp; miền ở phía trên nguồn

nước thì bị hạn chế để giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nông nghiệp thì

cấp cho người dân với một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi. Mục đích của



13



cơng tác này là khuyến khích đầu tư vào đất đai, tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa và

ngăn chặn sự xâm lấn vào đất rừng. Đến năm 1986 đã có 600.126 hộ nơng dân

khơng có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi.

Chương trình làng lâm nghiệp Thái Lan năm 1975 do Cục Lâm nghiệp Hoàng

gia thực hiện sơ đồ làng lâm nghiệp để giải quyết cho một số người ở lại trên đất rừng.

Chương trình này đã đem lại trật tự cho những người dân Thái Lan sống ở rừng và

khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng quốc gia, phục hồi những vùng đất bị

thoái hố do du canh. Ở Thái Lan có 98 làng lâm nghiệp rải rác trên toàn vùng rừng

của Vương quốc. Chương trình này được chỉ đạo theo những nguyên tắc sau:

+ Những người sống ở rừng được tập trung lại thành từng nhóm gọi là làng.

Mỗi làng bầu ra người lãnh đạo và một hội đồng để tự quản lý.

+ Chính phủ chia cho mỗi gia đình nơng dân 2 - 4 ha đất. Diện tích đất này

được cấp quyền sử dụng đất và có thể được thừa kế nhưng không được bán, nhượng.

(Điều này nhằm ngăn chặn những địa chủ mua tồn bộ đất của nơng dân).

+ Trong làng, Cục Lâm nghiệp Hồng gia và chính quyền sẽ cung cấp đất

làm nhà ở cho người dân với diện tích là 1 rai (1 rai = 1.600 m 2), nguồn nước,

đường bộ, trường học, trung tâm y tế, ngân hàng nông nghiệp, dịch vụ tiếp thị và

đào tạo nghề nghiệp. Những thành viên của làng sẽ được ưu tiên làm việc trong các

chương trình trồng lại rừng của Nhà nước ở gần làng. Sau khi làng được lập, một

HTX nông nghiệp sẽ được tổ chức dưới sự bảo trợ của ban khuyến khích hợp tác và

có những quyền lợi như đối với các HTX khác. Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký

hợp đồng giao đất dài hạn cho những HTX đó theo u cầu.

Hiện nay, Thái Lan đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng. Tổng diện tích

đã giao khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư. Nhà nước trợ cấp cho mỗi hộ tối

đa 50 rai và tối thiểu 5 rai. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8 Thái Lan dự kiến áp

dụng một chính sách lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi

trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở. Kế hoạch này gồm các

phần: Cung cấp thông tin và đào tạo cán bộ, tổ chức cộng đồng, xây dựng chính

sách và quy chế, xây dựng hệ thống dịch vụ, hỗ trợ [14].

* Ở Philippin:



14



Chương trình lâm nghiệp xã hội hợp nhất (ISFP) năm 1980 của Chính phủ

nhằm dân chủ hố việc sử dụng đất rừng cơng cộng và khuyến khích việc phân chia

một cách hợp lý các lợi ích của rừng. Chương trình đã đề cập đến nhiều vấn đề

trong đó có chứng chỉ hợp đồng quản lý (CSC) và bản thoả thuận quản lý lâm

nghiệp xã hội (CFSA): Bộ phận lâm nghiệp xã hội chịu trách nhiệm xử lý và phát

hành chứng chỉ hợp đồng quản lý CSC và bản thỏa thuận quản lý lâm nghiệp xã hội.

Giấy chứng chỉ CSC do Chính phủ cấp cho người dân sống trong rừng đã có đủ tư

cách pháp nhân, được quyền sở hữu và sử dụng mảnh đất trong khu rừng mà họ

đang ở và được hưởng các thành quả trên mảnh đất đó. Chứng chỉ CSC cho phép sử

dụng diện tích thực đang ở hay canh tác nhưng không được vượt quá 7 ha.

Các nhà lâm nghiệp của văn phòng ở cấp huyện được uỷ quyền cấp các CSC

với diện tích dưới 5 ha, còn diện tích từ 5 - 7 ha do giám đốc văn phòng phát triển

lâm nghiệp vùng duyệt. Diện tích lớn hơn 7 ha do tổng giám đốc văn phòng phát

triển lâm nghiệp phê duyệt. Khác với giấy chứng chỉ CSC, bản thỏa thuận quản lý

lâm nghiệp xã hội (CFSA) là một hợp đồng giữa Chính phủ và một cộng đồng hay

một hiệp hội lâm nghiệp kể cả các nhóm bộ lạc. Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và

CSFA là với CSFA đất không được nhượng cho cá nhân mà chỉ giao cho một cộng

đồng hay hiệp hội. Người được giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao

dưới 300 ha thì năm đầu phải trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70%

và sau 7 năm phải hồn thành trồng rừng trên diện tích được giao. CSC và CSFA có

giá trị 25 năm và có thể gia hạn thêm 25 năm nữa. Những người giữ CSC hay CSFA

đều có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ tài nguyên rừng trong khu vực thực hiện dự án

ISFP.

Trên đây là một số chính sách về giao đất, giao rừng của một số nước châu

Á. Tuỳ đặc điểm tự nhiên, KT - XH và dân tộc mà mỗi nước có chính sách riêng

phù hợp với nước mình nhằm mục đích sử dụng, bảo vệ và khai thác nguồn tài

nguyên đất và rừng một cách tốt nhất [14].

1.2.2. Những chính sách quản lý đất và rừng tại ở Việt Nam

Nhà nước ta đã ban hành nhiều Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị… về

giao đất, giao rừng nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×